Luận án tiến sĩ về sai lệch xã hội trong xã hội học của Emile Durkheim

Luận án tiến sĩ phân tích sai lệch xã hội trong xã hội học của Emile Durkheim qua hai tác phẩm Tự tử và Phân công lao động xã hội.

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2013

206
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, BỐI CẢNH HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SAI LỆCH XÃ HỘI

1.1. Tổng quan về nghiên cứu đề tài

1.2. Khái lƣợc các quan điểm và lý thuyết về sai lệch xã hội

1.3. Một số nghiên cứu xã hội học chủ yếu về sai lệch xã hội

1.4. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.5. Bối cảnh hình thành quan điểm của E.

1.5.1. Sơ lƣợc tiểu sử Emile Durkheim

1.5.2. Những điều kiện và tiền đề hình thành quan điểm

1.6. Khái niệm sai lệch xã hội

1.6.1. Vấn đề thuật ngữ “sai lệch xã hội”

1.6.2. Định nghĩa về sai lệch xã hội

1.6.3. Đặc điểm của sai lệch xã hội

1.6.4. Phân loại và các biểu hiện của sai lệch xã hội

1.6.5. Cở sở xã hội của sự sai lệch

1.6.6. Các yếu tố cấu thành sai lệch xã hội

1.7. Kết luận Chương 1

2. QUAN ĐIỂM SAI LỆCH XÃ HỘI TRONG TÁC PHẨM “PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG XÃ HỘI” VÀ “TỰ TỬ”

2.1. Tác phẩm “PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG XÃ HỘI” (1893)

2.1.1. Giới thiệu tác phẩm “Phân công lao động xã hội”

2.1.2. Phân tích quan điểm sai lệch xã hội trong tác phẩm

2.1.3. Những điều liên quan rút ra sau phân tích tác phẩm

2.2. Tác phẩm “TỰ TỬ” (1897)

2.2.1. Giới thiệu tác phẩm “Tự tử”

2.2.2. Phân tích quan điểm sai lệch xã hội trong tác phẩm

2.2.3. Những điều liên quan rút ra sau phân tích tác phẩm

2.3. Kết luận Chương 2

3. NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG QUAN ĐIỂM VÀ ĐÓNG GÓP CỦA E. DURKHEIM VỀ SAI LỆCH XÃ HỘI

3.1. Biến đổi quan điểm trong 2 tác phẩm “Phân công lao động xã hội” và “Tự tử”

3.2. So sánh đặc điểm hình thức của 2 tác phẩm

3.3. So sánh đặc điểm nội dung của 2 tác phẩm

3.4. Điểm mới trong quan điểm từ bài báo “Bình thường và bệnh lý” (1895)

3.4.1. Giới thiệu bài báo “Bình thường và bệnh lý”

3.4.2. Phân tích nội dung và quan điểm sai lệch trong bài báo

3.4.3. Những điều liên quan rút ra sau phân tích bài báo

3.5. Những đóng góp của E. Durkhiem đối với xã hội học

3.5.1. Nội dung quan điểm sai lệch xã hội của E.

3.5.2. Chức năng của sai lệch xã hội của E.

3.5.3. Một số phê phán quan điểm sai lệch xã hội của E.

3.5.3.1. Những phê phán về nội dung quan điểm
3.5.3.2. Những phê phán về phƣơng pháp luận

3.6. Kết luận Chương 3

4. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA E. DURKHEIM TRONG THỰC TIỄN XÃ HỘI VIỆT NAM

4.1. Quan điểm sai lệch xã hội của E. Durkheim và sự biến đổi các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam

4.2. Tham nhũng – một sai lệch xã hội to lớn, sự đổ vỡ của quản lý xã hội, hệ quả “phi chuẩn” của phân công lao động xã hội

4.3. Tự tử - một hành vi sai lệch: từ lý thuyết đến thực tiễn

4.4. Kết luận Chương 4

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Danh mục công trình khoa học liên quan

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu sai lệch xã hội của Emile Durkheim

Emile Durkheim, một trong những nhà sáng lập của xã hội học, đã có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu hiện tượng sai lệch xã hội. Ông đã sử dụng phương pháp khoa học để phân tích các hành vi lệch lạc trong xã hội, từ đó đưa ra những lý thuyết có giá trị. Hai tác phẩm nổi bật của ông là "Phân công lao động xã hội" và "Tự tử" đã chỉ ra mối liên hệ giữa các yếu tố xã hội và hành vi cá nhân. Durkheim cho rằng, sai lệch xã hội không chỉ là vấn đề cá nhân mà còn phản ánh những vấn đề sâu xa trong cấu trúc xã hội.

