Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. Vài nét về quán ngữ 1. Khái niệm quán ngữ QN là đơn vị ngôn ngữ thuộc phạm vi quan tâm trước hết của các nhà nghiên cứu từ vựng. Chính vì thế mà đơn vị này thường được gặp trong công trình nghiên cứu về từ vựng hơn là trong các sách ngữ pháp.
Bản thân thuật ngữ “QN” được hiểu theo kiểu chiết tự “quán” là thói quen. Lý do là lớp từ này được sử dụng theo “phản xạ” bản ngữ. Với đặc tính “dùng lâu thành quen” theo “phản xạ”, một số người cũng gọi chung TN là QN. Trong tác phẩm “Ý nghĩa và cấu trúc ngôn ngữ” [77] dịch từ tiếng Nga, nguyên tác tiếng Anh là Meaning and the Structure of language của tác giả người Mỹ Wallace L.
Chafe, Nguyễn Văn Lai đã dùng từ “QN hoá” thay cho “TN hoá” ở chương 5 khi dịch thuật ngữ idiomaticization [77]. Nguyễn Văn Tu với công trình nghiên cứu về từ tiếng Việt [79] đã dành vài trang để nói về khái niệm QN. Theo quan niệm của tác giả, QN cũng có tính ổn định vì các thành tố gắn bó với nhau thông qua quá trình “quen dùng” và đưa ra các ví dụ minh hoạ cho quan điểm của mình: bạn nối khối, anh hùng rơm, gót sắt, kỷ luật sắt, mua việc,.Như vậy, đối với Nguyễn Văn Tu, QN là một kiểu ngữ cố định mà các tác giả khác gọi tên là ngữ cố định định danh (Vũ Đức Nghiệu); TN hợp kết (Nguyễn Thiện Giáp), các TN ở dạng tỉ dụ (Hoàng Văn Hành). Qua đó, tác giả quan niệm tất cả các đơn vị của ngữ cố định đều có đặc tính “dùng lâu thành quen” và với những cụm nào nghĩa bóng thấp thì ông gọi là QN và nghĩa bóng cao là TN.
Có thể đây là lý do giải thích có lúc người ta dùng thuật ngữ “QN” để gọi luôn cho TN, hay ngược lại. Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ định nghĩa QN là: Tổ hợp từ cố định đã dùng lâu thành quen, nghĩa có thể suy ra từ các nghĩa của các yếu tố hợp thành.829] Từ điển này đưa ra các ví dụ là “lên lớp”, “lên mặt”, “lên tiếng” [19, tr. Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, định nghĩa QN là: Tổ hợp từ cố định quen dùng mà nghĩa có thể suy ra từ nghĩa của những yếu tố cấu thành. Tuy nhiên từ điển này không cho ví dụ minh hoạ.
Từ định nghĩa của hai từ điển, chúng tôi vẫn rút ra được một kết luận rất có ích cho việc phân biệt QN với TN, đó là: QN, đứng về mặt từ vựng học, không có nghĩa bóng. Cho đến bây giờ, những định nghĩa mà chúng tôi có được đa phần tập trung ở địa hạt này. Đỗ Hữu Châu phát biểu: QN là những cách nói, cách diễn đạt cần thiết để đưa đẩy, để chuyển ý hay dẫn ý, để nhập đề chứ không có tác dụng nêu bật một sắc thái của những cái đã có tên hoặc nêu bật ra các sự vật, hiện tượng, tính chất,.chưa có tên gọi. Ngoài các thí dụ đã nêu, có thể dẫn thêm các QN khác như : “ai cũng biết rằng”, “rõ ràng là”, “chắc chắn là”,…[12, tr.74] Ông cho rằng TN trung gian với từ ghép và QN trung gian với cụm từ tự do.
