CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN BÓN 1.1 Lịch sử phát triển phân bón và xu thế cân đối dinh dưỡng trong nông nghiệp [21] Trên thế giới, lịch sử nghiên cứu và sử dụng phân bón đã có từ rất lâu đời và được bắt đầu từ phân hữu cơ. Tại Trung Quốc, 1.500 năm trước công nguyên, người ta đã sử dụng cỏ, thân lá cây đậu và sau đó là phân chuồng để bón ruộng. Đến tận thế kỷ 18 loài người vẫn cho rằng cây hút thức ăn từ mùn trong đất vì vậy chỉ cần bón phân hữu cơ cho cây. Ở Châu Âu, ngay đầu thế kỷ thứ nhất đã có nhiều nghiên cứu về phân bón.
Một số học giả đã đưa ra các thuyết khác nhau về “nguồn thức ăn”cho cây, trong đó có thạch cao, muối, nước, đất, mùn, không khí,… Đến năm 1840, nhà bác học người Đức - Liebig đã xuất bản cuốn sách nổi tiếng “Hóa học áp dụng trong ngành canh tác và sinh lý”, được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Học thuyết của Liebig bác bỏ thuyết mùn mà khẳng định vai trò của muối khoáng trong dinh dưỡng thực vật, đồng thời đề ra lý thuyết cần thiết phải bón trả lại tất cả những chất khoáng mà cây trồng đã lấy đi mới đảm bảo cho thu hoạch mùa màng. Việc khẳng định phân hữu cơ không cung cấp trực tiếp dinh dưỡng cho cây mà phải gián tiếp qua các chất khoáng - sản phẩm của quá trình phân giải chất hữu cơ đã tạo ra tiền đề vững chắc cho các công trình nghiên cứu sau này, làm bùng nổ nền công nghiệp phân bón hóa học trên toàn thế giới. Theo FAO (Tổ chức lương thực, thực phẩm thế giới), nhu cầu sử dụng phân hóa học tăng lên với tốc độ vũ bão.
Năm 1905, cả thế giới mới sử dụng 1,4 triệu tấn NPK thì đến các năm 1990 lượng phân hóa học đã sử dụng tới 138 triệu tấn, năm 2000 là 144 triệu tấn, năm 2005 là 150 triệu tấn và hiện nay nhu cầu sử dụng phân hóa học của thế giới lên tới 200 triệu tấn. 6 Nghiên cứu 1 số quy trình sản xuất phân bón SV: Phạm Thị Huyền Trang Phải thừa nhận rằng nhu cầu sử dụng phân hóa học tăng nhanh là xu thế tất yếu để bảo đảm lương thực thực phẩm cho sự bùng nổ dân số trên hành tinh. Tuy nhiên, việc lạm dụng phân hóa học đã bộc lộ mặt trái của nó là gây ô nhiễm môi trường, làm suy thoái độ phì nhiêu đất, gia tăng tồn dư chất độc lên nông sản thực phẩm. Thực trạng này đã xảy ra phổ biến ở phạm vi toàn cầu và trở thành nghiêm trọng ở các nước đang phát triển.
Trước các mục tiêu vừa phải bảo đảm an ninh lương thực, vừa phải duy trì và cải thiện độ phì nhiêu quỹ đất canh tác có hạn, đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng nông sản, tăng hiệu quả kinh tế và an toàn bền vững về môi trường, nền nông nghiệp thế giới đã mở ra theo hướng kết hợp nông nghiệp thâm canh cao với nông nghiệp hữu cơ mà hạt nhân là ứng dụng công nghệ sinh học. Vì vậy, ngay sau thành công của “cuộc cách mạng về công nghiệp phân hóa học” thì cuộc “cách mạng về công nghệ sinh học” đang phát triển với gia tốc lớn trên quy mô toàn cầu. Ngành công nghệ sinh học là tập hợp của nhiều ngành khoa học và công nghệ nhằm tạo ra các quy trình công nghệ mới trong các lĩnh vực y tế, công nghiệp và nông nghiệp ở quy mô lớn phục vụ cho đời sống, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Trong đó, ứng dụng công nghệ vi sinh để sản xuất phân bón đã tạo ra một hướng đi mới trong chiến lược quản lý dinh dưỡng cây trồng tổng hợp.1 Phân hóa học [10] - Là những hợp chất khoáng, chủ yếu dưới dạng muối, chứa các nguyên tố dinh dưỡng của thực vật, bón vào đất cho cây trồng, sử dụng đồng thời các loại phân khác để nâng cao độ phì của đất.
