Đặt vấn đề Nấm bào ngư tím là một trong những loại thức ăn vừa giàu chất dinh dưỡng, vừa có khả năng ngừa bệnh tật hiệu quả. Nấm bào ngư tím được xem như một loại “rau sạch” hay còn có thể gọi là “thịt sạch” mà hiện nay các món ăn chế biến từ nguyên liệu nấm bào ngư tím đã trở nên quen thuộc trong các bữa ăn hằng ngày, không chỉ dành cho những người chuyên ăn chay, trong các chùa chiền mà còn được sử dụng khá phổ biến ở hầu hết các quán ẩm thực phục vụ du khách. Nấm bào ngư tím là một loại thực phẩm rất có giá trị dinh dưỡng, có hàm lượng protein (đạm thực vật) rất cao chỉ đứng sau thịt và cá, giàu chất khoáng và các axit amin không thay thế, các vitamin A, B, C, D, E,…trong đó nhiều nhất là Vitamin nhóm B (B1, B2, B3…), các chất khoáng như: K+, Mg+, Ca2+, Fe2+… không có độc tố. Ngoài giá trị dinh dưỡng, nấm bào ngư tím còn có nhiều đặc tính của biệt dược, có khả năng phòng chữa bệnh như chống bệnh béo phì, chữa bệnh đường ruột, và có khả năng chống bệnh ung thư, giúp hạ huyết áp, chữa bệnh đường ruột.
[3, 4] Ở nước ta, nấm ăn đã được biết từ lâu, tuy nhiên chỉ hơn 15 năm trở lại đây trồng nấm được xem như một nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần giải quyết công ăn việc làm của người nông dân khi nhàn rỗi, vừa tăng thu nhập lại vừa giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, phế thải sau trồng nấm có thể được tái sử dụng làm phân bón cho cây trồng từ đó nó góp phần xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững. Quảng Nam với khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho trồng nấm, là tỉnh có nền nông nghiệp rất phát triển, là vựa ngô tương đối lớn của nước ta ( hội an, quế sơn…), sau mỗi vụ thu hoạch ngô lượng cơ chất như lõi ngô, thân cây ngô dư thừa khá lớn, người dân thường sử dụng làm chất đốt, làm thức ăn gia súc, làm tàn dư che phủ đất, xử lí không đúng cách gây ô nhiễm môi trường. Trong khi thân cây ngô rất giàu thành phần dinh dưỡng, phù hợp có thể dùng làm giá thể tốt nhất để có thể trồng một số loại nấm,tuy nhiên người dân vẫn chưa sử dụng được 1 tối đa nguồn phế phẩm thân cây ngô từ nông nghiệp, rất lãng phí. Vì vậy việc trồng thử nghiệm nấm bào ngư trên cơ chất thân ngô là rất cần thiết góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường đồng thời mở ra một hướng đi mới cho nghề trồng nấm nhằm giải quyết việc làm cho người dân và giúp mang lại lợi ích kinh tế cao.
Vì những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: “Bước đầu nghiên cứu quy trình trồng nấm bào ngư tím (Pleurotus ostreatus) trên phế phẩm thân cây ngô” 1. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích: - Sử dụng phế phẩm thân cây ngô để nuôi trồng nấm bào ngư tím từ đó giải quyết một phần vấn đề ô nhiễm môi trường do các phế phẩm này gây ra. - Xác định tỉ lệ phối trộn thân cây ngô thích hợp để trồng nấm bào ngư mang lại năng suất cao nhất, đáp ứng nhu cầu của người sản.
- Đánh giá về mức độ ảnh hưởng của việc bổ sung các chất dinh dưỡng: mùn cưa, phân gà, đến năng suất của nấm bào ngư tím. Yêu cầu: - Khảo sát khả năng và tốc độ sinh trưởng của cây nấm bào ngư tím. - Khảo sát độ bền của cá thể nấm sau thu hoạch. - Khảo sát hình thái và chất lượng của cá thể nấm.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu - Nấm bào ngư tím (Pleurotus ostreatus); - Tỉ lệ cơ chất thân cây ngô thích hợp để trồng nấm bào ngư. Phạm vi nghiên cứu - Phế phẩm thân cây ngô sau thu hoạch tại xã Tam Đại, huyện Phú Ninh - Đề tài được thực hiện trong vụ đông xuân 2016 tại trại nấm xã Bình Tú, huyện Thăng bình, tỉnh Quảng nam - Thời gian nghiên cứu: Từ 01/11/2016 – 01/04/2017 2 1. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu, tổng hợp tài liệu (sách, báo, internet…) - Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm - Phương pháp xử lý số liệu.
