Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu có tiêu đề "Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây (cũ)", thuộc chuyên ngành Quản lý và Quy hoạch môi trường (Địa lý môi trường). Luận án được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn về suy thoái môi trường tại các khu vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp nông thôn trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, hoạt động sản xuất tại các làng nghề nông thôn chủ yếu diễn ra tự phát theo quy mô hộ gia đình, sử dụng công nghệ thủ công lạc hậu, mặt bằng chật hẹp xen lẫn khu dân cư, hệ thống cấp thoát nước và hạ tầng giao thông xuống cấp. Hiệu suất sử dụng nguyên nhiên liệu tại các làng nghề chỉ đạt mức trung bình khoảng 60% (ngành chế biến nông sản thực phẩm đạt khoảng 50%, tái chế chất thải đạt 60%, dệt nhuộm may mặc đạt 80%, thủ công mỹ nghệ xuất khẩu đạt 85%). Ý thức bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất và cộng đồng còn hạn chế. Đến cuối năm 2008, toàn quốc có trên 1.450 làng nghề, trong đó khu vực miền Bắc tập trung gần 1.000 làng nghề (chiếm xấp xỉ 70% cả nước). Tỉnh Hà Tây (cũ) có 282 làng nghề với 120 làng nghề đã được công nhận chính thức, đóng góp 60,48% tổng giá trị sản lượng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp toàn tỉnh nhưng đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng về môi trường khí, nước và đất.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Các quy hoạch bảo vệ môi trường (QHBVMT) trước đây thường chỉ được lồng ghép một cách hình thức, định hướng chung trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh hoặc vùng mà chưa đi sâu vào quy mô chi tiết đến từng cơ sở, hộ gia đình trong làng nghề. Nhiều chương trình khảo sát trước đó chưa xác định đầy đủ các nguồn ô nhiễm từ sản xuất tiểu thủ công nghiệp; tải lượng ô nhiễm, chỉ số chất lượng nước, khối lượng chất thải rắn chưa được lượng hóa và dự báo cụ thể; các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm đa phần mới dừng lại ở tính toán lý thuyết và thiếu các luận cứ kinh tế kỹ thuật thuyết phục.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là xác lập căn cứ khoa học cho công tác QHBVMT và đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường tại một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây.
Để hoàn thành mục tiêu trên, luận án giải quyết 4 nhiệm vụ cụ thể:
- Xác lập cơ sở lý luận về quy hoạch bảo vệ môi trường làng nghề;
- Đánh giá hiện trạng môi trường và ảnh hưởng từ hoạt động sản xuất của các làng nghề đến môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội;
- Dự báo xu thế phát triển kinh tế - xã hội và diễn biến môi trường khu vực nghiên cứu đến năm 2010 và năm 2020;
- Đề xuất phương án quy hoạch bảo vệ môi trường và hệ thống các giải pháp thực hiện.
Các luận điểm bảo vệ
- Luận điểm 1: Hoạt động sản xuất phân tán, công nghệ thủ công lạc hậu, quản lý thiếu chặt chẽ, không xử lý chất thải trong suốt quá trình phát triển sản xuất là những nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng ở làng nghề tái chế kim loại Phùng Xá và làng nghề sơn mài Duyên Thái.
- Luận điểm 2: QHBVMT làng nghề với hai loại hình: quy hoạch điểm công nghiệp (tập trung) và quy hoạch phân tán được nghiên cứu điển hình ở Phùng Xá và Duyên Thái, là công cụ hữu hiệu góp phần đẩy mạnh sản xuất và bảo vệ môi trường làng nghề.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo xu thế phát triển làng nghề và ảnh hưởng môi trường đến năm 2020; cơ sở khoa học về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường trong công tác quy hoạch không gian làng nghề.
- Phạm vi không gian: Tập trung vào lãnh thổ làng nghề gia công kim loại Phùng Xá (huyện Thạch Thất) và làng nghề sơn mài Duyên Thái (huyện Thường Tín), tỉnh Hà Tây (cũ). Đây là 2 làng nghề đại diện cho 2 nhóm ngành đặc trưng (tái chế kim loại/gia công cơ khí và thủ công mỹ nghệ), thuộc nhóm 20 làng nghề có doanh thu cao nhất tỉnh Hà Tây trong giai đoạn 2005 - 2007.