1.1. Khái niệm sai lệch xã hội trong tác phẩm của Durkheim

Khái niệm sai lệch xã hội được Durkheim định nghĩa là những hành vi không phù hợp với các quy chuẩn xã hội. Ông phân loại sai lệch xã hội thành nhiều dạng khác nhau, từ tội phạm đến các hành vi không chuẩn mực. Durkheim nhấn mạnh rằng, để hiểu rõ về sai lệch xã hội, cần phải xem xét bối cảnh xã hội mà nó phát sinh.

1.2. Tác động của sai lệch xã hội đến xã hội

Durkheim cho rằng, sai lệch xã hội có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến xã hội. Những hành vi lệch lạc có thể dẫn đến sự thay đổi trong các quy chuẩn xã hội, từ đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, nếu không được kiểm soát, sai lệch xã hội có thể gây ra sự rối loạn và bất ổn trong xã hội.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu sai lệch xã hội

Nghiên cứu về sai lệch xã hội không chỉ đơn thuần là việc phân tích các hành vi cá nhân mà còn liên quan đến việc hiểu rõ các yếu tố xã hội, văn hóa và kinh tế. Các nhà nghiên cứu thường gặp phải nhiều thách thức trong việc xác định nguyên nhân và hệ quả của sai lệch xã hội. Đặc biệt, việc phân tích các hành vi lệch lạc trong bối cảnh xã hội hiện đại đòi hỏi một cách tiếp cận đa chiều và toàn diện.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sai lệch xã hội

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sai lệch xã hội, bao gồm văn hóa, giáo dục, và điều kiện kinh tế. Durkheim đã chỉ ra rằng, sự thay đổi trong các yếu tố này có thể dẫn đến sự gia tăng hoặc giảm thiểu các hành vi lệch lạc trong xã hội.

2.2. Thách thức trong việc nghiên cứu sai lệch xã hội

Một trong những thách thức lớn nhất trong nghiên cứu sai lệch xã hội là việc thu thập dữ liệu chính xác. Nhiều hành vi lệch lạc thường không được báo cáo hoặc bị che giấu, điều này làm cho việc phân tích trở nên khó khăn. Hơn nữa, sự thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại cũng tạo ra những khó khăn trong việc áp dụng các lý thuyết cũ vào thực tiễn mới.

III. Phương pháp nghiên cứu sai lệch xã hội của Durkheim

Durkheim đã áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để phân tích sai lệch xã hội. Ông sử dụng phương pháp định lượng và định tính để thu thập dữ liệu và phân tích các hành vi lệch lạc. Phương pháp này giúp ông đưa ra những kết luận chính xác và có giá trị về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội.

3.1. Phương pháp định lượng trong nghiên cứu

Durkheim đã sử dụng các số liệu thống kê để phân tích các hành vi sai lệch xã hội. Ông cho rằng, việc sử dụng số liệu sẽ giúp xác định rõ ràng hơn các xu hướng và mẫu hành vi trong xã hội. Điều này cho phép các nhà nghiên cứu có cái nhìn tổng quan về tình hình sai lệch xã hội.

3.2. Phương pháp định tính trong nghiên cứu

Bên cạnh phương pháp định lượng, Durkheim cũng áp dụng phương pháp định tính để hiểu sâu hơn về động cơ và nguyên nhân của sai lệch xã hội. Phương pháp này giúp khám phá các khía cạnh tâm lý và xã hội của hành vi lệch lạc, từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp.

IV. Ứng dụng thực tiễn của lý thuyết sai lệch xã hội

Lý thuyết về sai lệch xã hội của Durkheim không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong việc giải quyết các vấn đề xã hội hiện nay. Các nhà nghiên cứu và chính sách có thể áp dụng những lý thuyết này để phát triển các chương trình can thiệp nhằm giảm thiểu các hành vi lệch lạc trong xã hội.

4.1. Ứng dụng trong giáo dục

Các lý thuyết của Durkheim có thể được áp dụng trong giáo dục để nâng cao nhận thức về sai lệch xã hội. Việc giáo dục cộng đồng về các hành vi lệch lạc và nguyên nhân của chúng có thể giúp giảm thiểu tình trạng này trong xã hội.

