Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận: Chƣơng này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu và tập trung giới thiệu những vấn đề lí thuyết quan yếu nhất liên quan trực tiếp đến đề tài của luận án, đó là: lý thuyết về so sánh và BTNNSS. Từ đó, những định hƣớng của việc vận dụng các lý thuyết đó vào việc nghiên cứu đề tài đƣợc đƣa ra. Cấu tạo của biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường: Chƣơng này triển khai khảo sát, phân loại và miêu tả đặc điểm cấu tạo, các dạng thức của BTNNSS dạng đầy đủ và dạng khuyết thiếu trong tiếng Mƣờng.
Từ đó, luận án đi đến những khái quát chung về mô hình cấu trúc của BTNNSS trong tiếng Mƣờng. Biểu thức ngôn ngữ so sánh và đặc trưng văn hóa Mường: Trong chƣơng này, luận án tập trung nghiên cứu 2 nội dung: BTNNSS và thế giới quan của ngƣời Mƣờng; BTNNSS và nhân sinh quan của ngƣời Mƣờng. Từ đó, luận án khẳng định đặc điểm văn hóa Mƣờng in đậm trong cách nhìn, cách lựa chọn thực thể so sách và cách tạo lập BTNNSS. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về so sánh 1. Nghiên cứu về so sánh từ góc độ phong cách học Từ xa xƣa, so sánh là đối tƣợng nghiên cứu của lĩnh vực ngôn từ trong thơ ca. Lịch sử nghiên cứu phƣơng thức nghệ thuật trong văn thơ nói chung và thủ pháp so sánh nói riêng gắn liền với tên tuổi của nhà triết học, nhà hùng biện lỗi lạc của Hy Lạp cổ đại Aristotle (384-322 TCN).
Dựa vào ngữ liệu thơ ca Hy Lạp, Aristotle nhận thấy rằng cách thay đổi từ ngữ mang tính chất tâm lí dựa trên quan hệ liên tƣởng, đối chiếu sẽ có tác dụng tăng cƣờng khả năng diễn đạt và nâng cao hiệu lực của lời nói. Lối nói này đƣợc gọi theo tiếng La tinh là Figura (ngữ hình), nghĩa là hình thức bóng bảy. Truyền thống ngữ văn sau này gọi cách sử dụng ngôn từ này là tu từ, mĩ từ pháp hay hình thể ngôn từ. Trong một chuyên luận của mình có tên Poetica (Thi học), Aristotle đã tổng kết các Figura chủ yếu, có tính phổ dụng trong đó có thủ pháp so sánh, đặc biệt đắc dụng trong thơ ca để tăng hiệu lực nhận thức cho ngƣời tiếp nhận văn bản nghệ thuật.
Ở Trung Hoa cổ đại, thời kì trƣớc Aristotle, tƣ tƣởng về so sánh cũng đƣợc quan tâm từ rất sớm, cụ thể bộc lộ qua những lời bình giải về hai thể tỉ và hứng trong thơ ca dân gian. Trong các công trình nghiên cứu về so sánh, các học giả Trung Hoa thƣờng dùng khái niệm thể tỉ, hứng nhƣ một phƣơng thức nghệ thuật để chỉ cách nói ví von, bóng gió. Ở Việt Nam, từ năm 1958 khi Bộ môn Tu từ học chính thức đƣợc đƣa vào giảng dạy ở bậc đại học thì tên gọi thủ pháp so sánh mới ra đời. Bộ môn Tu từ học ra đời đã tạo điều kiện cho việc nghiên cứu các biện pháp tu từ trong đó thủ pháp so sánh đƣợc sâu hơn.