3 PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu 1. Thực trạng sử dụng phế phẩm nông nghiêp ở Việt Nam 1. Phế phẩm nông nghiệp và các vấn đề phát thải sau thu hoạch Hiện nay, phế phẩm nông nghiệp (rơm rạ, bã mía, thân cây ngô,…) thường được sử dụng làm thức ăn gia súc, trồng nấm và tận dụng làm phân bón hữu cơ. Làm thức ăn gia súc: Các phế phẩm nông nghiệp như rơm rạ, thân cây ngô, bã mía, ngọn sắn,.
thường được dùng làm thức ăn cho gia súc, đặc biệt được ủ với ure làm nguyên liệu giày dinh dưỡng, dự trữ cho mùa đông khi thiếu thức ăn xanh. Tận dụng phế phụ phẩm làm phân bón hữu cơ: Các phế phẩm nông nghiệp như thân cây ngô, thân cây lạc, rơm rạ được phối trộn lẫn với một số nguyên liệu khác như phân chuồng, đạm, phế phẩm vi sinh vật. Sản xuất điện: Sử dụng phế phẩm nông nghiệp đã và đang được nghiên cứu. Các phế phẩm nông nghiệp được nghiên cứu là vỏ trấu, thân cây ngô, bã mía.
Năm 2006, Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch đã hoàn thiện công nghệ sản xuất từ các loại phế phẩm nông nghiệp. Viện đã xây dựng được 7 lò sấy và phát điện ở tỉnh Long An, Kiên Giang, TP Hồ Chí Minh, Gia lai,…[10] Theo nghiên cứu của Ấn độ việc đốt rơm rạ hay tàn dư cây trồng trong vùng đồng bằng sông Hằng thải ra khoản 0,14 triệu tấn khí metan (CH4), số lượng này tương đương với 20% của tổng lượng khí metan thoát ra từ cánh đồng lúa nước trong cùng một vùng. Khí CO2 sinh ra do việc dùng dầu disel để chạy máy nông nghiệp và do quá trình đốt cháy tàn dư cây trồng. Cây ngô và phụ phẩm từ thân cây ngô Theo số liệu thông kê của Tổng cục thông kê Việt Nam, diện tích ngô trồng từ năm 2000 đến năm 2008 được thể hiện ở bảng 1.1: Diện thích gieo trồng ngô từ năm 2000 đến năm 2008 [2] Năm Diện tích gieo trồng ( nghìn ha) Cả Đồng Trung Bắc trung Tây Đông Đồng nước bằng du và bộ và nguyên nam bộ bằng song miền duyên hải song hồng núi phía miền cửu bắc trung long 2000 730,2 97,8 282,5 144,1 86,6 100,0 19,0 2004 99,1 89,8 384,4 211,4 209,2 99,8 32,5 2005 1052,6 88,3 371,5 225,6 236,6 95,7 43,9 2006 1033,1 85,3 369,6 224,4 227,6 92,5 33,7 2007 1096,1 91,0 426,3 213,9 235,6 92,6 36,7 2008 1125,9 98,4 440,5 219,7 236,9 89,5 40,9 Nếu ước tính lượng phụ phẩm của cây ngô để lại trên đồng ruộng vào khoảng 50- 60 triệu tấn/ha thì tổng lượng phụ phẩm của cây ngô hằng năm sẽ là 50- 60 triệu tấn thân lá cây ngô.
