Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường" của nghiên cứu sinh Lưu Văn Minh, chuyên ngành Ngôn ngữ học (mã số: 9.20), được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2023 dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Đỗ Việt Hùng và PGS.TS Hà Quang Năng.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, so sánh là một phạm trù tư duy và là đối tượng khảo sát của nhiều phân ngành ngôn ngữ học. Trong phong cách học, so sánh là một biện pháp tu từ hướng tới hiệu quả thẩm mĩ; trong ngôn ngữ học tri nhận, so sánh được xem là một thể yếu của ẩn dụ phản ánh nguyên tắc tri nhận "dĩ nhân vi trung". Ngôn ngữ là phương tiện lưu giữ, bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trước đây về tiếng Mường chủ yếu tập trung vào ngữ âm, từ vựng và nguồn gốc lịch sử của nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt và toàn diện về biểu thức ngôn ngữ so sánh (BTNNSS) dưới góc nhìn liên ngành ngôn ngữ học, tâm lí học và văn hóa học.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng rõ đặc điểm của các BTNNSS trong tiếng Mường về phương diện cấu tạo, chức năng phản ánh và đặc trưng văn hóa của người Mường ở Việt Nam; góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị của ngôn ngữ, văn hóa Mường; cung cấp tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy về tục ngữ, dân ca Mường nói riêng và ngôn ngữ, văn hóa Mường nói chung.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm 4 nhiệm vụ:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về so sánh, tình hình nghiên cứu về tiếng Mường và BTNNSS trong tiếng Mường.
- Xác lập cơ sở lí thuyết cần thiết cho việc nghiên cứu BTNNSS trong tiếng Mường.
- Thống kê, phân loại và mô tả đặc điểm của các BTNNSS trong tiếng Mường.
- Tìm hiểu các đặc trưng văn hóa của người Mường được thể hiện và lưu trữ trong các BTNNSS trong tiếng Mường; bước đầu liên hệ, đối chiếu với BTNNSS trong tiếng Việt để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt.
Đối tượng nghiên cứu là các BTNNSS trong tiếng Mường, được khảo sát qua ngữ liệu tục ngữ và dân ca Mường, không phân biệt so sánh logic và so sánh tu từ, loại trừ dạng so sánh ngầm khuyết đồng thời ba yếu tố (ẩn dụ). Phạm vi nghiên cứu tập trung vào đặc điểm cấu tạo của BTNNSS và các đặc trưng văn hóa Mường thể hiện qua các biểu thức này, có đối chiếu bước đầu với tiếng Việt. Phạm vi tư liệu khảo sát gồm tổng số 1.571 BTNNSS được trích xuất từ 8 công trình sưu tầm, biên dịch văn học dân gian Mường do Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam và các nhà xuất bản ấn hành.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu theo ba nhóm nội dung chính:
Thứ nhất là tình hình nghiên cứu về so sánh từ góc độ phong cách học và liên ngành. Trong truyền thống phương Tây, nghiên cứu so sánh bắt đầu từ tác phẩm Poetica của Aristotle với khái niệm Figura (ngữ hình), coi so sánh là thủ pháp làm tăng hiệu lực diễn đạt. Ở phương Đông cổ đại, so sánh gắn liền với hai thể "tỉ" và "hứng" trong thơ ca Trung Hoa. Tại Việt Nam, từ năm 1958 khi môn Tu từ học được giảng dạy ở bậc đại học, so sánh được nghiên cứu sâu qua các công trình của Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa, Đào Thản, Hoàng Trọng Phiến, Hữu Đạt, Bùi Minh Toán, Lê Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ, Hà Quang Năng. Ngữ liệu dân gian được khảo sát qua các công trình của Trương Đông San (thành ngữ so sánh), Hà Quang Năng (đặc điểm vế so sánh), Chu Bích Thu (cơ sở logic - ngữ nghĩa), Nguyễn Thúy Khanh (thành ngữ so sánh có tên gọi động vật), Đỗ Thị Kim Liên (phương tiện so sánh trong tục ngữ có từ chỉ quan hệ thân tộc), Bùi Thị Thi Thơ (hình ảnh và ý nghĩa biểu trưng), Hoàng Kim Ngọc (ca dao trữ tình), Nguyễn Văn Nở (chất liệu biểu trưng đồ dùng), Hà Thị Chuyên (so sánh trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày). Hướng tiếp cận liên ngành tâm lí học - ngôn ngữ học - văn hóa học được phát triển qua các công trình của Nguyễn Đức Tồn về chiến lược liên tưởng - so sánh có định hướng và luận án của Trần Thị Oanh về biểu thức so sánh trong tiếng Việt.