- Phạm vi thời gian: Quá trình nghiên cứu và thực địa được thực hiện từ tháng 10/2005 đến tháng 2/2009; sử dụng chuỗi số liệu hồi cứu 10 năm (1997 - 2006), chuỗi dữ liệu thực địa 3 năm (2006 - 2008) và dự báo môi trường đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến làng nghề, môi trường làng nghề và phương pháp luận quy hoạch môi trường.
Các nghiên cứu quốc tế về làng nghề và quy hoạch môi trường
- Lịch sử và kinh tế làng nghề: Các nghiên cứu sơ khởi từ đầu thế kỷ XX như N. Noace với "Mô hình sản xuất làng xã" và "Xã hội hóa nghề thủ công" (1828), Bành Tử với "Nhà máy làng xã" (1922), Marshall Alfred với "Vai trò của kinh tế nông thôn" (1940), Jople với "Kinh tế học truyền thống" (1954), R. Dorfman với "Kinh tế học môi trường" (1956). Tổ chức Hội đồng Thủ công Thế giới (World Crafts Council International - WCCI) thành lập năm 1964 bởi Aileen Osborn Vanderbilt Webb tại Đại học Columbia (New York); hội nghị lần 2 tại Nhật Bản (1972) với tham luận của Srimati Kamaladevi và Margaret Patch đã nhấn mạnh việc sắp xếp bộ máy quản lý đối với các nước có nhiều nghề thủ công. Năm 1979, Thống đốc Hiramatsu (quận Oita, Nhật Bản) khởi xướng phong trào "Một làng một sản phẩm" (OVOP). Thập niên 1980 có Fisher với "Kinh tế tài nguyên môi trường" (1981), "Kinh tế làng nghề truyền thống" (1984) và D. Foune với "Tổ chức đơn vị không gian làng xã" (1984).
- Kinh nghiệm quản lý làng nghề tại châu Á: Trung Quốc áp dụng phương châm "ly điền bất ly hương, nhập xưởng bất nhập thành" phát triển xí nghiệp hương trấn; Nhật Bản ban hành "Luật nghề truyền thống" (quản lý 687 nghề, tiêu biểu như dệt vải Bashofu từ thế kỷ XIII tại Okinawa); Ấn Độ triển khai chương trình tín dụng nông thôn tổng hợp và đầu tư hạ tầng; Thái Lan thực hiện chính sách "Một triệu Bạt cho một làng", OTOP và chương trình "Làm sạch môi trường làng nghề"; Lào tổ chức quản lý thông qua Bộ Công nghiệp và Tiểu thủ công nghiệp.
- Lý luận quy hoạch môi trường (Environmental Planning): Khái niệm phát triển từ thập niên 1970 với Susan Buckingham - Hatfield và Bob Evans (1962), Anh Edington với "Sinh thái học và QHMT" (1977), Baldwin (1984), Ortolano (1984), Westman với "Sinh thái, Đánh giá tác động môi trường và QHMT" (1985), Chen Jingsheng với địa học môi trường tại Trung Quốc (1986), Anne R. Beer (1990), Walter E. Meier (1990), Báo cáo môi trường số 3 của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 1991), Hãng Bảo vệ Môi trường Mỹ (USEPA, 1994), Alan Gilpin (1996), Toner (1996), Malone - Lee Lai Choo (1997).
Các nghiên cứu trong nước và khoảng trống luận án giải quyết
Tại Việt Nam, các nghiên cứu lịch sử và xã hội học làng xã của Pierre Gourou (đầu thế kỷ XX thống kê 108 làng nghề đồng bằng Bắc Bộ, 450.000 lao động), các ghi chép của Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII về các làng dệt lụa Hà Tây (Ỷ La, Trang Thụy, Đại Phùng, La Khê, Vạn Phúc). Về lý luận quy hoạch môi trường có Nguyễn Thế Thôn (1998), Nguyễn Cao Huần (2002, 2004-2005), Nguyễn Ngọc Sinh (1997, 1998), Trịnh Thị Thanh (1999-2000), JICA (1999), Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải, Phạm Ngọc Đăng, Nguyễn Quỳnh Hương, Trần Đông Phong. Về môi trường làng nghề Hà Tây và kỹ thuật xử lý chất thải có các công trình của Nguyễn Việt Anh, Trần Đức Hạ, Trần Hiếu Nhuệ, Viện Khoa học Công nghệ Môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội), Viện Khoa học Kỹ thuật Bảo hộ Lao động.