So sánh là một cách nói sinh động hơn ngôn ngữ bình thƣờng và thƣờng để gợi cảm xúc, ý tƣởng bằng sự chính xác hay độc đáo 7 của nó. Đối với các nhà ngôn ngữ học thì về bản chất, thủ pháp so sánh là sự vận dụng quy tắc để tạo nên sự biểu đạt tốt, có hiệu lực (Cù Đình Tú, Lê Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ); nó cũng là cách để công khai đối chiếu hai đối tƣợng có một dấu hiệu chung nào đó nhằm biểu hiện một cách hình tƣợng phẩm chất bên trong của đối tƣợng (Nguyễn Thái Hòa), và là một phƣơng tiện để nhận thức chứ không phải để diễn đạt, nó cung cấp cho ta những liên hệ mới mẻ, làm giàu có đời sống tinh thần (Hà Quang Năng). Cho đến nay, so sánh là đối tƣợng nghiên cứu thuộc nhiều phân ngành của ngôn ngữ học. Nhƣng tiêu biểu hơn vẫn là xu hƣớng nghiên cứu so sánh nhƣ một biện pháp tu từ với những gƣơng mặt điển hình nhƣ: Đinh Trọng Lạc, Bùi Minh Toán, Nguyễn Thế Lịch, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa, Đào Thản, Hoàng Trọng Phiến, Hữu Đạt.
Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả này đã đề cập đến việc hình thành khái niệm so sánh, cấu trúc so sánh, các kiểu so sánh và hiệu quả sử dụng của so sánh. Những lí thuyết về so sánh trên đây là cơ sở quan trọng để các nhà nghiên cứu sau tham khảo theo hƣớng đi sâu vào nghiên cứu biện pháp so sánh trong thơ ca. Hƣớng thứ nhất, các tác giả sử dụng ngữ liệu là sáng tác dân gian để đi sâu nghiên cứu về biện pháp tu từ so sánh. Các nghiên cứu tiêu biểu theo hƣớng này nhƣ: Trƣơng Đông San với Thành ngữ so sánh trong tiếng Việt [113]; Hà Quang Năng với Đặc điểm vế so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng Việt [95]; Chu Bích Thu với Cơ sở logic - ngữ nghĩa của thành ngữ so sánh và lối so sánh ẩn dụ trong thơ và ca dao [144]; Nguyễn Thúy Khanh với Một vài nhận xét về thành ngữ so sánh có tên gọi động vật [74]; Đỗ Thị Kim Liên với Các phương tiện biểu thị quan hệ so sánh trong các phát ngôn tục ngữ Việt có nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc [87]; Bùi Thị Thi Thơ với Mối quan hệ giữa hình ảnh và ý nghĩa biểu trưng trong thành ngữ so sánh tiếng Việt [137]; Hoàng Kim Ngọc với So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình của người Việt (dưới góc nhìn ngôn ngữ, văn hóa học) [99]; Nguyễn Văn Nở với Dấu ấn văn hóa - dân tộc qua chất liệu 8 biểu trưng đồ dùng trong tục ngữ Việt Nam [102]; Hà Thị Chuyên với So sánh trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân tộc Tày [24],… Trong các công trình này, một số tác giả đã chỉ ra những dấu ấn văn hóa đƣợc lƣu giữ trong phƣơng tiện tu từ so sánh.
Ví nhƣ, luận án của Hà Thị Chuyên, ngoài việc hệ thống hóa các công trình nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu về thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày đƣợc cấu tao theo cấu trúc so sánh, tác giả đã phân tích ngữ liệu để từ đó chỉ ra đặc điểm về hình thức, ngữ nghĩa và những nét văn hóa, tƣ duy đƣợc ẩn chứa trong so sánh của thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày. Hƣớng thứ hai, các tác giả sử dụng ngữ liệu là những sáng tác văn học viết để nghiên cứu biện pháp so sánh, từ đó thấy đƣợc nét riêng, phong cách của một số nhà văn khi sử dụng so sánh. Các nghiên cứu theo hƣớng này thƣờng là những đề tài nghiên cứu của luận văn, luận án nhƣ: Trần Thị Thùy Linh với Nghiên cứu thủ pháp so sánh trong tiểu thuyết của Chu Lai và Lê Lựu [83]; Trịnh Thị Khánh Phƣơng với Các biện pháp tu từ trong truyện ngắn Ma Văn Kháng sau 1980: So sánh và ẩn dụ [108]; Lê Thị Nhƣ Nguyệt với So sánh và ẩn dụ tu từ trong thơ Xuân Quỳnh [100],. Ngoài các nghiên cứu là đề tài nêu trên, còn có nhiều bài báo đề cập đến biện pháp tu từ so sánh nhƣ: Nguyễn Thị Ngân Hoa với “Sự thay đổi chuẩn so sánh và giá trị biểu hiện của cấu trúc so sánh tu từ trong thơ Xuân Diệu” [58]; Nguyễn Thị Hạnh Phƣơng với “Đặc điểm cấu trúc so sánh tu từ trong thơ Tố Hữu và Chế Lan Viên” [107]; … Những bài viết trên tiếp tục nghiên cứu về biện pháp so sánh trong thơ ca của các tác giả cụ thể theo quan điểm phong cách học truyền thống.