Thứ hai là tình hình nghiên cứu về tiếng Mường và BTNNSS trong tiếng Mường. Về lịch sử và ngữ âm, các học giả nước ngoài như M. Chéon, H. Maspero đã cung cấp những tư liệu sơ khởi. Ở trong nước, mối quan hệ nguồn gốc nhóm Việt - Mường được nghiên cứu bởi Nguyễn Thế Phương, Phạm Đức Dương; vấn đề ngữ âm và chữ viết được khảo sát bởi Nguyễn Văn Tài (Ngữ âm tiếng Mường qua các phương ngôn, 2012), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Phan Cảnh, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Thị Minh Châu; từ vựng được tìm hiểu bởi Hoàng Văn Hành (từ láy đôi), Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Phú Phong (đại từ chỉ ngôi), Nguyễn Thị Kim Thoa (từ ngữ ẩm thực). Về BTNNSS trong tiếng Mường, duy nhất có công trình của Hoàng Thị Liên Hương (2019, Đặc điểm tục ngữ Mường) khảo sát cấu trúc so sánh đơn và so sánh kép trong tục ngữ.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: chưa có công trình nào khảo sát toàn diện và hệ thống toàn bộ các dạng thức cấu tạo của BTNNSS trong tiếng Mường trên nguồn ngữ liệu tục ngữ và dân ca phong phú; đồng thời chưa có nghiên cứu nào kết hợp liên ngành ngôn ngữ học, tâm lí học nhận thức và văn hóa học để giải mã thế giới quan và nhân sinh quan của tộc người Mường ẩn chứa trong các biểu thức ngôn ngữ so sánh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết của luận án được xây dựng từ ba trụ cột:
-
Cơ sở ngôn ngữ học: Luận án tiếp thu quan niệm về so sánh trong Anh ngữ học (phân biệt so sánh comparison và đối chiếu contrast theo Oshima, Hogue, Jordan, A. Reid; hoặc kết hợp trong từ điển BBC, Webster), quan niệm của các nhà Việt ngữ học (Hoàng Phê, Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú, Hữu Đạt). Luận án định nghĩa so sánh là việc đối chiếu giữa sự vật này với sự vật khác hoặc hiện tượng này với hiện tượng khác nhằm tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa chúng. Dựa trên Ngữ pháp khái niệm của Keith Mitchell và Ngữ nghĩa học cấu trúc của J. Lyons (phân chia thực thể thành 3 bậc: thực thể vật lí bậc một, sự kiện/quá trình bậc hai, thực thể trừu tượng bậc ba) kết hợp đề xuất của Lưu Quý Khương và cấu trúc so sánh của Nguyễn Thế Lịch, luận án xác lập mô hình cấu trúc cơ sở của BTNNSS dạng đầy đủ gồm 4 thành tố: Thực thể được so sánh (TTĐSS - kí hiệu A), Phương diện được so sánh (PDĐSS - kí hiệu x), Từ ngữ so sánh (TNSS - kí hiệu T), Thực thể so sánh (TTSS - kí hiệu B).
