Tổng quan nghiên cứu

Làng nghề truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế nông thôn, tuy nhiên mặt trái của quá trình tăng trưởng là áp lực ô nhiễm môi trường và xung đột xã hội ngày càng gia tăng. Tỉnh Hà Nam hiện có trên 40 làng nghề thủ công, trong đó làng trống Đọi Tam thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên là một địa bàn tiêu biểu với lịch sử hơn 1000 năm phát triển. Theo số liệu khảo sát thực tế, làng Đọi Tam có 617 hộ gia đình với 2.180 nhân khẩu, vận hành 33 cơ sở sản xuất chuyên nghiệp gồm 13 cơ sở thuộc da và 20 cơ sở làm trống, thu hút khoảng 550 lao động tham gia trực tiếp. Hoạt động làm nghề mang lại nguồn thu nhập bình quân khoảng 36 triệu đồng/người/năm, cao hơn gấp 2,1 lần so với mức thu nhập bình quân 17 triệu đồng/người/năm của toàn xã Đọi Sơn.

Mặc dù đóng góp tới 59,4% tổng giá trị tiểu thủ công nghiệp toàn xã vào năm 2011 với doanh thu 48 tỷ đồng, quy trình sản xuất tại Đọi Tam lại gây ra các vấn đề nghiêm trọng về bụi gỗ, mùi hôi thối từ da trâu, hóa chất phun sơn và nước thải ngấm trực tiếp vào mạch nước ngầm. Tình trạng này làm bùng phát mâu thuẫn giữa các nhóm cư dân cùng chia sẻ không gian sống. Luận văn tập trung nhận diện hình thức, mức độ, nguồn gốc của các xung đột môi trường trong giai đoạn 2007-2012, từ đó luận giải bản chất xã hội của việc phân bổ lợi ích và tài nguyên. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp chính quyền địa phương giải quyết mâu thuẫn cho 71,1% người dân đang ghi nhận xung đột, hướng tới mục tiêu cân bằng giữa bảo tồn di sản văn hóa và bảo vệ môi trường bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng kết hợp nhiều lý thuyết xã hội học hiện đại. Trước hết, lý thuyết hệ thống của Ludwig von Bertalanffy tiếp cận làng nghề như một chỉnh thể xã hội mở, nơi các nhóm xã hội có chức năng chuyên biệt nhưng tương tác phụ thuộc lẫn nhau. Khi một phân hệ sản xuất xả thải vượt ngưỡng tự điều chỉnh, toàn bộ cân bằng sinh thái và trật tự xã hội của cộng đồng sẽ bị phá vỡ. Thứ hai, lý thuyết lựa chọn hợp lý của James S. Coleman giải thích hành vi của các chủ cơ sở sản xuất luôn hướng đến tối đa hóa lợi nhuận kinh tế với chi phí tối thiểu, dẫn đến việc chuyển hóa chi phí xử lý chất thải thành ngoại ứng tiêu cực mà cộng đồng xung quanh phải gánh chịu.

Bên cạnh đó, tác giả vận dụng sâu sắc lý thuyết xung đột xã hội từ các học giả kinh điển như Karl Marx, Max Weber, Georg Simmel và Ralf Dahrendorf kết hợp mô hình biến đổi môi trường của Thomas Homer-Dixon và quan điểm của Vũ Cao Đàm. Khung lý thuyết này làm sáng tỏ cách thức mà sự bất bình đẳng trong phân chia tài nguyên và ô nhiễm làm nảy sinh 4 dạng xung đột: xung đột nhận thức, xung đột mục tiêu, xung đột lợi ích và xung đột quyền lực. Các khái niệm công cụ cốt lõi được định nghĩa chuẩn xác gồm: Môi trường theo Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005, Ô nhiễm môi trường theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Xung đột môi trường, Tiêu chí làng nghề theo Báo cáo Môi trường Quốc gia năm 2008 và Quản lý xung đột môi trường.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định lượng và định tính nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao:

Nguồn dữ liệu định lượng được thu thập qua kỹ thuật phỏng vấn bằng bảng hỏi với tổng quy mô mẫu N = 200 người dân tại xã Đọi Sơn. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu hạn ngạch dựa trên cơ cấu kinh tế thực tế của địa phương: 70% mẫu (tương ứng 140 phiếu) dành cho nhóm làm nghề (trong đó có 30 phiếu dành cho thợ đi làm nghề lưu động tại các tỉnh thành) và 30% mẫu (tương ứng 60 phiếu) dành cho nhóm hộ thuần nông không làm nghề. Phương pháp chọn mẫu hạn ngạch được lựa chọn vì phản ánh chính xác tỷ lệ phân bổ dân cư tham gia sản xuất tiểu thủ công nghiệp tại làng Đọi Tam.