Nghiên cứu về so sánh từ góc độ liên ngành tâm lí học - ngôn ngữ học - văn hóa học Vào những năm đầu thế kỉ XXI, bên cạnh hƣớng tiếp cận so sánh theo lối truyền thống của phong cách học, một số hƣớng tiếp cận mới về so sánh đã manh nha xuất hiện. Trong đó, đáng chú ý là cách tiếp cận của nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nguyễn Đức Tồn. Ông đã tiếp cận so sánh theo hƣớng ngôn ngữ học 9 tâm lí và lí thuyết giao tiếp để nghiên cứu về Chiến lược liên tưởng - so sánh có định hướng [143, 533]. Trong công trình của mình, tác giả đã nghiên cứu phản ứng trong tƣ duy của ngƣời Việt để “miêu tả” một số bộ phận của cơ thể ngƣời bằng cách so sánh.
Kết thúc thực nghiệm, tác giả kết luận: mỗi thuộc tính của cơ thể ngƣời đƣợc ngƣời Việt so sánh với những vật chuẩn khác nhau. Từ đó, tác giả nghiên cứu cụ thể về phạm vi thực tế khách quan để chọn làm vật chuẩn cho sự so sánh, phẩm chất liên tƣởng của một số biểu vật đƣợc ngƣời Việt sử dụng làm chuẩn so sánh và một số vật chuẩn so sánh của thuộc tính bộ phận cơ thể ngƣời. Những kết quả nghiên cứu của tác giả đã mở ra cách tiếp cận mới trong nghiên cứu về so sánh: tiếp cận liên ngành giữa ngôn ngữ học và tâm lí học. Những năm gần đây, việc nghiên cứu so sánh theo hƣớng tiếp cận liên ngành của tâm lí học, ngôn ngữ học và văn hóa học đã đƣợc quan tâm.
Luận án Biểu thức so sánh trong tiếng Việt [103] của Trần Thị Oanh đã tiếp cận theo hƣớng này. Qua nghiên cứu BTNNSS trong tiếng Việt, tác giả khẳng định mục đích của so sánh không dừng lại ở việc chỉ ra sự giống / khác nhau; hơn / kém nhau; hoặc là bằng / không bằng nhau mà so sánh có thể để tả, kể, xác nhận, khen, chê, yêu cầu, đề nghị,… hƣớng tới những hành động ngôn ngữ cụ thể. Thông qua việc tìm hiểu nội dung của các BTNNSS, tác giả đã chỉ ra dấu ấn văn hóa thế giới quan và nhân sinh quan của ngƣời Việt. Hƣớng tiếp cận này là một gợi ý tốt cho chúng tôi nghiên cứu luận án này.
Tình hình nghiên cứu về tiếng Mường và biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường 1. Nghiên cứu về tiếng Mường Dân tộc Mƣờng là một dân tộc có số dân đông. Theo kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế xã hội của 53 dân tộc thiểu số thời điểm ngày 01 tháng 4 năm 2019 của Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê, ngƣời Mƣờng có dân số 1. Dân tộc Mƣờng có nền văn hóa lâu đời, nhƣng cho đến ngày 08 tháng 9 năm 2016 tiếng Mƣờng mới có chữ viết chính 10 thức (Quyết định số 2295/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hòa Bình về việc phê chuẩn bộ chữ dân tộc Mƣờng tỉnh Hòa Bình).