Khoảng trống luận án giải quyết: Luận án chuyển từ cách tiếp cận quy hoạch môi trường vĩ mô sang quy hoạch môi trường vi mô gắn với không gian làng nghề; kết hợp tiếp cận địa lý định lượng, kỹ thuật GIS với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) kinh tế môi trường; đề xuất mô hình đồng bộ giữa điểm công nghiệp tập trung và đơn vị ở bền vững tại hộ gia đình, kèm quy trình mẫu cho các làng nghề tỉnh Hà Tây.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Khái niệm làng nghề: Vận dụng tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (WB) (nghề phi nông nghiệp chiếm >= 30% lao động, đóng góp > 50% thu nhập làng) và tiêu chí quản lý trong nước (>= 50% số hộ và lao động, > 50% giá trị sản xuất). Phân loại thành: làng một nghề, làng nhiều nghề, làng nghề truyền thống và làng nghề mới.
- Phát triển bền vững (PTBV): Dựa trên định nghĩa của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED, 1987), Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21), Chỉ thị 36-CT/TW (1998) và Nghị quyết 41-NQ/TW (2004) của Bộ Chính trị.
- Phát triển cộng đồng: Tiếp cận khái niệm của Murray G. Ross, Liên Hợp Quốc và Trường Công tác Xã hội Philippines/Singapore; xác định cộng đồng là chủ thể nhận diện nhu cầu, sắp xếp thứ tự ưu tiên và huy động nguồn lực bảo vệ môi trường.
- Biến đổi môi trường: Khung phân tích sự thay đổi chất lượng môi trường vượt khả năng tự làm sạch, dẫn tới ô nhiễm, suy thoái hoặc sự cố môi trường.
- Hệ thống quan điểm và tiếp cận: Quan điểm hệ thống (xem làng nghề là hệ thống mở tự nhiên - kinh tế - xã hội), quan điểm phát triển bền vững, quan điểm lãnh thổ, quan điểm đa thời gian; tiếp cận địa lý (không gian, tổng hợp, biến đổi theo mùa/thời gian, cụ thể, ngôn ngữ bản đồ) và tiếp cận kinh tế sinh thái (cơ chế thỏa thuận lợi ích giữa các cấp và cộng đồng).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Khảo sát thực địa và điều tra xã hội học: Tiến hành nhiều đợt khảo sát từ 12/2005 đến 6/2009; áp dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA), phỏng vấn hộ gia đình và thu thập số liệu kinh tế - xã hội tại 2 xã nghiên cứu.
- Phương pháp bản đồ và GIS: Xây dựng bản đồ hiện trạng chất lượng môi trường và bản đồ quy hoạch bảo vệ môi trường bằng phần mềm MapInfo và Microstation.
- Phương pháp phân tích hóa nghiệm môi trường: Lấy và phân tích gần 100 mẫu đất, nước, không khí theo TCVN 1995, TCVN 2005, QCVN 2008 và tiêu chuẩn ISO tại Trung tâm Công nghệ Môi trường (Viện Vật lý - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam):
- Khí và tiếng ồn: Khí $SO_2$, $NO_2$ đo bằng thiết bị đo nhanh Kitagawa Precision Gas Detector Tubes (Nhật Bản); hàm lượng bụi lơ lửng đo bằng máy Digital Dust Indicator (hãng SIBATA, Nhật Bản); tiếng ồn đo bằng máy đo mức ồn tương đương $L_{Aeq}$ (dBA) (Nhật Bản).
- Nước và đất: Đo pH bằng máy pH meter; $BOD_5$ đo bằng máy đo DO hiệu YSI 5000; COD xác định bằng phương pháp chuẩn độ Kali Bicromat; Phốt pho tổng số phân tích so màu với axit Ascorbic ở bước sóng 880 nm; Nitrat ($NO_3^-$) phân tích so màu thuốc thử Griess ở bước sóng 520 nm; Sắt (Fe) so màu thuốc thử O-phenanthroline ở bước sóng 540 nm; Đồng (Cu) so màu thuốc thử Dietylthiocacbamat (DDC) ở 430 nm; Chì (Pb) và Kẽm (Zn) so màu thuốc thử Diphenylthiocarbazone (Dithizone) ở bước sóng 520 nm và 530 nm; Coliform tổng số xác định bằng phương pháp lên men nhiều ống (chỉ số MPN).