-
Cơ sở tâm lí học: Luận án dựa trên lí thuyết nhận thức và tâm lí học tư duy (Usinxki, I. Sechenov, Descartes, các thực nghiệm của R. Sternberg, Mitchell). Thao tác so sánh được xác định là cơ sở của nhận thức lí tính, là phương thức chủ thể dùng trí óc xác định sự giống nhau, khác nhau, đồng nhất hay không đồng nhất giữa các đối tượng để chiếm lĩnh hiện thực.
-
Cơ sở văn hóa học và mối quan hệ ngôn ngữ - văn hóa: Luận án áp dụng định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm (hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần) với 4 đặc trưng: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh, tính lịch sử; phân vùng văn hóa của Trần Quốc Vượng và Trần Ngọc Thêm (người Mường thuộc vùng văn hóa Tây Bắc). Luận án vận dụng quan điểm ngôn ngữ là linh hồn dân tộc của W. von Humboldt, tính tương đối của ngôn ngữ trong giả thuyết Sapir - Whorf, quan điểm văn hóa định hình cú pháp và ngữ nghĩa của F. de Saussure và Farzad Sharifian.
Về phương pháp và thủ pháp nghiên cứu:
- Phương pháp miêu tả: miêu tả mô hình cấu trúc, các dạng thức của BTNNSS và các đặc điểm văn hóa tộc người được lưu giữ.
- Phương pháp phân tích thành tố ngôn ngữ: chia tách và phân tích các thành tố A, x, T, B trong biểu thức so sánh.
- Thủ pháp thống kê, phân loại và hệ thống hóa: định lượng 1.571 biểu thức, phân chia thành các nhóm cấu trúc và các trường ngữ nghĩa của thực thể so sánh.
- Thủ pháp so sánh đối chiếu: đối chiếu với tiếng Việt để tìm nét tương đồng và khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa.
- Thủ pháp phân tích ngữ cảnh: đặt thực thể so sánh vào văn cảnh bài ca, câu tục ngữ cụ thể để xác định giá trị biểu đạt.
Tư liệu khảo sát gồm 1.571 BTNNSS từ 8 nguồn tư liệu:
- Bùi Thiện (2010), Dân ca Mường (phần tiếng Việt), Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
- Minh Hiệu (2012), Tục ngữ, dân ca Mường Thanh Hóa, Nxb Thời đại, Hà Nội.
- Cao Sơn Hải (2011), Những bài ca đám cưới người Mường Thanh Hóa, Nxb Lao động, Hà Nội.
- Cao Sơn Hải (2015), Tục ngữ Mường Thanh Hóa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Bùi Chí Hăng (2012), Xường trai gái dân tộc Mường, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
- Kiều Trung Sơn, Kiều Bích Thủy (2014), Hát ví đúm của người Mường ở Mường Bi (Tân Lạc – Hòa Bình), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
- Đinh Văn Phùng, Đinh Văn Ân (2015), Đang – Dân ca Mường, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Mai Thị Hồng Hải (2006), Góp phần nghiên cứu xường giao duyên của người Mường, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các tiền đề nghiên cứu và cơ sở lí luận của luận án. Về mặt tổng quan, chương phân tích các kết quả nghiên cứu về biện pháp so sánh trong phong cách học truyền thống và hướng liên ngành; tổng thuật các nghiên cứu về ngữ âm, chữ viết, từ vựng tiếng Mường của học giả quốc tế và Việt Nam; chỉ rõ sự thiếu vắng của các công trình chuyên sâu về BTNNSS tiếng Mường.
Chương này giới thiệu diện mạo văn hóa dân gian Mường qua hai thể loại:
- Dân ca Mường: gồm các thể loại hát Xắc bùa (hát chúc mừng ngày Tết, hội hè theo phường bùa), hát Rằng thường (hát mừng nhà mới, cưới xin, răn dạy đạo lí), hát Bộ mẹng (hát đối đáp ứng khẩu bên bếp lửa, tiệc rượu cần, mang tính trữ tình trầm hùng), hát Ví đúm (hát giao duyên nam nữ trong hội xuân).
