Luận Án Tiến Sĩ: Nghiên Cứu Biểu Thức Ngôn Ngữ So Sánh Trong Tiếng Mường

Luận án tiến sĩ phân tích biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường, làm rõ đặc điểm và cấu trúc ngữ pháp độc đáo của ngôn ngữ này.

Chuyên ngành

Ngữ văn (Ngôn ngữ học)

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2023

174
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1. Tình hình nghiên cứu về so sánh

1.1.2. Tình hình nghiên cứu về tiếng Mường và biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường

1.2. KHÁI QUÁT VỀ TỤC NGỮ, DÂN CA MƯỜNG

1.2.1. Cơ sở ngôn ngữ học

1.2.2. Cơ sở tâm lí học

2. CHƯƠNG 2: CẤU TẠO CỦA BIỂU THỨC NGÔN NGỮ SO SÁNH TRONG TIẾNG MƯỜNG

2.1. Thống kê và cấu tạo biểu thức ngôn ngữ so sánh dạng đầy đủ trong tiếng Mường

2.1.1. Biểu thức ngôn ngữ so sánh dạng đầy đủ (mô hình chung)

2.1.2. Biểu thức ngôn ngữ so sánh dạng đầy đủ có biến thể

2.2. Thống kê và cấu tạo biểu thức ngôn ngữ so sánh dạng khuyết thiếu trong tiếng Mường

2.2.1. Biểu thức ngôn ngữ so sánh dạng khuyết thiếu một yếu tố

2.2.2. Biểu thức ngôn ngữ so sánh dạng khuyết thiếu hai yếu tố

3. CHƯƠNG 3: BIỂU THỨC NGÔN NGỮ SO SÁNH VÀ ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA MƯỜNG

3.1. BIỂU THỨC NGÔN NGỮ SO SÁNH VÀ THẾ GIỚI QUAN CỦA NGƯỜI MƯỜNG

3.1.1. Biểu thức ngôn ngữ so sánh và đặc trưng văn hóa vùng miền

3.1.2. Biểu thức ngôn ngữ so sánh có thực thể so sánh là hiện tượng thiên nhiên

3.2. BIỂU THỨC NGÔN NGỮ SO SÁNH VÀ NHÂN SINH QUAN CỦA NGƯỜI MƯỜNG

3.2.1. Biểu thức ngôn ngữ so sánh và việc đề cao con người

3.2.2. Biểu thức ngôn ngữ so sánh và việc đề cao tính cộng đồng làng xóm

3.2.3. Biểu thức ngôn ngữ so sánh và việc đề cao nguyên tắc trọng tình, đề cao danh dự

3.2.4. Biểu thức ngôn ngữ so sánh và quan niệm về mối quan hệ trong gia đình

3.2.5. Biểu thức ngôn ngữ so sánh và việc phê phán những cái xấu trong xã hội

3.2.6. Biểu thức ngôn ngữ so sánh và quan niệm về lao động, kinh nghiệm sản xuất

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường

Luận án tập trung nghiên cứu biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường, một khía cạnh quan trọng của ngôn ngữ Mường. Các biểu thức ngôn ngữ so sánh được phân tích chi tiết về cấu trúc, chức năng và ý nghĩa văn hóa. Nghiên cứu này không chỉ làm sáng tỏ đặc điểm ngôn ngữ mà còn khám phá ngữ nghĩangữ nghĩa tiềm ẩn trong các biểu thức so sánh. Qua đó, luận án góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của người Mường.

1.1. Cấu tạo biểu thức ngôn ngữ so sánh

Luận án phân tích cấu tạo của biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường, bao gồm dạng đầy đủ và dạng khuyết thiếu. Các biểu thức này được thống kê và phân loại dựa trên các yếu tố như thực thể so sánh, từ ngữ so sánh, và phương diện được so sánh. Nghiên cứu chỉ ra rằng, cấu trúc của các biểu thức so sánh trong tiếng Mường phản ánh cách tư duy và nhận thức của người Mường về thế giới xung quanh.

1.2. Ngữ nghĩa và ngữ cảnh

Nghiên cứu sâu về ngữ nghĩangữ cảnh của các biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường. Các biểu thức này không chỉ đơn thuần so sánh sự giống nhau hay khác biệt mà còn mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc. Ví dụ, việc sử dụng các thực thể như cây cối, động vật, hay hiện tượng thiên nhiên trong so sánh phản ánh mối quan hệ gần gũi giữa con người và tự nhiên trong văn hóa Mường.