Nguồn dữ liệu định tính bao gồm 12 cuộc phỏng vấn sâu đại diện các bên liên quan: 01 lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã Đọi Sơn, 01 cán bộ địa chính - môi trường, 01 trưởng thôn, 01 phó thôn, 01 cán bộ Hội phụ nữ, 01 nghệ nhân lão thành 72 tuổi và 06 đại diện hộ dân thuộc các nhóm sinh kế khác nhau. Kết hợp với đó là phương pháp quan sát cơ cấu hóa và quan sát tham dự tại 33 xưởng sản xuất và các kênh thoát nước sinh hoạt. Toàn bộ dữ liệu định lượng khảo sát trong giai đoạn 2011-2012 được làm sạch và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0 để phân tích tần số, bảng chéo và kiểm định mối tương quan Pearson.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích thống kê định lượng mang lại những phát hiện quan trọng về thực trạng xã hội tại làng trống Đọi Tam:

Thứ nhất, mức độ lan tỏa của xung đột môi trường trong cộng đồng rất cao. Khi được hỏi về sự tồn tại của mâu thuẫn, có tới 71,1% người dân (140/200 người) khẳng định có xảy ra bất đồng và tranh cãi liên quan đến ô nhiễm làng nghề, chỉ có 9,1% trả lời không và 19,8% trả lời không biết (phần lớn là những người thợ làm việc xa nhà dài ngày). Về tần suất, 72,9% số người được hỏi cho biết xung đột giữa hộ làm nghề và hộ không làm nghề diễn ra thỉnh thoảng (từ 2 đến 3 lần/tháng), trong khi 87,1% ghi nhận mâu thuẫn giữa chính các hộ làm nghề với nhau xảy ra ở mức độ tương đương khi phát sinh các sự cố đột biến.

Thứ hai, có sự phân cực rõ rệt về thái độ xã hội giữa các nhóm dân cư. Khảo sát chỉ ra 88,9% chủ cơ sở sản xuất và 88,5% người làm thuê tại nhà bày tỏ sự thông cảm với các hành vi chưa xử lý ô nhiễm triệt để nhằm duy trì sinh kế. Ngược lại, có đến 90,4% người không làm nghề và 42 người làm thuê tại nhà xưởng thể hiện thái độ phản đối gay gắt vì họ là đối tượng trực tiếp chịu đựng mùi ngâm da thối rữa và bụi gỗ. Mối quan hệ giữa vị thế nghề nghiệp và thái độ đối với vấn đề môi trường có ý nghĩa thống kê rõ nét qua hệ số tương quan Pearson r = 0,24 (p = 0,01).

Thứ ba, sự xung đột gay gắt giữa mục tiêu kinh tế ngắn hạn và chất lượng sống dài hạn. Để đạt giá trị sản xuất 48 tỷ đồng trong năm 2011, các cơ sở đã chuyển đổi từ sơn ta tự nhiên sang sơn hóa học công nghiệp để rút ngắn thời gian khô và tăng độ bóng. Hệ quả là nồng độ khí thải độc hại tăng vọt, nguồn nước thải ngâm da chứa hàm lượng muối và hữu cơ cao làm cháy lúa tại các cánh đồng lân cận, khiến tỷ lệ người mắc bệnh hô hấp và ung thư trong làng tăng cao hơn hẳn các thôn thuần nông lân cận.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên chứng minh rằng căn nguyên sâu xa của xung đột môi trường tại Đọi Tam không bắt nguồn từ nhận thức mà xuất phát từ xung đột lợi ích kinh tế và mục tiêu hành động. Nhóm làm nghề nhận thức được tính độc hại của hóa chất nhưng vẫn chấp nhận rủi ro sức khỏe để tối đa hóa thu nhập gia đình. Các dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa trực quan thông qua bảng tương quan chéo giữa nhóm nghề nghiệp với mức độ chấp nhận ô nhiễm, kết hợp biểu đồ cột kép thể hiện sự đối lập giữa tỷ lệ phản đối của nhóm không làm nghề (90,4%) và nhóm chủ xưởng (11,1%).