Phân hóa học gồm: Phân đạm, phân lân, kali, phân vi lượng và phân phức hợp. 7 Nghiên cứu 1 số quy trình sản xuất phân bón SV: Phạm Thị Huyền Trang - Phân hóa học có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng của nông sản. Việc sử dụng phân hóa học trong nền nông nghiệp hiện nay là rất cần thiết. Tuy nhiên, việc sử dụng phân hóa học cần đúng liều lượng tránh lãng phí và gây ô nhiễm môi trường.2 Phân hữu cơ [10] - Là thức ăn do con người bổ sung cho cây trồng, chứa nhiều chất dinh dưỡng cho cây: đạm (N), lân (L), kali (K) và các nguyên tố vi lượng.
- Được sản xuất từ các vật liệu hữu cơ như các dư thừa thực vật, rơm rạ, phân chuồng, phân rác, phân xanh…là các loại chất hữu cơ khi vùi vào đất sau khi phân giải có khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây và cải tạo đất. - Có 2 loại là phân hữu cơ sinh học và phân hữu cơ vi sinh. - Công dụng của phân hữu cơ là cung cấp chất dinh dưỡng cho đất để nuôi cây, chủ yếu là đạm, lân, lưu huỳnh cùng một số chất vi lượng. - Cải tạo tính chất đất, làm cho đất có kết cấu và thành phần cơ giới tốt hơn, khả năng giữ nước của đất, giảm hiện tượng xói mòn đất.
- Gia tăng hoạt động của các vi sinh vật đất, nhờ có tác động đến sự phát triển của cây trồng.1 Phân hữu cơ sinh học (compost) [23] - Phân hữu cơ sinh học là sản phẩm phân bón được tạo thành thông qua quá trình lên men vi sinh vật. Các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc khác nhau (phế thải nông - lâm nghiệp, phế thải chăn nuôi, phế thải chế biến, phế thải đô thị, phế thải sinh hoạt…) trong đó các hợp chất hữu cơ phức tạp dưới hoạt động vi sinh vật hoặc các hợp chất sinh học được chuyển hóa thành mùn. - Ưu điểm của phân compost là: + Giảm thiểu cho nguồn nước, đất và không khí, các chất hữu cơ biến đổi thành các chất vô cơ. 8 Nghiên cứu 1 số quy trình sản xuất phân bón SV: Phạm Thị Huyền Trang + Diệt các mầm bệnh nguy hiểm do trong quá trình phân hủy sinh học, nhiệt độ trong hầm ủ gia tăng, có khi lên đến 60 0C làm tiêu hủy các trứng, ấu trùng, vi khuẩn trong chất thải.
Phân sau khi ủ có thể được sử dụng an toàn hơn phân tươi. + Phân sau khi ủ trở thành 1 chất mùn hữu ích cho nông nghiệp như tăng độ phì nhiêu của đất giúp cây trồng hấp thu. + Tăng độ ẩm cần thiết cho đất trồng, giảm thiểu sự rửa trôi các khoáng chất do các thành phần vô cơ không hòa tan trong phân ủ như NO. + Giảm thể tích do quá trình ủ phân, sự mất hơi nước gia tăng do sự gia tăng nhiệt, điều này khiến mẻ phân khô và ráo nước hơn.