II. So sánh trong tiếng Mường và văn hóa Mường

Luận án khám phá mối liên hệ giữa biểu thức ngôn ngữ so sánhvăn hóa Mường. Các biểu thức so sánh không chỉ là công cụ ngôn ngữ mà còn là phương tiện lưu giữ và truyền tải các giá trị văn hóa. Nghiên cứu chỉ ra rằng, cách người Mường sử dụng so sánh phản ánh thế giới quannhân sinh quan của họ, bao gồm sự tôn trọng cộng đồng, đề cao danh dự, và quan niệm về lao động.

2.1. Thế giới quan của người Mường

Các biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường phản ánh thế giới quan của người Mường, đặc biệt là mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Ví dụ, việc so sánh con người với cây cối hay động vật thể hiện sự gắn bó sâu sắc với môi trường tự nhiên. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các biểu thức so sánh thường sử dụng các hiện tượng thiên nhiên như mưa, gió, và mặt trời để diễn đạt ý nghĩa.

2.2. Nhân sinh quan của người Mường

Luận án phân tích cách biểu thức ngôn ngữ so sánh phản ánh nhân sinh quan của người Mường, bao gồm sự đề cao tính cộng đồng, nguyên tắc trọng tình, và quan niệm về lao động. Các biểu thức so sánh thường sử dụng các thực thể như làng xóm, gia đình, và công việc để diễn đạt các giá trị văn hóa này. Qua đó, nghiên cứu khẳng định vai trò của ngôn ngữ trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa Mường.

III. Phương pháp nghiên cứu và đóng góp của luận án

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích ngữ nghĩa, thống kê, và so sánh đối chiếu để khám phá biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường. Nghiên cứu không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về ngôn ngữ Mường mà còn đóng góp vào việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc. Các kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn trong việc giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa Mường.

3.1. Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng các phương pháp như miêu tả, phân tích thành tố ngôn ngữ, và thống kê để nghiên cứu biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường. Các phương pháp này giúp làm rõ cấu trúc, ngữ nghĩa, và ý nghĩa văn hóa của các biểu thức so sánh. Ngoài ra, phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng để tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa tiếng Mường và tiếng Việt.

3.2. Đóng góp của luận án

Luận án đóng góp vào việc củng cố lý thuyết về biểu thức ngôn ngữ so sánh và mở ra hướng nghiên cứu liên ngành giữa ngôn ngữ học, tâm lý học, và văn hóa học. Các kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn trong việc giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa Mường. Đồng thời, luận án cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu và người học về tiếng Mường.

13/02/2025
Luận án tiến sĩ biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng mường

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận: Chƣơng này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu và tập trung giới thiệu những vấn đề lí thuyết quan yếu nhất liên quan trực tiếp đến đề tài của luận án, đó là: lý thuyết về so sánh và BTNNSS. Từ đó, những định hƣớng của việc vận dụng các lý thuyết đó vào việc nghiên cứu đề tài đƣợc đƣa ra. Cấu tạo của biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường: Chƣơng này triển khai khảo sát, phân loại và miêu tả đặc điểm cấu tạo, các dạng thức của BTNNSS dạng đầy đủ và dạng khuyết thiếu trong tiếng Mƣờng.

Từ đó, luận án đi đến những khái quát chung về mô hình cấu trúc của BTNNSS trong tiếng Mƣờng. Biểu thức ngôn ngữ so sánh và đặc trưng văn hóa Mường: Trong chƣơng này, luận án tập trung nghiên cứu 2 nội dung: BTNNSS và thế giới quan của ngƣời Mƣờng; BTNNSS và nhân sinh quan của ngƣời Mƣờng. Từ đó, luận án khẳng định đặc điểm văn hóa Mƣờng in đậm trong cách nhìn, cách lựa chọn thực thể so sách và cách tạo lập BTNNSS. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về so sánh 1. Nghiên cứu về so sánh từ góc độ phong cách học Từ xa xƣa, so sánh là đối tƣợng nghiên cứu của lĩnh vực ngôn từ trong thơ ca. Lịch sử nghiên cứu phƣơng thức nghệ thuật trong văn thơ nói chung và thủ pháp so sánh nói riêng gắn liền với tên tuổi của nhà triết học, nhà hùng biện lỗi lạc của Hy Lạp cổ đại Aristotle (384-322 TCN).