- Tục ngữ Mường: phản ánh kho trí tuệ kinh nghiệm về dự báo thời tiết (quan sát trăng sao, gió mưa, tập tính muông thú), kinh nghiệm trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt, hái lượm (chọn lợn giống, xem trâu, cày ải vãi mạ), các quy tắc ứng xử nhân đạo trong gia đình, họ hàng và làng xóm, cùng các hình thức nghệ thuật đặc trưng như vần liền, vần cách, phép đối, so sánh và trào lộng.
Về cơ sở lí thuyết, chương xác lập khái niệm so sánh, phân biệt so sánh logic và so sánh tu từ, so sánh ngang bằng và so sánh hơn kém, phân tích cấu trúc 4 yếu tố của biểu thức so sánh theo quan điểm ngữ nghĩa học cấu trúc và tâm lí học nhận thức; đồng thời trình bày các đặc trưng văn hóa tộc người Mường (tập quán canh tác nương rẫy, ruộng nước, nhà sàn truyền thống, trang phục áo pắn - khăn thắt, phong tục cưới hỏi, tang ma).
Chương 2. Cấu tạo của biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường
Chương 2 triển khai thống kê định lượng, phân loại và miêu tả chi tiết cấu tạo ngữ pháp - ngữ nghĩa của 1.571 BTNNSS tiếng Mường thu thập được từ ngữ liệu tục ngữ và dân ca.
| Dạng thức BTNNSS |
Số lượng (biểu thức) |
Tỉ lệ (%) |
| BTNNSS dạng đầy đủ |
723 |
46,0 |
| BTNNSS dạng khuyết thiếu |
848 |
54,0 |
| Tổng cộng |
1.571 |
100,0 |
Phân tích cấu tạo BTNNSS dạng đầy đủ (723 biểu thức):
Mô hình cơ sở chung gồm 4 thành tố: Thực thể được so sánh (A) - Phương diện được so sánh (x) - Từ ngữ so sánh (T) - Thực thể so sánh (B).
- Thành tố A (TTĐSS): được cấu tạo bởi danh từ (Mạ), cụm danh từ (Rác ráo), động từ (Nghè), cụm động từ (Nhợ ụn), cụm tính từ (Thôch miol chằng thôch nết), hoặc cụm chủ vị.
- Thành tố x (PDĐSS): được biểu hiện bằng động từ (chằng kều), cụm động từ (tun lềng), tính từ (đẹp), cụm tính từ (ngioch thiệng ngioch lơi).
- Thành tố T (TNSS): phong phú, đa dạng, gồm các từ so sánh ngang bằng (păng, vưa păng, chằng păng, nhừ, diộng, diộng nhừ, tứa nhừ, chùa ạn nhừ) và từ so sánh hơn kém (hờn, chằng hờn).
- Thành tố B (TTSS): cấu tạo bằng danh từ (tlại vạ), cụm danh từ (chum wà tao), động từ (xoặn vỏ tào), cụm động từ (dàng thày), tính từ (khổ thần), cụm chủ vị (cùa lẻ cang).
| Các dạng mô hình BTNNSS dạng đầy đủ |
Số lượng |
Tỉ lệ (%) |
| Dạng (i) (Mô hình cơ sở A - x - T - B) |
538 |
74,4 |
| Dạng (ii) |
49 |
6,8 |
| Dạng (iii) |
16 |
2,2 |
| Dạng (iv) |
119 |
16,5 |
| Dạng (v) |
01 |
0,1 |
| Tổng số dạng đầy đủ |
723 |
100,0 |
Phân tích cấu tạo BTNNSS dạng khuyết thiếu (848 biểu thức):
Luận án chỉ ra các dạng khuyết thiếu điển hình:
- Khuyết 1 yếu tố:
- Khuyết thực thể được so sánh (A): ví dụ Ác/ nhừ (nhờ)/ lịnh lế; Tế/ nhừ/ còn puồn.
