Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ 1. Khái niệm và đặc điểm về người bị tạm giữ 1.1 Khái niệm người bị tạm giữ Theo Từ điển luật học, địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật. Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng nhƣ giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình. Thông qua địa vị pháp lý, ta có thể phân biệt đƣợc chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí, tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ pháp lý [27, tr.
Do vậy, việc nắm vững địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật có vai trò vô cùng quan trọng đối với mọi chủ thể. Đối với chủ thể có địa vị pháp lý, sẽ giúp họ thực hiện tốt hơn các quyền và nghĩa vụ của mình. Còn đối với các chủ thể khác, việc nắm vững địa vị pháp lý của chủ thể trong quan hệ pháp luật sẽ giúp họ không xâm phạm đến quyền và nghĩa vụ của ngƣời khác. Trong tố tụng hình sự, việc nắm vững địa vị pháp lý của các chủ thể càng có vai trò quan trọng hơn hết.
Bởi vì, khi giải quyết một vụ án hình sự phải trải qua rất nhiều giai đoạn khác nhau. Và tại mỗi giai đoạn, địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tố tụng cũng không giống nhau. Việc xác định một ngƣời bị coi là tạm giữ từ khi nào rất quan trọng, khi đó xác định vị trí của ngƣời đó là ngƣời tham gia vào quá trình THTT, xác lập quyền và nghĩa vụ của ngƣời bị tạm giữ. Tuy nhiên, việc xác định thời điểm một ngƣời bị coi là ngƣời bị tạm giữ là rất khó, bởi vì, đối tƣợng của ngƣời bị tạm giữ trong đó 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bao gồm cả ngƣời chƣa bị khởi tố hình sự và cả những ngƣời đã bị khởi tố hình sự.
Tƣ cách tố tụng của ngƣời bị tạm giữ bắt đầu từ khi có quyết định tạm giữ và chấm dứt chuyển sang vai trò của một chủ thể khác khi hết thời hạn tạm giữ hoặc hết thời hạn gia hạn tạm giữ. Có thể xảy ra một số trƣờng hợp khi chấm dứt tƣ cách tố tụng của ngƣời bị tạm giữ nhƣ sau: - Bị khởi tố bị can và có quyết định tạm giam thay thế. - Bị khởi tố và có quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ, thay thế biện pháp ngăn chặn khác. - Có quyết định trả tự do cho ngƣời bị tạm giữ chuyển xử lý hành chính.
- Có quyết định trả tự do cho ngƣời bị tạm giữ, không xử lý hành chính. - Viện kiểm sát trả tự do theo khoản 1 Điều 28 Luật tổ chức VNSND. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cho đến nay chƣa có một khái niệm pháp lý nào về địa vị pháp lý của ngƣời bị tạm giữ. Từ những phân tích trên theo chúng tôi có thể hiểu: Địa vị pháp lý của ngƣời bị tạm giữ là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của một ngƣời khi có quyết định tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự.
Trong tố tụng hình sự Việt Nam, ngƣời bị tạm giữ là ngƣời tham gia tố tụng có quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến vụ án. BLTTHS năm 2003 đƣa ra khái niệm về ngƣời bị tạm giữ nhƣ sau: “Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ”. Ngƣời bị tạm giữ có thể là ngƣời chƣa bị khởi tố về hình sự, đó là những ngƣời bị bắt trong trƣờng hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, trƣờng hợp phạm tội tự thú trƣớc khi hành vi phạm tội bị phát hiện và khởi tố, và đối với họ đã có quyết định tạm giữ. Mặc dù, họ chƣa bị khởi tố về hình sự nhƣng trên thực tế họ vẫn phải chịu sự cƣỡng chế của cơ quan đã tạm giữ họ.
Họ bị hạn chế một số quyền tự do, bị buộc phải khai báo hoặc trả lời các câu hỏi của cán bộ điều tra. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngƣời bị tạm giữ cũng có thể là ngƣời đã bị khởi tố về hình sự bao gồm: bị can, bị cáo, ngƣời đã bị kết án nhƣng bỏ trốn, ngƣời đang chấp hành án bỏ trốn nhƣng bị bắt theo quyết định truy nã hoặc ngƣời phạm tội ra đầu thú và đã có quyết định tạm giữ đối với họ. Do đó, pháp luật coi ngƣời bị tạm giữ là ngƣời tham gia tố tụng hình sự, có các quyền và nghĩa vụ của ngƣời bị tạm giữ theo quy định của pháp luật. Hay nói cách khác, ngƣời bị tạm giữ là ngƣời bị nghi đã thực hiện tội phạm và đối với họ đã có quyết định tạm giữ của ngƣời có thẩm quyền.