4.2. Ứng dụng trong chính sách xã hội

Chính phủ và các tổ chức xã hội có thể sử dụng lý thuyết của Durkheim để xây dựng các chính sách nhằm giảm thiểu sai lệch xã hội. Các chương trình can thiệp xã hội có thể được thiết kế dựa trên những hiểu biết từ nghiên cứu của Durkheim để giải quyết các vấn đề như tội phạm, nghiện ngập và các hành vi lệch lạc khác.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu sai lệch xã hội

Nghiên cứu về sai lệch xã hội trong tác phẩm của Emile Durkheim đã mở ra nhiều hướng đi mới cho các nhà nghiên cứu xã hội học. Những lý thuyết và phương pháp của ông vẫn còn giá trị cho đến ngày nay. Tương lai của nghiên cứu này sẽ tiếp tục phát triển, đặc biệt trong bối cảnh xã hội hiện đại với nhiều biến đổi nhanh chóng.

5.1. Tương lai của nghiên cứu sai lệch xã hội

Nghiên cứu về sai lệch xã hội sẽ tiếp tục được mở rộng với sự phát triển của công nghệ và phương pháp nghiên cứu mới. Các nhà nghiên cứu sẽ có cơ hội khám phá sâu hơn về các hành vi lệch lạc trong xã hội hiện đại.

5.2. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần có nhiều nghiên cứu hơn về sai lệch xã hội trong bối cảnh văn hóa và xã hội Việt Nam. Việc áp dụng lý thuyết của Durkheim vào thực tiễn sẽ giúp hiểu rõ hơn về các vấn đề xã hội hiện nay và tìm ra các giải pháp hiệu quả.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ sai lệch xã hội trong xã hội học của emile durkheim qua nghiên cứu hai tác phẩm tự tử và phân công lao động xã hội 001

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu, 04 Chƣơng chính, Phần kết luận và kiến nghị, Danh mục công trình khoa học và Danh mục tài liệu tham khảo. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI, BỐI CẢNH HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SAI LỆCH XÃ HỘI 1. Tổng quan nghiên cứu đề tài 1. Khái lược các quan điểm và lý thuyết về hành vi sai lệch.

Trong lịch sử khoa học tồn tại rất nhiều quan điểm, lý thuyết, cách tiếp cận với hành vi sai lệch. Việc nghiên cứu lịch sử hệ thống các quan điểm và lý thuyết sẽ giúp hiểu rõ sự hình thành, nội dung khái niệm, nguyên nhân của sai lệch và tích cực tìm kiếm những cơ chế thích hợp để ngăn ngừa và phòng chống chúng. Hành vi sai lệch cũng nhƣ tội phạm hình thành cùng với sự xuất hiện của xã hội loài ngƣời, song ở Thời kỳ nguyên thủy chƣa thể xuất hiện những tƣ tƣởng quan tâm đến những sai lệch và tội phạm, bởi một lẽ đơn giản con ngƣời đang ở thời kỳ sơ khai, mông muội, trí tuệ chƣa phát triển, nhận thức còn yếu kém, nên chƣa đủ sức nhận ra và phân biệt những hành vi lệch lạc, mặc dù, nhƣ đã nói ở trên, chúng vẫn tồn tại xung quanh con ngƣời. Nhiệm vụ chính của con ngƣời trong thời kỳ này là đấu tranh với thiên nhiên, với tự nhiên để sống, để tồn tại.

Có thể nói, sai lệch trong xã hội đƣợc xem xét và nghiên cứu cùng với sự xuất hiện của xã hội học. Tuy nhiên vấn đề này đã đƣợc các tác giả cổ điển quan tâm sớm hơn. Một số nhà nghiên cứu cho rằng xã hội học sinh ra từ trong lòng của triết học cổ điển, và trong điều khẳng định này xác định một sự thật. Các tác giả cổ điển đã bắt đầu phân tích một cách khoa học bản chất, nguồn gốc, các hình thái biểu hiện của của hiện tƣợng xã hội phức tạp này.

Thời cổ đại Hi Lạp hay 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com còn gọi Giai đoạn xã hội chiếm hữu nô lệ, lần đầu tiên trong lịch sử đã xuất hiện tƣ tƣởng đấu tranh với hành vi sai lệch và tội phạm của các nhà triết học cổ điển, mà đại diện tiêu biểu là Platon và Aristote, phản ánh qua lăng kính các quan thuyết triết học của họ. Cả hai nhà triết học đều coi tội phạm nhƣ là bệnh tật trong tâm linh của những ngƣời thực hiện hành vi đó, tội phạm nhƣ là bệnh tật của Nhà nƣớc. Và theo họ, chính Nhà nƣớc chứ không phải ai khác phải có trách nhiệm chữa trị bệnh tật này, bằng cách ban hành các đạo luật. Với những tƣ tƣởng liên quan đến tội phạm hai ông đƣợc coi là những ngƣời đặt nền tảng đầu tiên cho việc nghiên cứu những vấn đề đấu tranh với tội phạm và sai lệch trong xã hội.