Dựa vào đó, chúng tôi đưa ra lược đồ sau đây: Ngữ cố định Quán ngữ Thành ngữ (Gần gũi cụm từ tự do) Theo lược đồ, QN là đơn vị phân biệt với TN và qua định nghĩa của tác giả, phân biệt ở đây không chỉ là hình thức của QN mang tính chất của cụm từ tự do cao mà còn là về mặt nghĩa học. Trong khi TN có nghĩa định danh và tính biểu trưng thì QN, như quan niệm của Đỗ Hữu Châu, mang nghĩa “rỗng” vì nó chỉ có chức năng dẫn xuất, đưa đẩy. Nó là đơn vị ngôn ngữ mang tính công cụ. Thật vậy, khi một người muốn bổ sung giữa cái nói rồi với cái định nói nữa, anh ta sử dụng các “chỉ xuất” diễn ngôn được làm sẵn hoặc để cho người nghe có thể “dự báo”, có thể nắm bắt trước tinh thần phát ngôn, chuyển đổi chủ đề, tránh tình trạng đột ngột, tạo ý khẳng định, phủ định, tạo hành vi tại lời, v.
Nguyễn Thiện Giáp có cùng ý kiến : QN là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại văn bản để liên kết, rào đón hoặc nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó. Mỗi phong cách thường có những QN riêng, chẳng hạn các QN “của đáng tội”, “nói khí vô phép”, “nói bỏ ngoài tai”, “chẳng nước non gì”, “còn mồ ma”, v.thường được dùng trong phong cách hội thoại [67, tr. Từ định nghĩa của Nguyễn Thiện Giáp, chúng tôi phát hiện thêm một đặc điểm nữa mà sẽ là thiếu sót nếu không đưa vào đặc tính của QN: Sự sử dụng lặp đi lặp lại thành quen dùng như một cách nói chuyên dụng. Đặc tính này đã phần nào phản ánh lý do lớp từ này có tên là “QN”.
Ví dụ: (1) Đừng tưởng là giỏi giang tài cán mà việc nhà ai cũng chõ vào nhá. Cụm từ “đừng tưởng” này không chỉ xuất hiện trong phát ngôn trên, của riêng người phát biểu trên mà hầu như nó là một biểu thức được làm sẵn qua một quá trình tái hiện nhiều lần trong tiếng Việt trong các tình huống tạo phát ngôn vừa có tính chất “khuyên” vừa có tính chất “cảnh báo”. Định nghĩa và sự sắp xếp của Nguyễn Thiện Giáp về ngữ cố định trong đó có QN được thể hiện qua lược đồ của tác giả đề nghị sau đây [67, tr.101]: Có tính nhất thể Không có tính về nghĩa nhất thể về nghĩa Ngữ láy Ngữ láy Cấu tạo Chức năng đơn nhất mô hình bằng biểu hiện Thành ngữ Thành ngữ phương gợi tả hoà kết hợp kết thức láy Chức năng Ngữ định danh Ngữ định danh Cấu tạo định danh hoà kết hợp kết bằng phương Chức năng QN thức ghép đưa đẩy, nhấn mạnh Dễ nhận thấy rằng QN trong lược đồ của Nguyễn Thiện Giáp có ba đặc điểm nổi bật: - Có chức năng đưa đẩy, nhấn mạnh, không có nghĩa định danh (nét khu biệt lớn nhất với các đơn vị ngữ cố định khác). - Không có tính nhất thể về nghĩa.
- Được cấu tạo bằng phương thức ghép. Nhưng như thế nào là “phương thức ghép”? Chắc chắn “ghép” đây không phải theo phương thức cấu tạo của TN, từ ghép hoặc từ láy vì tác giả đã chỉ ra: Về ý nghĩa cũng như về hình thức cụm từ trên (tức là QN- chú thích của người viết) chẳng khác gì cụm từ tự do nhưng do nội dung của chúng đã trở thành điều thường xuyên phải cần đến trong sự suy nghĩ và diễn đạt mà chúng được dùng lặp đi lặp lại như một đơn vị có sẵn [67, tr. Đặc điểm “không khác gì cụm từ tự do” có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quyết định sự khác nhau về hình thái cũng như nội dung của QN với các đơn vị từ vựng khác. Vũ Đức Nghiệu cũng quan niệm: QN là những cụm từ được lặp đi lặp lại trong các loại diễn từ (discourse) thuộc các phong cách khác nhau.