Để trở thành ngƣời bị tạm giữ cần có đủ hai điều kiện: + Điều kiện về nội dung: khi có căn cứ cho rằng ngƣời đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; ngƣời mà bị ngƣời khác có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là ngƣời đã thực hiện tội phạm và thấy cần ngăn chặn ngay việc ngƣời đó bỏ trốn; ngƣời mà thấy có dấu vết của tội phạm ở ngƣời hoặc nơi ở nên cần ngăn chặn ngay việc ngƣời đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ; ngƣời bị phát hiện đang thực hiện tội phạm; ngƣời có lệnh truy nã hoặc ngƣời tự thú, đầu thú sau khi thực hiện tội phạm. Đối với trƣờng hợp bắt khẩn cấp, bị bắt do phạm tội quả tang, ngƣời tự thú, đầu thú, ngƣời bị tạm giữ bị nghi thực hiện tội phạm, nhƣng chƣa bị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, để kịp thời ngăn chặn tội phạm, không để ngƣời đó tiếp tục phạm tội hay phạm tội mới, để ngƣời đó không có điều kiện cản trở việc tiến hành điều tra, xác minh…của cơ quan điều tra thì BLTTHS quy định cần phải cách ly họ trong thời hạn nhất định. Đối với trƣờng hợp ngƣời bị tạm giữ bị bắt theo lệnh truy nã, tuy ngƣời bị tạm giữ đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhƣng việc truy cứu trách nhiệm hình sự đó không phải do ngƣời có thẩm quyền quyết định tạm giữ thực hiện.
Vì thế cho nên đối với ngƣời đó chỉ đƣợc (và cũng chỉ cần) 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tạm giữ trong một thời hạn ngắn để chuyển giao cho ngƣời có trách nhiệm truy cứu trách nhiệm hình sự xử lý vụ án theo quy định của pháp luật. + Điều kiện về hình thức: đối với ngƣời đã có quyết định tạm giữ của ngƣời có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS. Theo quy định của Điều 86 và Điều 81 BLTTHS năm 2003 thì Thủ trƣởng, Phó Thủ trƣởng Cơ quan điều tra các cấp, ngƣời chỉ huy Quân đội độc lập cấp trung đoàn và tƣơng đƣơng, ngƣời chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới, ngƣời chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng hoặc Chỉ huy trƣởng vùng Cảnh sát biển là những ngƣời có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ [13, tr. Từ những phân tích ở trên, theo quan điểm của tôi có thể đƣa ra khái niệm khoa học về ngƣời bị tạm giữ nhƣ sau: Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền tố tụng; có quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật.2 Đặc điểm về người bị tạm giữ Thứ nhất, là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp: Là khi ngƣời đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hay sau khi ngƣời đó thực hiện tội phạm rồi bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm.
Ngƣời bị tạm giữ trong trƣờng hợp này là ngƣời chƣa bị khởi tố về hình sự. Việc bắt ngƣời trong trƣờng hợp khẩn cấp nhằm ngăn chặn kịp thời tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật, tiêu hủy chứng cứ, cản trở hoạt động điều tra của ngƣời thực hiện tội phạm và đƣợc áp dụng trong những trƣờng hợp cấp bách. Từ đó, tạo điều kiện cho cơ quan điều tra có thẩm quyền có đủ thời gian thu thập chứng cứ, tài liệu, bƣớc đầu xác định tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân của ngƣời 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bị tạm giữ. Đồng thời để đảm bảo các quyền tự do cá nhân của con ngƣời, Điều 81 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định một cách rõ ràng, cụ thể các trƣờng hợp bắt khẩn cấp nhƣ sau: Trƣờng hợp khẩn cấp thứ nhất: Khi có căn cứ để cho rằng ngƣời đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Đây là trƣờng hợp cơ quan có thẩm quyền đã có quá trình theo dõi hoặc kiểm tra xác minh các nguồn tin biết ngƣời đó (một ngƣời hoặc nhiều ngƣời) đang bí mật tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phƣơng tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải bắt ngay trƣớc khi tội phạm đƣợc thực hiện. Việc bắt ngƣời này cần phải đảm bảo hai điều kiện: Một là, có căn cứ khẳng định một ngƣời (hoặc nhiều ngƣời) đang chuẩn bị thực hiện tội phạm. Hai là, tội phạm đang chuẩn bị đƣợc thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Chuẩn bị thực hiện tội phạm, còn một khoảng thời gian nhất định với việc thực hiện tội phạm, nên không phải mọi hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm đều cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 17 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định chỉ ngƣời nào chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mới phải chịu trách nhiệm hình sự).