- Phương pháp toán học và thống kê: Tính toán tải lượng ô nhiễm nước, không khí, chất thải rắn; tính toán chỉ số chất lượng môi trường tổng hợp (EQI).
- Phương pháp dự báo theo hệ số phát thải: Áp dụng hệ số của Viện Kinh tế và Thương mại Công nghiệp Hàn Quốc (KIET), bổ sung và hiệu chỉnh theo hệ số của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (USEPA) qua quy trình 4 bước.
- Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA): Tính toán giá trị hiện tại ròng (NPV) với hai mức suất chiết khấu $r_1 = 1%$/năm và $r_2 = 9%$/năm để so sánh hiệu quả giữa cơ sở sản xuất cũ tại hộ gia đình và cơ sở mới chuyển vào điểm công nghiệp tập trung.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu môi trường làng nghề
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử phát triển làng nghề Việt Nam qua 4 giai đoạn (1954-1978: hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp phục vụ xuất khẩu sang các nước XHCN; 1978-1985: khôi phục sau chiến tranh; 1986-1992: đổi mới sang kinh tế thị trường; 1993 đến nay: mở cửa, hội nhập và tìm kiếm thị trường châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan).
Chương này phân tích hiện trạng phân bố 282 làng nghề tại Hà Tây (phân bố tại 13/14 huyện, thị xã; 162 làng nghề mây tre đan và gỗ phân bố thành 3 cụm lớn tại Phú Xuyên, Chương Mỹ, Hoài Đức; thu hút 160.000 lao động với thu nhập bình quân 3,12 triệu đồng/lao động/tháng năm 2008).
Bảng phân loại làng nghề theo sản phẩm của tỉnh Hà Tây năm 2008:
| TT |
Ngành sản xuất |
Số lượng (làng) |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Ươm tơ, dệt, vải, đồ da |
22 |
7,8 |
| 2 |
Chế biến nông sản, thực phẩm, dược liệu |
36 |
12,8 |
| 3 |
Tái chế phế liệu |
9 |
9,0 |
| 4 |
Thủ công, mỹ nghệ, thêu ren |
173 |
61,3 |
| 5 |
Vật liệu xây dựng, khai thác đá |
3 |
1,07 |
| 6 |
Các nghề khác |
39 |
13,8 |
| Tổng |
|
282 |
100,0 |
Chương 1 xác lập cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa quy hoạch bảo vệ môi trường với quy hoạch tài nguyên, quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội, quy hoạch vùng, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch sinh thái và quy hoạch các ngành kinh tế.
Chương 2: Hoạt động sản xuất và ảnh hưởng của nó đến môi trường làng nghề
Chương 2 phân tích chi tiết điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, công nghệ sản xuất và tác động môi trường tại hai xã nghiên cứu:
- Xã Phùng Xá (Thạch Thất): Diện tích tự nhiên bằng phẳng (độ cao 4,7 - 5,6 m), chịu ảnh hưởng thủy văn sông Đáy và sông Tích, tiếp giáp đường 21B và quốc lộ 80. Nghề kim khí có lịch sử trên 300 năm (do Trạng Bùng Hoàng Phu truyền dạy). Năm 2008 có 61 công ty TNHH/doanh nghiệp tư nhân, 652 cơ sở sản xuất, 530 hộ gia đình tham gia; 1.000 hộ làm cơ kim loại và mạ (473 hộ có máy chuyên dùng), chiếm 80% lao động toàn xã.
- Xã Duyên Thái (Thường Tín): Nằm cạnh quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam, cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ, tiêu thoát nước qua sông Tô Lịch. Nghề sơn mài có truyền thống trên 200 năm (khởi nguồn từ sơn thiếp thế kỷ XVIII, cụ Đinh Văn Thành cải tiến đầu thế kỷ XX), sản xuất trên 2.000 mẫu mã. Năm 2008 có trên 10 doanh nghiệp, 798 hộ sản xuất; 920 lao động biết nghề (46%), 67 thợ lành nghề, 5 nghệ nhân, 600 người học nghề.