- Khuyết phương diện được so sánh (x): ví dụ Quần thân lồi tì /nhừ/ páy cạ; Quần xĩa lồi tì/ nhừ/ đạm mầy.
- Khuyết 2 yếu tố:
- Khuyết thực thể được so sánh và phương diện so sánh (A + x): ví dụ Lúc tì rềng tực rềng cại, tlở lái nhừ/ cại châm mionh.
- Khuyết phương diện so sánh và từ ngữ so sánh (x + T): ví dụ Nang Úch Thại, mặt/ tlại tlôi; Mồi, mồi/ tlại tlạm.
- Khuyết phương diện so sánh và thực thể so sánh (x + B): ví dụ Chông chà cạy vớ/ thi hờn.
Chương 3. Biểu thức ngôn ngữ so sánh và đặc trưng văn hóa Mường
Chương 3 phân tích các bình diện văn hóa tộc người được khúc xạ qua các BTNNSS, chia thành hai hệ thống lớn:
- BTNNSS và thế giới quan của người Mường:
- Phản ánh đặc trưng văn hóa vùng miền thông qua việc lựa chọn các thực thể so sánh (TTSS) gắn chặt với môi trường tự nhiên thung lũng, đồi núi Tây Bắc:
- Thế giới thực vật: cây thân gỗ vùng cao, cây thân mềm (tre, nứa, bương, giang), thực vật gắn liền với ẩm thực truyền thống (rau rừng, củ mài, măng, lúa nếp nương).
- Thế giới động vật: các loài thú rừng, chim muông, thủy sản suối khe, gia súc gia cầm gắn liền với săn bắt và chăn nuôi.
- Đồ vật, dụng cụ sinh hoạt: nhà sàn, khung cửi, cối giã gạo, mủng, hông xôi, nồi đồng, chiêng cồng.
- Phản ánh các hiện tượng thiên nhiên: mưa, nắng, sấm, chớp, mây, trăng, sao, nguồn nước suối rừng, thể hiện sự quan sát tỉ mỉ quy luật tự nhiên phục vụ đời sống sản xuất nông nghiệp.
- BTNNSS và nhân sinh quan của người Mường:
- Đề cao con người: coi trọng phẩm giá, sức lao động, vẻ đẹp tự nhiên mộc mạc của con người vùng cao.
- Đề cao tính cộng đồng làng xóm: tinh thần tương thân tương ái, gắn bó bản mường (Èng xà lang cung thường - Ụn xà mương cúng qụy), tục lệ chia sẻ miếng ăn, phong tục để tang người cùng làng và người ăn mày.
- Đề cao nguyên tắc trọng tình và danh dự: lối ứng xử hòa thuận, nhường nhịn (Nói nhau đừng nói nặng – Mắng nhau đừng mắng đau), trọng lời hứa, coi danh dự quý hơn bạc vàng.
- Quan niệm về quan hệ gia đình: tình nghĩa vợ chồng son sắt, vị trí của cha mẹ như rường cột ngôi nhà sàn (Có bố có mẹ như nhà có rường, cột), tình mẫu tử ruột thịt (Con là khúc ruột, chồng là gân cốt).
- Phê phán những hiện tượng tiêu cực trong xã hội: phê phán kẻ lười biếng, thói khoe khoang của cải, sự bất công xã hội thời phong kiến lang đạo.
- Quan niệm về lao động và kinh nghiệm sản xuất: đúc kết quy luật mùa vụ lúa ruộng, lúa rẫy (Tháng ba cày ải, tháng tư vãi mạ), kĩ năng khai thác lâm thổ sản và kinh nghiệm thích ứng với điều kiện tự nhiên.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lí luận:
- Luận án củng cố và phát triển hướng tiếp cận liên ngành giữa ngôn ngữ học, tâm lí học nhận thức và văn hóa học trong việc giải mã các biểu thức so sánh ở một ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Việt Nam.