Về cơ chế giải quyết, kết quả cho thấy chính quyền cấp xã và ban lãnh đạo thôn Đọi Tam chủ yếu sử dụng phương thức né tránh hoặc hòa giải không chính thức dựa trên quan hệ dòng họ, làng xóm. Việc quy hoạch 5,5 ha đất cho cụm tiểu thủ công nghiệp tập trung chưa phát huy tối đa hiệu quả do thiếu vốn đầu tư hệ thống xử lý nước thải chung. Điều này dẫn tới hiện tượng xung đột tiềm tàng kéo dài, chỉ bộc phát thành tranh chấp công khai khi môi trường bị hủy hoại vượt ngưỡng chịu đựng của cộng đồng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu xã hội học, luận văn đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm kiểm soát ô nhiễm và quản lý xung đột môi trường:

Thứ nhất, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và di dời cơ sở sản xuất. Ủy ban nhân dân huyện Duy Tiên và Ủy ban nhân dân xã Đọi Sơn cần tập trung nguồn lực hoàn thiện hệ thống cấp thoát nước, trạm xử lý nước thải tập trung tại khu sản xuất tiểu thủ công nghiệp 5,5 ha. Đặt mục tiêu từ nay đến quý IV/2025 di dời bắt buộc 100% trong số 13 cơ sở thuộc da và sơ chế da trâu tươi ra khỏi khu dân cư đông đúc để triệt tiêu nguồn phát tán mùi hôi thối và dịch bệnh.

Thứ hai, đổi mới công nghệ và kiểm soát vật liệu đầu vào. Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Hội đồng làng nghề hỗ trợ kỹ thuật cho 20 cơ sở làm trống lắp đặt hệ thống buồng phun sơn có màng lọc than hoạt tính và quạt hút bụi gỗ khép kín, hướng tới mục tiêu giảm thiểu 80% lượng bụi và dung môi hữu cơ phát tán ra không khí xung quanh trước năm 2025. Vận động nghệ nhân nghiên cứu khôi phục kỹ thuật sơn truyền thống thân thiện với môi trường.

Thứ ba, thể chế hóa công tác quản lý và xây dựng quỹ môi trường cộng đồng. Hội đồng nhân dân xã Đọi Sơn cần bổ sung các điều khoản cam kết bảo vệ môi trường vào hương ước làng Đọi Tam. Thành lập Quỹ bảo vệ môi trường làng nghề với cơ chế đóng góp định kỳ từ 1% đến 2% trên tổng thu nhập ròng hàng năm của các cơ sở sản xuất (ước tính đạt từ 60 đến 120 triệu đồng/năm) để chi trả cho hoạt động thu gom rác thải công nghiệp và vận hành hạ tầng xử lý chung.

Thứ tư, thiết lập cơ chế hòa giải xung đột đa bên. Thành lập Ban hòa giải môi trường cấp thôn với sự tham gia của đại diện chính quyền, cán bộ địa chính, nghệ nhân lão thành và đại diện các hộ không làm nghề. Duy trì cơ chế tiếp nhận phản ánh định kỳ hàng tháng, chuyển đổi phương thức xử lý từ né tránh bị động sang đối thoại công khai, minh bạch hóa thông tin về chỉ số chất lượng môi trường cho toàn thể nhân dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung phân tích của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Duy Tiên cùng Ủy ban nhân dân xã Đọi Sơn. Luận văn cung cấp luận cứ thực chứng về cơ cấu xung đột giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề phù hợp với tập quán địa phương.

Nhóm thứ hai là các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên thuộc chuyên ngành Xã hội học môi trường, Xã hội học quản lý, Công tác xã hội và Khoa học môi trường. Đề tài đóng vai trò là một case study điển hình về việc ứng dụng lý thuyết lựa chọn hợp lý và lý thuyết xung đột xã hội để phân tích các bài toán kinh tế - sinh thái tại nông thôn Việt Nam.