Tỷ lệ lao động, số hộ và cơ cấu doanh thu của Phùng Xá và Duyên Thái năm 2008:
| Địa bàn / Ngành |
Số lao động (người) |
Tỷ lệ lao động (%) |
Số hộ (hộ) |
Tỷ lệ số hộ (%) |
Doanh thu (tỷ đồng) |
Tỷ lệ doanh thu (%) |
| I. Phùng Xá |
|
|
|
|
|
|
| Thủ công nghiệp |
3.547 |
69,0 |
1.510 |
67,0 |
50,0 |
69,3 |
| Nông nghiệp |
566 |
11,0 |
270 |
12,0 |
8,2 |
11,4 |
| Dịch vụ thương mại |
822 |
16,0 |
405 |
18,0 |
12,5 |
17,3 |
| Các ngành khác |
205 |
4,0 |
67 |
3,0 |
1,5 |
2,0 |
| Tổng cộng Phùng Xá |
5.140 |
100,0 |
2.252 |
100,0 |
72,2 |
100,0 |
| II. Duyên Thái |
|
|
|
|
|
|
| Thủ công nghiệp |
2.501 |
69,0 |
1.104 |
65,0 |
36,7 |
67,0 |
| Nông nghiệp |
399 |
11,0 |
255 |
15,0 |
7,8 |
14,2 |
| Dịch vụ thương mại |
580 |
16,0 |
272 |
16,0 |
8,4 |
15,3 |
| Các ngành khác |
145 |
4,0 |
68 |
4,0 |
1,9 |
3,5 |
| Tổng cộng Duyên Thái |
3.625 |
100,0 |
1.699 |
100,0 |
54,8 |
100,0 |
Chương 2 thiết lập sơ đồ dòng thải và kiểm toán vật chất cho quá trình tái chế, gia công sắt thép, mạ kim loại (phát sinh $SO_2, NO_2$, bụi kim loại, tiếng ồn, nước thải axit, kim loại nặng Fe, Cu, Pb, Zn, xỉ thải) và sản xuất sơn mài (bụi mài, hơi dung môi hữu cơ, VOCs, nước thải mài sơn chứa chất lơ lửng). Kết quả quan trắc (đợt 12/2006 và 07/2007 kết hợp chuỗi 1997-2006) cho thấy mức độ ô nhiễm vượt quy chuẩn tại các điểm quan trắc. Đánh giá chất lượng môi trường tổng hợp được thể hiện qua tính toán chỉ số chất lượng môi trường (EQI) cho mùa mưa và mùa khô trên bản đồ phân vùng.
Chương 3: Xu thế phát triển kinh tế xã hội, diễn biến môi trường và quy hoạch bảo vệ môi trường làng nghề
Chương 3 xây dựng các dự báo phát triển kinh tế - xã hội và tải lượng ô nhiễm đến năm 2010 và năm 2020:
- Dự báo quy mô sản xuất:
- Năm 2010: Phùng Xá đạt 100 doanh nghiệp, 1.200 hộ, doanh thu 75 tỷ đồng; Duyên Thái đạt 20 doanh nghiệp, 900 hộ, 3 triệu sản phẩm, doanh thu 50 tỷ đồng.
- Năm 2020: Phùng Xá đạt 120 doanh nghiệp, 1.250 hộ, doanh thu 110 tỷ đồng; Duyên Thái đạt 45 doanh nghiệp, 1.100 hộ, 4,5 triệu sản phẩm, doanh thu 75 tỷ đồng.
- Dự báo tải lượng ô nhiễm: Dự báo tải lượng khí thải từ hoạt động giao thông và sản xuất thủ công nghiệp (kịch bản có và không có xử lý); nhu cầu cấp nước, khối lượng và tải lượng ô nhiễm nước thải; khối lượng chất thải rắn và tỷ lệ thu gom đến năm 2020.
- Nội dung quy hoạch bảo vệ môi trường đề xuất:
- Quy hoạch điểm công nghiệp làng nghề tập trung: Phân bố mặt bằng, xác định hệ số sử dụng đất và tiêu chí lựa chọn cơ sở có nguy cơ ô nhiễm cao di chuyển vào cụm tập trung.