- Luận án đã mô hình hóa cấu trúc BTNNSS tiếng Mường một cách tường minh, phân định rõ ràng dạng đầy đủ (với mô hình cơ sở 4 thành tố và các biến thể) và các dạng thức khuyết thiếu (khuyết 1 yếu tố, khuyết 2 yếu tố).
- Luận án chứng minh rằng thông qua sự lựa chọn các thực thể so sánh và cách thức thiết lập quan hệ so sánh, các BTNNSS tiếng Mường phản ánh sinh động mô hình nhận thức thế giới quan và hệ giá trị nhân sinh quan truyền thống của cộng đồng người Mường.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp một hệ thống ngữ liệu 1.571 BTNNSS tiếng Mường được xử lí, miêu tả, dịch nghĩa và phân tích định lượng, đóng góp nguồn cứ liệu cho kho tàng ngữ liệu ngôn ngữ học dân tộc.
- Kết quả nghiên cứu phục vụ trực tiếp cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ Mường, văn hóa Mường tại các trường đại học, viện nghiên cứu; cung cấp tài liệu cho việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt và nhóm ngôn ngữ Việt - Mường.
- Hỗ trợ công tác bảo tồn, lưu giữ và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Mường trong bối cảnh tiếng Mường đã có bộ chữ viết chính thức từ năm 2016.
- Đóng góp tài liệu tham khảo cho hoạt động sáng tác văn học, dịch thuật ngữ liệu dân gian và giao tiếp ngôn ngữ thường nhật.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Cần tiếp tục đẩy mạnh việc sưu tầm, ghi âm, phiên âm và số hóa các tác phẩm văn học dân gian Mường (đang, xường, ví đúm, mo Mường) để bảo tồn các biểu thức ngôn ngữ cổ truyền.
- Đưa các ngữ liệu và tri thức về biểu thức so sánh tiếng Mường vào chương trình giảng dạy ngữ văn, văn hóa địa phương tại các tỉnh có đông đồng bào Mường sinh sống như Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ, Sơn La.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án tập trung khảo sát nguồn ngữ liệu thành văn từ 8 tập sách sưu tầm, biên dịch tục ngữ và dân ca Mường đã xuất bản của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, chưa bao quát toàn bộ các thể loại truyền miệng khác như Mo Mường, truyện cổ hoặc lời ăn tiếng nói trong giao tiếp khẩu ngữ sinh hoạt hàng ngày. Luận án chủ động khu biệt phạm vi vào các BTNNSS tường minh, không khảo sát các biểu thức so sánh ngầm khuyết đồng thời ba yếu tố (phương tiện ẩn dụ). Việc đối chiếu so sánh với tiếng Việt mới dừng lại ở bước đầu, chưa thực hiện khảo sát đối chiếu song song toàn diện trên tất cả các tiêu chí thống kê.
Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án mở ra khả năng mở rộng phạm vi khảo sát sang các thể loại diễn xướng dân gian quy mô lớn như Mo Mường, khảo sát ngôn ngữ giao tiếp đời thường của người Mường hiện đại; đồng thời triển khai các nghiên cứu so sánh đối chiếu liên ngôn ngữ chuyên sâu giữa tiếng Mường với tiếng Việt và các ngôn ngữ khác trong ngữ tộc Việt - Mường hoặc ngữ hệ Nam Á.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều đối tượng nghiên cứu và đào tạo:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Ngôn ngữ học: luận án cung cấp khung lí thuyết hoàn chỉnh và quy trình thao tác phân tích cấu tạo thành tố biểu thức so sánh, phương pháp xử lí ngữ liệu liên ngành ngôn ngữ - văn hóa.
- Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, dân tộc học: Chương 3 của luận án là tài liệu phân tích hệ giá trị thế giới quan, nhân sinh quan tộc người qua lăng kính ngôn từ, hỗ trợ việc giảng dạy văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam.