Nhóm thứ ba là ban quản lý làng nghề, các nghệ nhân và chủ của 33 cơ sở sản xuất thủ công tại Đọi Tam và các làng nghề tương đồng trên cả nước. Tài liệu giúp nâng cao nhận thức về trách nhiệm xã hội, an toàn lao động và hướng dẫn tổ chức sản xuất bền vững.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ và chuyên gia phát triển cộng đồng đang triển khai các dự án bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể kết hợp bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Bản chất của xung đột môi trường tại làng trống Đọi Tam là gì? Bản chất của vấn đề là sự xung đột sâu sắc về mặt lợi ích kinh tế và mục tiêu sức khỏe giữa 70% hộ dân làm nghề thủ công và 30% hộ thuần nông. Trong khi nhóm làm nghề hưởng lợi nhuận trực tiếp từ doanh thu 48 tỷ đồng thì nhóm không làm nghề phải chịu hoàn toàn các ngoại ứng tiêu cực về mùi hôi, bụi gỗ và nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm.

Tại sao xung đột nhận thức về môi trường tại làng Đọi Tam lại diễn ra mờ nhạt? Khảo sát thực tế chỉ ra rằng cả nhóm làm nghề và nhóm không làm nghề đều nhận thức rất rõ nguồn phát sinh ô nhiễm từ bụi cưa, hóa chất sơn và nước ngâm da. Do đó, mâu thuẫn không xuất phát từ việc thiếu hiểu biết mà nảy sinh từ sự khác biệt trong việc lựa chọn ưu tiên giữa mục tiêu mưu sinh kinh tế và mục tiêu bảo vệ môi trường sống trong lành.

Mối liên hệ giữa vị trí sinh kế và thái độ đối với ô nhiễm được chứng minh như thế nào? Kiểm định thống kê Pearson ghi nhận hệ số r = 0,24 với mức ý nghĩa p = 0,01. Cụ thể, có 88,9% chủ cơ sở sản xuất thông cảm với hành vi gây ô nhiễm do áp lực chi phí, trong khi 90,4% người dân không làm nghề kịch liệt phản đối các cơ sở không đầu tư hệ thống xử lý chất thải theo quy định.

Phương pháp chọn mẫu hạn ngạch 200 phiếu có đảm bảo tính đại diện khoa học không? Cỡ mẫu N = 200 được phân bổ theo tỷ lệ 140 phiếu cho người làm nghề và 60 phiếu cho người không làm nghề, phản ánh chính xác tỷ lệ 70% hộ làm tiểu thủ công nghiệp theo số liệu quản lý hành chính tại 617 hộ dân thôn Đọi Tam. Cấu trúc mẫu này đảm bảo thu thập đầy đủ ý kiến từ chủ xưởng, thợ làm thuê tại chỗ, thợ làm xa nhà và cư dân thuần nông.

Rào cản lớn nhất trong việc di dời các cơ sở vào cụm công nghiệp làng nghề 5,5 ha là gì? Rào cản chính là thói quen sản xuất gắn liền với không gian sinh hoạt hộ gia đình để tận dụng lao động phụ và chi phí mặt bằng thấp. Bên cạnh đó, việc thiếu vốn đầu tư đồng bộ hệ thống xử lý nước thải chung tại khu đất 5,5 ha khiến các chủ cơ sở e ngại gia tăng chi phí vận hành khi chuyển ra khỏi khu dân cư.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và làm phong phú thêm hệ lý thuyết xã hội học môi trường thông qua việc phân tích xung đột sinh thái tại làng nghề truyền thống Đọi Tam.
  • Khảo sát thực nghiệm trên mẫu 200 người dân xác định 71,1% cư dân thừa nhận sự tồn tại của mâu thuẫn môi trường với tần suất phổ biến từ 2 đến 3 lần mỗi tháng.
  • Nghiên cứu chỉ rõ sự đối lập gay gắt giữa mục tiêu kinh tế của 33 cơ sở sản xuất (đóng góp 59,4% giá trị tiểu thủ công nghiệp xã) và quyền được sống trong môi trường an toàn của cộng đồng cư dân xung quanh.
  • Đánh giá khách quan những bất cập trong việc áp dụng các biện pháp quản lý hành chính đơn thuần và thói quen hòa giải né tránh của chính quyền địa phương.
  • Đề xuất lộ trình 4 giải pháp chiến lược bao gồm di dời xưởng thuộc da ra cụm 5,5 ha, cải tiến công nghệ lọc bụi sơn, thể chế hóa hương ước và thành lập tổ hòa giải môi trường đa bên trước năm 2025.

Để giải quyết triệt để bài toán môi trường làng nghề, chính quyền các cấp và cộng đồng dân cư cần nhanh chóng chung tay triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý xung đột, bảo tồn thương hiệu trống Đọi Tam nghìn năm trong sự phát triển hài hòa và bền vững.