Đây là một lượng phụ phẩm rất lớn là nguồn nguyên liệu dồi dào cho nuôi trồng nấm. Phụ phẩm từ thân cây ngô bao gồm: Thân , lá, bẹ, lõi ngô.[14] - Thân và lá cây ngô: Vào mùa thu hoạch người dân thường bẻ trái ngô riêng, còn thân và lá hầu hết được chặt và phơi tại ruộng (khoảng 90%) cho đến khi khô. Tùy theo từng vùng mà thân cây ngô có thể bị thải tại ruộng hặc được vận chuyển về nhà sử dụng cho các mục đích khác nhau như làm thức ăn gia súc, làm chất đốt… - Lõi và bẹ ngô: Trái ngô sau khi thu hoạch về lá bẹ được bóc ra. Khi còn tươi bẹ được dùng làm một phần thức ăn cho gia súc còn phần lớn được phơi khô để đun nấu.
Trái khô sau khi tách hạt còn lại lõi ngô, lõi ngô dùng để phơi khô đun nấu hoặc vứt bỏ. Khái quát chung về nấm bào ngƣ tím 1. Giới thiệu về nấm bào ngư tím [12] - Tên khoa học: Oyter Mushroom Tên khác: Nấm sò tím, nấm tai lệch, nấm dai nấm tai lệch, nấm xoè, nấm hương chân ngắn - Bào ngư là tên chung để chỉ các loại nấm ăn thuộc: Giới: Fungi Ngành: Basidiomycota Lớp: Agaricomycetes Bộ: Agaricales Họ: Pleurotaceae Chi: Pleurotus Loài: P. ostreatus - Có đến 50 loài nấm bào ngư, nhưng cho đến nay chỉ có 10 loại nấm bào ngư được trồng phổ biến.
Ở Việt Nam, chủ yếu trồng các loại nấm bào ngư ưa nhiệt như: nấm bào ngư xám, nấm sò trắng. Vì vậy, nước ta có thể trồng nấm sò quanh năm nhưng thuận lợi nhất từ tháng 9 đến tháng 4 (dương lịch) năm sau. Đặc điểm hình thái và chu kì sống của nấm bào ngư tím 1. Đặc điểm hình thái [18, 42] - Nấm bào ngư tím có đặc điểm là tai nấm dạng phễu lệch, mọc thành cụm tập trung, mỗi cánh nấm bao gồm 3 phần: mũ màu tím, phiến và cuống.
Hệ sợ nấm Hình 1.1: Đặc điểm hình thái của nấm bào ngƣ tím 6 - Tai nấm dạng phễu lệch, phiến mang bào tử kéo dài xuống đến chân cuống nấm gần gốc có lớp lông nhỏ mịn. Tai nấm bào ngư còn non có màu sắc sậm hoặc tối, nhưng khi trưởng thành màu trở nên sáng hơn. - Khi trưởng thành, nấm bào ngư tím sẽ phát tán bào tử, gặp điều kiện môi trường thích hợp bào tử sẽ nảy mầm hình thành hệ sợi sơ cấp. - Hệ sợi sơ cấp phát triển đầy đủ tạo nên hệ sợi thứ cấp, sau đó xảy ra sự kết hợp của hệ sợi nấm thứ cấp và hình thành quả thể nấm hoàn chỉnh.
Chu kì sinh trưởng và phát triển của nấm bào ngư [18, 43] Khi nấm sò trưởng thành, trên phiến nấm có rất nhiều bào tử, bào tử sẽ phát tán khắp nơi gặp điều kiện thời tiết thuận lợi, độ ẩm thích hợp bào tử sẽ phát triển và nảy mầm thành sợi sơ cấp, sợi nấm thứ cấp trở thành cây nấm trưởng thành. Vòng đời nấm sò phát triển từ khi bào tử tới khi thành cây nấm trưởng thành khoảng 15 ngày.2: Chu trình phát triển của nấm bào ngƣ tím 1. Bào tử vô tính 4. Bào tử hữu tính 3.
Sợi đơn bào giao phối 6. Quả thể nấm 1. Chu kì sống của nấm bào ngư tím Nấm bào ngư tím phát triển qua từng giai đoạn: Khi nấm bào ngư tím kết nụ tạo thành những cụm đinh ghim (a) trên bề mặt bịch cơ chất sau 12h nấm phát triển thành dạng dùi trống (b) sau 4-6 h nấm sò sẽ bắt đầu hình thành tán nấm (c) và trong khoảng 4-6h tiếp theo nấm sẽ trưởng thành mũ nấm có đường kính từ 3-5 cm (d) và bắt đầu phát tán bào tử e. Dạng san hô b.
Dạng dùi trống c.