Platon (427-347 trƣớc CN) – nhà triết học duy tâm khách quan, nổi tiếng với “Học thuyết về ý niệm”. Ông cho rằng, các đạo luật ban hành phải có tác động kiềm chế, khắc phục các nguyên nhân thúc đẩy các hành vi phạm tội. Platon cũng nói đến tƣ tƣởng về sự tác động tâm lý đối với đối với những ngƣời có thiên hƣớng phạm tội. Đặc biệt, Platon cho rằng trong đấu tranh với tội phạm cần phải nghĩ về tƣơng lai, chứ không phải về quá khứ.

Đây là tƣ tƣởng lớn về dự báo tội phạm mà trải qua hàng trăm năm sau mới đƣợc mọi ngƣời chú ý. Aristote (384 – 322 trƣớc CN) - nhà triết học Hi Lạp nổi tiếng, bộ óc bách khoa trong số các nhà tƣ tƣởng cổ đại Hi Lạp. Aristote cho rằng, cƣỡng chế về tâm lý có thể phòng ngừa đƣợc tội phạm, vì rằng đạo luật cần phải giúp cho tinh thần thống trị đƣợc thể xác và lý trí thống trị đƣợc bản tính. Aristote nhìn thấy một trong những nguyên nhân cơ bản của các hành vi sai lệch và tội phạm là thói quen và sở thích hƣ hỏng của con ngƣời mâu thuẫn với lý trí hoặc những ham mê, dục vọng khủng khiếp trội hơn lý trí.

Aristote từng phát biểu rằng, những điều bất hạnh là những kiểu hành vi đƣợc thực hiện không có chủ tâm độc ác và ý định xấu xa, những điều lầm lạc là những hành vi đƣợc thực hiện có ý thức, 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhƣng không phải là hậu quả của ý đồ độc ác, còn những hành vi sai trái đó là những hành vi diễn ra một cách chủ tâm và là hậu quả của sự lệch lạc. Quan điểm thần học–tôn giáo đối với hành vi lệch lạc là một phần không thể tách rời của thế giới quan tôn giáo thống trị vào Thời Trung kỷ. Chúa Trời và Ác quỷ là thể hiện của điều Thiện và điều Ác. Họ chống đối lẫn nhau và tuyệt đối không thể dung hòa với nhau.

Loại sai lệch chính yếu không thể tránh khỏi – là tà giáo, tà đạo, còn kẻ tội phạm nguy hiểm nhất – chính là kẻ tà đạo. Những ngƣời thuộc số này là những ngƣời không có niềm tin tôn giáo, không chia xẻ những quan điểm giáo điều cơ bản của Thiên chúa giáo. Tội lỗi của họ là phủ nhận thần thánh, xóa bỏ thần thánh ra khỏi tầng bậc đẳng cấp nhà thờ. Theo quan điểm này, ngƣời thiện đó là ngƣời có đạo, theo đạo, sùng đạo, tin đạo, còn ngƣời ác là kẻ vô đạo, ngoại đạo, không theo đạo.

Thời kỳ Phục Hƣng Thế kỷ XV gắn liền với tên tuổi của những nhà triết học chủ nghĩa xã hội không tƣởng, mà đại diện tiêu biểu là Tomas Moore, Robert Owen và Saint Simon. Những nhà xã hội không tƣởng, dù rất gần nhau trong quan điểm triết học, song đã có những quan điểm rất khác nhau, khi quan tâm đến các vấn đề tội phạm. Họ gắn tội phạm với những vấn đề liên quan đến đấu tranh giai cấp, kinh tế, giáo dục và môi trƣờng. Tomas Moore là ngƣời đầu tiên trong thời đại Phục Hƣng công khai công phẫn với với tình trạng nghèo khổ của quần chúng nhân dân lao động, và ông đi đến kết luận rằng để loại bỏ các nguyên nhân của tội phạm trƣớc hết cần phải cải tạo chế độ kinh tế của xã hội.