- Quy hoạch hệ thống công nghệ xử lý chất thải: Đề xuất tháp xử lý bụi và khí thải, thiết bị hút nóng, buồng phun sơn có kính chắn và hệ thống hấp phụ hơi dung môi, sơ đồ công nghệ xử lý nước thải bể mạ và nước thải quá trình cán kéo kim loại, mô hình xử lý nước thải tại cơ sở sơn mài nhỏ, hệ thống thu gom và lưu chứa chất thải rắn, áp dụng quy trình sản xuất sạch hơn.
- Quy hoạch phân tán và đơn vị ở bền vững: Thiết lập mô hình cấu trúc đơn vị ở - hộ gia đình kết hợp sản xuất theo chiều đứng và chiều ngang tại làng nghề, bảo đảm phân cách không gian sinh hoạt và sản xuất quy mô nhỏ.
- Phân tích chi phí - lợi ích (CBA): Tính toán giá trị hiện tại ròng (NPV) với suất chiết khấu $r_1 = 1%$/năm và $r_2 = 9%$/năm, chứng minh hiệu quả kinh tế và môi trường vượt trội của việc đầu tư cơ sở mới trong điểm công nghiệp so với duy trì cơ sở cũ tại khu dân cư.
- Quy trình mẫu QHBVMT làng nghề: Đề xuất quy trình mẫu phục vụ áp dụng cho các làng nghề trên địa bàn tỉnh Hà Tây.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Luận án đã xác lập cơ sở khoa học, phương pháp luận và nội dung cho công tác quy hoạch bảo vệ môi trường làng nghề - một lĩnh vực quy hoạch chuyên ngành còn rất mới tại Việt Nam thời điểm nghiên cứu.
- Đề xuất mô hình quy hoạch bảo vệ môi trường làng nghề kết hợp hài hòa hai hình thức: quy hoạch tập trung (điểm công nghiệp làng nghề) và quy hoạch phân tán (đơn vị ở bền vững tại hộ gia đình), tạo giải pháp tổng thể giải quyết mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và kiểm soát suy thoái môi trường.
- Phát triển hướng tiếp cận địa lý định lượng thông qua việc ứng dụng công cụ phân tích kinh tế chi phí - lợi ích (CBA) để đánh giá, so sánh hiệu quả giữa sản xuất phân tán tại hộ gia đình và sản xuất tập trung tại khu công nghiệp.
Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Xây dựng quy trình mẫu về QHBVMT áp dụng cho các làng nghề tiểu thủ công nghiệp tại tỉnh Hà Tây (cũ).
- Cung cấp bộ dữ liệu thực địa về kiểm toán vật chất, hệ số phát thải, tải lượng ô nhiễm khí, nước, đất và chỉ số chất lượng môi trường (EQI) tại hai làng nghề điển hình Phùng Xá và Duyên Thái.
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật công nghệ xử lý chất thải phù hợp với điều kiện kinh tế làng nghề: tháp xử lý bụi và khí thải, buồng phun sơn có kính chắn, hệ thống xử lý nước thải mạ và nước cán thép, mô hình xử lý nước thải sơn mài phân tán quy mô nhỏ.
- Thành lập hệ thống bản đồ hiện trạng chất lượng môi trường và bản đồ quy hoạch bảo vệ môi trường cho xã Phùng Xá và xã Duyên Thái trên nền tảng MapInfo và Microstation.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu thực nghiệm trên phạm vi không gian của hai làng nghề đại diện cho hai loại hình sản xuất điển hình là gia công cơ kim khí (Phùng Xá) và sơn mài thủ công mỹ nghệ (Duyên Thái) tại địa bàn tỉnh Hà Tây (cũ), chưa mở rộng khảo sát chuyên sâu đối với toàn bộ 6 nhóm ngành làng nghề khác nhau trên địa bàn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Vận dụng và kiểm chứng quy trình mẫu QHBVMT cho các nhóm ngành làng nghề khác (như chế biến nông sản thực phẩm, dệt nhuộm, gốm sứ, vật liệu xây dựng) và mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các vùng kinh tế làng nghề trọng điểm khác ở đồng bằng sông Hồng và trên phạm vi cả nước.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên thuộc các chuyên ngành Khoa học môi trường, Quản lý môi trường, Địa lý môi trường, Quy hoạch đô thị và nông thôn.