- Đối với các nhà quản lí văn hóa, giáo dục tại địa phương (Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ): tài liệu cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng tài liệu giáo dục địa phương, bảo tồn tiếng nói và chữ viết tiếng Mường theo Quyết định 2295/QĐ-UBND.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát bao nhiêu biểu thức ngôn ngữ so sánh và phân bổ tỉ lệ giữa dạng đầy đủ và dạng khuyết thiếu như thế nào?
Luận án khảo sát tổng số 1.571 BTNNSS tiếng Mường từ 8 công trình sưu tầm, biên dịch tục ngữ và dân ca Mường đã xuất bản. Trong đó, BTNNSS dạng đầy đủ gồm 723 biểu thức (chiếm 46%), BTNNSS dạng khuyết thiếu gồm 848 biểu thức (chiếm 54%).
2. Mô hình cơ sở chung của biểu thức ngôn ngữ so sánh dạng đầy đủ trong tiếng Mường gồm những thành tố nào?
Mô hình cơ sở chung (dạng i) của BTNNSS dạng đầy đủ gồm 4 thành tố sắp xếp theo trật tự: Thực thể được so sánh (A) - Phương diện được so sánh (x) - Từ ngữ so sánh (T) - Thực thể so sánh (B). Dạng mô hình cơ sở này chiếm tỉ lệ cao nhất trong các dạng đầy đủ với 538 biểu thức (chiếm 74,4%).
3. Những dạng khuyết thiếu nào của biểu thức ngôn ngữ so sánh được luận án mô tả?
Luận án phân tích hai nhóm khuyết thiếu:
- Khuyết 1 yếu tố: gồm khuyết thực thể được so sánh (khuyết A) và khuyết phương diện được so sánh (khuyết x).
- Khuyết 2 yếu tố: gồm khuyết thực thể được so sánh và phương diện so sánh (khuyết A + x), khuyết phương diện so sánh và từ ngữ so sánh (khuyết x + T), khuyết phương diện so sánh và thực thể so sánh (khuyết x + B). Dạng khuyết 3 yếu tố (so sánh ngầm/ẩn dụ) bị loại khỏi phạm vi nghiên cứu.
4. Dấu ấn văn hóa thế giới quan của người Mường được phản ánh qua những nhóm thực thể so sánh nào trong luận án?
Thế giới quan của người Mường được thể hiện qua việc lựa chọn các thực thể so sánh thuộc môi trường tự nhiên vùng Tây Bắc, bao gồm: thực vật thân gỗ, thực vật thân mềm (tre, nứa), thực vật liên quan đến ẩm thực (rau rừng, củ mài, lúa nếp), thế giới động vật (muông thú rừng, thủy sản khe suối, vật nuôi), đồ vật dụng cụ sinh hoạt (nhà sàn, cối giã gạo, hông xôi, chiêng cồng) và các hiện tượng tự nhiên (trời, trăng, mây, mưa, nắng, suối nguồn).
5. Chữ viết chính thức của tiếng Mường được ban hành vào thời điểm nào được văn bản luận án trích dẫn?
Theo văn bản luận án, tiếng Mường có chữ viết chính thức vào ngày 08 tháng 9 năm 2016 theo Quyết định số 2295/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc phê chuẩn bộ chữ dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình.
Kết luận
Luận án "Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường" của tác giả Lưu Văn Minh là một công trình nghiên cứu ngôn ngữ học liên ngành, giải quyết toàn diện vấn đề cấu tạo ngữ pháp và giá trị biểu đạt văn hóa của 1.571 biểu thức so sánh trong tục ngữ, dân ca Mường. Công trình đã xác lập mô hình cấu trúc 4 thành tố của dạng đầy đủ cùng các biến thể và các kiểu dạng khuyết thiếu, đồng thời làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và nhận thức thế giới quan, nhân sinh quan của tộc người Mường. Đây là nguồn tư liệu khoa học có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu ngữ tộc Việt - Mường, giảng dạy ngôn ngữ - văn hóa dân tộc và hỗ trợ bảo tồn di sản văn hóa truyền thống của đồng bào Mường tại Việt Nam.