Saint Simon coi việc giáo dục đạo đức là một trong những biện pháp thủ tiêu tội phạm và các sai lệch trong xã hội. Còn Robert Owen kết luận rằng, không nên tìm kiếm các nguyên nhân của tội phạm ở chính cá nhân ngƣời phạm tội, mà nên 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tìm nguyên nhân ở chính môi trƣờng trong đó con ngƣời phạm tội đƣợc hình thành, sống và tồn tại. Sự thay đổi xã hội phong kiến thành xã hội công nghiệp, sự thay đổi thế giới quan tôn giáo bằng triết học, mỹ học, đạo đức của chủ nghĩa nhân văn và tri thức đã làm xuất hiện quan điểm duy lý về hành vi sai lệch. Các đại diện tiêu biểu Thời kỳ Kỷ nguyên Ánh sáng hay còn gọi Thời kỳ Triết học Ánh sáng của Chủ nghĩa Duy vật Pháp thế kỷ XVII - XVIII đã hình thành nên khái niệm tội phạm nhƣ là hành vi của ý chí tự do con ngƣời, mà không phải là trò chơi trong tay của “những thế lực cao cấp”, nhƣng là cá nhân hành động có ý thức và tự do trong hành vi của mình.

Với quan điểm này, tội phạm chỉ là kết quả tổng hợp ý chí độc ác của những kẻ tội phạm. Có hai nhà triết học – nhà khai sáng mà tên tuổi rất đƣợc chú ý khi dành sự quan tâm của mình đối với hành vi sai lệch và tội phạm – đó là Z. Trong các tác phẩm của mình Montesquieu đề cập đến tình hình tội phạm với tƣ cách là một hiện tƣợng cá biệt, còn Beccaria thì giành sự chú ý đặc biệt đến những vấn đề của tình hình tội phạm và hình phạt đối với tội phạm. Montesquieu là tác giả của tập luận văn triết học – pháp luật nổi tiếng “Về tinh thần của các đạo luật” đƣợc xuất bản vào giữa thế kỷ XVIII.

Một luận điểm nổi tiếng trong tác phẩm của ông đƣợc đƣa ra, là “nhà làm luật thông minh không hẳn chỉ quan tâm đến các hình phạt đối với các tội phạm, mà chủ yếu là quan tâm về việc phòng ngừa tội phạm” [77]. Một luận điểm có ý nghĩa to lớn của Montesquieu là tội phạm và hình phạt là những hiện tƣợng tƣơng đối, phản ánh các quan hệ xã hội và nội dung của chúng thƣờng xuyên đƣợc thay đổi tùy thuộc vào các thời đại và các xã hội khác nhau. Các quan điểm của C. Beccaria thông thƣờng đồng nhất với quan điểm của Montesquieu, khi ông đi đến kết luận rằng, “phòng ngừa tình hình tội phạm sẽ 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tốt hơn là trừng trị nó” [77].

Ông cho rằng biện pháp cơ bản của phòng ngừa tội phạm là hoàn thiện việc giáo dục, “giáo dục là biện pháp đúng đắn nhất, nhƣng cũng là khó khăn nhất” [77]. Với sự phát triển mạnh mẽ của các khoa học tự nhiên, quan điểm Sinh học và Nhân chủng học đã có những đóng góp của mình vào cách định nghĩa mới về sai lệch và tội phạm. Bác sĩ tâm thần và nhà tội phạm học ngƣời Italia Cesare Lombroso đã đƣa ra quan điểm về việc tồn tại một kiểu ngƣời đặc biệt, có khuynh hƣớng đến việc thực hiện tội phạm do có những dấu hiệu sinh học đƣợc xác định. Từ quan điểm của lý thuyết nhân chủng học, tội phạm đƣợc xác định nhƣ là tổng hợp của các tội lỗi đƣợc thực hiện bởi những ngƣời – những kẻ tội phạm bẩm sinh có khuynh hƣớng mang tính sinh học đối với việc thực hiện tội phạm.

Lombroso tuyên bố rằng, ngƣời ta không trở thành kẻ tội phạm, ngƣời ta sinh ra thành kẻ tội phạm. Kẻ tội phạm bẩm sinh dễ dàng phân biệt với những ngƣời khác theo dáng vẻ bên ngoài. Lombroso đã chỉ ra một loạt những dấu hiệu hình thể bên ngoài của kẻ tội phạm, những dấu hiệu, theo Lombroso, chỉ có ở “những kẻ tội phạm, những tên mọi rợ và loài khỉ đột”. Sheldon, nhà nhân chủng học ngƣời Mỹ, đã cố gắng tìm ra mối liên hệ giữa các hành vi cá nhân, trong đó có hành vi sai lệch và tội phạm, với các kiểu loại cơ thể (type of body) con ngƣời.

Ông đã chỉ ra một kiểu cơ thể cơ bản của con ngƣời - ông gọi là “mesomorph”, mà rất dễ có hành vi phạm tội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