Chức năng của chúng là đưa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh, hoặc để liên kết trong diễn từ. Ví dụ: “của đáng tội”, “nói bỏ ngoài tai”, “nói tóm lại”, “kết cục là”, “nói cách khác”,.161] Ví dụ : (2) Tự nhiên, Trường không muốn về nhà nữa. Nó hoàn toàn không phải là trạng ngữ “tự nhiên” của một PN đại loại như: (3) Trường cười nói rất tự nhiên. Hoặc: (4) Cứ tự nhiên như ở nhà.
Vũ Đức Nghiệu đã đưa ra một lược đồ để minh họa cho định nghĩa của mình [90, tr.161]: CỤM TỪ CỐ ĐỊNH Ngữ cố định Thành ngữ (Mẹ tròn con vuông) QUÁN NGỮ Ngữ cố định định danh (Của đáng tội) ( Mặt trái xoan) Qua lược đồ, chúng ta có thể nhận thấy rằng tác giả dù có ý kiến khác và thuật ngữ khác trong việc phân chia ngữ/cụm từ cố định nhưng tác giả vẫn thống nhất đặt QN vào một vị trí trong hệ thống cụm từ cố định. Cũng giống như các tác giả trên, nhóm tác giả trường Cao đẳng Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và Long An cũng đưa ra hai khái niệm nổi bật trong hệ thống ngữ cố định là TN và QN trong đó QN có khuynh hướng còn gần gũi với cụm từ tự do. Về cơ bản nhóm tác giả này cũng đồng ý rằng: QN là những ngữ cố định có cấu tạo và ngữ nghĩa không khác gì ngữ tự do, nhưng được dùng nhiều trong lời nói như những công thức “có sẵn”. Ví dụ “rõ ràng là”, “nghĩ cho cùng”, “của đáng tội”, “nói tóm lại”, “chẳng chóng thì chày”,.129] Tuy nhiên, phải thấy rằng có một ít mâu thuẫn trong định nghĩa này khi các tác giả vừa khẳng định QN là “ngữ cố định” vừa một mặt cho rằng chúng “có cấu tạo và ngữ nghĩa không khác gì ngữ tự do” Hữu Đạt có định nghĩa dựa vào nội hàm của thuật ngữ nên suy ý hơi rộng nhưng những ví dụ tác giả đã đưa ra hoàn toàn phù hợp với lớp QN chúng tôi đang bàn luận: Theo nghĩa đen “quán” là “quen”.
Vậy QN là một loại ngữ cố định được người ta quen dùng. Ví dụ: “nói tóm lại”, “kết quả là”, “rốt cuộc”, “nói một cách khác”, “ nói gọn lại là”, “trước hết”, “đáng chú ý là”, “không chóng thì chày”, “mặt khác thì”. Như vậy nói khái quát thì QN là loại ngữ cố định được quen dùng nhưng ít hoặc không có tính hình tượng. 77] Ý kiến trên bổ sung cho phần nhận định về QN là chúng có ít hoặc không có tính hình tượng.
Thật vậy, với tư cách là đơn vị ngôn ngữ không có nghĩa thực mà chỉ có nghĩa chuyên dụng thì việc đặt ra vấn đề “hình tượng” hoặc “biểu trưng” là vừa rất khó và cũng không thực tế. Quan niệm này cũng không khác gì với các từ điển tiếng Việt mà chúng tôi tổng hợp được rằng, khác với TN, QN có ý nghĩa có thể suy ra từ các thành tố tạo nên nó một cách trực tiếp. Chúng tôi hoàn toàn chia sẻ với ý kiến này, ví dụ thật khó hình dung được đâu là nghĩa TN của các QN như Tôi thiết nghĩ, nói tóm lại, ấy thế mà,. Ngoài các định nghĩa về thuật ngữ QN mà theo chúng tôi, còn có chỗ mơ hồ về các ví dụ minh hoạ, hai công trình từ điển tiếng Việt giải thích các QN cụ thể trong mục từ của mình là “cách dùng khẩu ngữ”, hoặc “dùng ở đầu câu”, hoặc “dùng làm thành phần phụ câu”.
Ví dụ từ điển tiếng Việt [19, tr.