Phân có thể tích nhỏ hơn sẽ giúp thuận lợi trong việc vận chuyển, thu gom. - Bên cạnh những ưu điểm thì phân compost cũng có những khuyết điểm như là: + Mặc dù phần lớn vi khuẩn bị tiêu diệt nhưng không phải hoàn toàn, đặc biệt khi sự ủ compost không đều về thời gian, phương pháp, lượng ủ…Một số mầm bệnh vẫn tồn tại có thể gây nguy hiểm cho người sử dụng. + Thành phần phân ủ thường không ổn định về chất lượng do thành phần nguyên liệu đưa vào không đồng đều. + Phải tốn thêm công ủ và diện tích.
+ Việc ủ phân thường ở dạng thủ công là lộ thiên tạo sự phản cảm về mỹ quan và phát tán mùi hôi. Trong đó các loại phân hóa học như urê, NKP,… gọn nhẹ, tương đối rẻ tiền, chất lượng đồng đều và sạch hơn, gây tâm lý thuận tiện cho việc sử dụng hơn phân ủ compost.2 Phân hữu cơ vi sinh [10] 9 Nghiên cứu 1 số quy trình sản xuất phân bón SV: Phạm Thị Huyền Trang - Phân hữu cơ vi sinh được sản xuất từ mùn có thành phần hữu cơ cao trong rác thải đô thị. Kết hợp ứng dụng công nghệ sinh học tiên tiến với công nghệ phân bón. Xây dựng nên quy trình công nghệ xử lý rác và sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh.
- Sử dụng phân bón hữu cơ mang lại hiệu quả kinh tế cao, tiết kiệm hiệu quả, bảo vệ môi trường sinh thái: sản phẩm bổ sung các hệ vi sinh vật có ích cho đất, kháng được nhiều bệnh trong đất: vàng lá, thối rễ,…, giảm lượng phân bón vô cơ, giảm thuốc bảo vệ thực vật trong quy trình canh tác.1: Phân bón hữu cơ vi sinh Hình 1.2: Gói phân hữu cơ vi sinh 10 Nghiên cứu 1 số quy trình sản xuất phân bón SV: Phạm Thị Huyền Trang 1.3 Hiện trạng sử dụng phân bón tại Việt Nam [26], [27] - Trong tiến trình của sản xuất nông nghiệp năng suất cao một yêu cầu không thể thiếu để cây trồng tạo sinh khối lớn là phân bón. Theo nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học, thì con đường bảo đảm an ninh lương thực ở những nước hạn chế về diện tích canh tác là yếu tố thâm canh. Xu thế này hiện vẫn thích hợp với các nước đang phát triển. - Theo kết quả nghiên cứu của Viện thổ nhưỡng nông hóa (1998), thì ở Việt Nam trung bình bón 1kg N + P2O5 + K2O làm tăng 7,5 - 8,5kg lương thực quy thóc.
Mức này thấp hơn so với trung bình của châu Á (10kg) nhưng cao hơn châu Phi và châu Mỹ La tinh (5 - 7kg). Như vậy, theo tỷ lệ này, sử dụng phân bón làm tăng 8,3 - 9,3 triệu tấn lương thực, chiếm 27 - 30,4% tổng sản lượng lương thực quy thóc của cả nước (1997). - Hiện nay, mức bón của Việt Nam đã đạt xấp xỉ mức bón trung bình của thế giới, song so với một số nước Châu Á thì vẫn còn thấp hơn nhiều: Hàn Quốc 467 kg/ha, Nhật Bản 403 kg/ha, Trung Quốc 390 kg/ha. - Ở nước ta, giai đoạn từ 1976 đến nay lượng phân hóa học được sử dụng tăng lên nhanh chóng.
Năm 1990 lượng phân bón dùng cho 1ha gieo trồng tăng so với năm 1980 là 418,6%, năm 1995 tăng 557% so với năm 1980. Đến năm 1997 lượng phân bón N, P, K cho 1 ha gieo trồng đã đạt 126,1 kg/năm. - Trong vài năm qua tiêu thụ phân bón của Việt Nam gia tăng mạnh. Ngành sản xuất phân bón trong nước vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nhưng cũng dần thoát khỏi sự bảo hộ của nhà nước tự tạo cho mình vị trí nhất định trên thị trường.