- Cán bộ quản lý tại các Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công Thương, Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã có hoạt động làng nghề.
- Các chuyên gia tư vấn lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới và quy hoạch bảo vệ môi trường lưu vực sông (lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy).
- Nội dung đáng tham khảo:
- Khung phương pháp tích hợp công cụ GIS (MapInfo/Microstation), kiểm toán vật chất và phân tích chi phí - lợi ích (CBA) trong đánh giá và quy hoạch môi trường.
- Quy trình mẫu QHBVMT làng nghề và các sơ đồ công nghệ xử lý chất thải chi phí thấp, phù hợp quy mô hộ và cụm công nghiệp nông thôn.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án lựa chọn hai làng nghề nào làm đối tượng nghiên cứu điển hình và vì sao?
Luận án lựa chọn làng nghề gia công cơ kim khí Phùng Xá (huyện Thạch Thất) và làng nghề sơn mài Duyên Thái (huyện Thường Tín), tỉnh Hà Tây (cũ). Hai làng nghề này đại diện cho hai nhóm ngành sản xuất chính (tái chế phế liệu/cơ khí và thủ công mỹ nghệ), nằm trong nhóm 20 làng nghề có doanh thu cao nhất tỉnh Hà Tây trong giai đoạn 2005 - 2007.
2. Suất chiết khấu nào được sử dụng trong phân tích chi phí - lợi ích (CBA) của luận án?
Luận án sử dụng hai mức suất chiết khấu là $r_1 = 1%$/năm và $r_2 = 9%$/năm để tính toán giá trị hiện tại ròng (NPV), so sánh hiệu quả kinh tế và môi trường giữa cơ sở sản xuất cũ tại hộ gia đình và cơ sở mới di dời vào điểm công nghiệp làng nghề.
3. Các thiết bị và phương pháp chính nào được sử dụng để quan trắc môi trường không khí trong luận án?
Luận án sử dụng ống đo nhanh Kitagawa Precision Gas Detector Tubes (Nhật Bản) để định lượng nồng độ các khí $SO_2$ và $NO_2$; máy Digital Dust Indicator của hãng SIBATA (Nhật Bản) để đo hàm lượng bụi lơ lửng; và máy đo mức ồn tương đương $L_{Aeq}$ (dBA) của Nhật Bản để xác định mức ồn.
4. Hai hình thức quy hoạch bảo vệ môi trường chính được tác giả đề xuất cho làng nghề là gì?
Tác giả đề xuất kết hợp hai hình thức: (1) Quy hoạch tập trung tại điểm công nghiệp làng nghề dành cho các cơ sở quy mô lớn, có công đoạn phát thải ô nhiễm nặng; và (2) Quy hoạch phân tán tại khu dân cư thông qua mô hình "đơn vị ở bền vững" tổ chức hợp lý không gian sản xuất và sinh hoạt của hộ gia đình theo chiều đứng hoặc chiều ngang.
5. Hệ số phát thải dùng để dự báo tải lượng ô nhiễm trong luận án được xây dựng từ nguồn nào?
Hệ số phát thải được xây dựng dựa trên nghiên cứu của Viện Kinh tế và Thương mại Công nghiệp Hàn Quốc (KIET) thiết lập tại Việt Nam qua chương trình "Dự báo phát triển và quản lý môi trường ở Việt Nam", kết hợp bổ sung và hiệu chỉnh theo hệ số phát thải của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (USEPA).
Kết luận
Luận án "Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây (cũ)" đã hoàn thành việc xây dựng cơ sở lý luận, phương pháp luận và quy trình mẫu cho công tác quy hoạch môi trường tiểu thủ công nghiệp nông thôn. Thông qua khảo sát thực chứng tại làng nghề Phùng Xá và Duyên Thái, công trình đã lượng hóa tải lượng phát thải, hiện trạng suy thoái môi trường và dự báo diễn biến chất lượng môi trường đến năm 2020. Mô hình quy hoạch kết hợp điểm công nghiệp tập trung, đơn vị ở bền vững phân tán và phân tích kinh tế chi phí - lợi ích (CBA) cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn cho công tác quản lý tài nguyên và phát triển bền vững làng nghề.