Dựa vào ngữ liệu thơ ca Hy Lạp, Aristotle nhận thấy rằng cách thay đổi từ ngữ mang tính chất tâm lí dựa trên quan hệ liên tƣởng, đối chiếu sẽ có tác dụng tăng cƣờng khả năng diễn đạt và nâng cao hiệu lực của lời nói. Lối nói này đƣợc gọi theo tiếng La tinh là Figura (ngữ hình), nghĩa là hình thức bóng bảy. Truyền thống ngữ văn sau này gọi cách sử dụng ngôn từ này là tu từ, mĩ từ pháp hay hình thể ngôn từ. Trong một chuyên luận của mình có tên Poetica (Thi học), Aristotle đã tổng kết các Figura chủ yếu, có tính phổ dụng trong đó có thủ pháp so sánh, đặc biệt đắc dụng trong thơ ca để tăng hiệu lực nhận thức cho ngƣời tiếp nhận văn bản nghệ thuật.

Ở Trung Hoa cổ đại, thời kì trƣớc Aristotle, tƣ tƣởng về so sánh cũng đƣợc quan tâm từ rất sớm, cụ thể bộc lộ qua những lời bình giải về hai thể tỉ và hứng trong thơ ca dân gian. Trong các công trình nghiên cứu về so sánh, các học giả Trung Hoa thƣờng dùng khái niệm thể tỉ, hứng nhƣ một phƣơng thức nghệ thuật để chỉ cách nói ví von, bóng gió. Ở Việt Nam, từ năm 1958 khi Bộ môn Tu từ học chính thức đƣợc đƣa vào giảng dạy ở bậc đại học thì tên gọi thủ pháp so sánh mới ra đời. Bộ môn Tu từ học ra đời đã tạo điều kiện cho việc nghiên cứu các biện pháp tu từ trong đó thủ pháp so sánh đƣợc sâu hơn.

So sánh là một cách nói sinh động hơn ngôn ngữ bình thƣờng và thƣờng để gợi cảm xúc, ý tƣởng bằng sự chính xác hay độc đáo 7 của nó. Đối với các nhà ngôn ngữ học thì về bản chất, thủ pháp so sánh là sự vận dụng quy tắc để tạo nên sự biểu đạt tốt, có hiệu lực (Cù Đình Tú, Lê Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ); nó cũng là cách để công khai đối chiếu hai đối tƣợng có một dấu hiệu chung nào đó nhằm biểu hiện một cách hình tƣợng phẩm chất bên trong của đối tƣợng (Nguyễn Thái Hòa), và là một phƣơng tiện để nhận thức chứ không phải để diễn đạt, nó cung cấp cho ta những liên hệ mới mẻ, làm giàu có đời sống tinh thần (Hà Quang Năng). Cho đến nay, so sánh là đối tƣợng nghiên cứu thuộc nhiều phân ngành của ngôn ngữ học. Nhƣng tiêu biểu hơn vẫn là xu hƣớng nghiên cứu so sánh nhƣ một biện pháp tu từ với những gƣơng mặt điển hình nhƣ: Đinh Trọng Lạc, Bùi Minh Toán, Nguyễn Thế Lịch, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa, Đào Thản, Hoàng Trọng Phiến, Hữu Đạt.

Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả này đã đề cập đến việc hình thành khái niệm so sánh, cấu trúc so sánh, các kiểu so sánh và hiệu quả sử dụng của so sánh. Những lí thuyết về so sánh trên đây là cơ sở quan trọng để các nhà nghiên cứu sau tham khảo theo hƣớng đi sâu vào nghiên cứu biện pháp so sánh trong thơ ca. Hƣớng thứ nhất, các tác giả sử dụng ngữ liệu là sáng tác dân gian để đi sâu nghiên cứu về biện pháp tu từ so sánh. Các nghiên cứu tiêu biểu theo hƣớng này nhƣ: Trƣơng Đông San với Thành ngữ so sánh trong tiếng Việt [113]; Hà Quang Năng với Đặc điểm vế so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng Việt [95]; Chu Bích Thu với Cơ sở logic - ngữ nghĩa của thành ngữ so sánh và lối so sánh ẩn dụ trong thơ và ca dao [144]; Nguyễn Thúy Khanh với Một vài nhận xét về thành ngữ so sánh có tên gọi động vật [74]; Đỗ Thị Kim Liên với Các phương tiện biểu thị quan hệ so sánh trong các phát ngôn tục ngữ Việt có nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc [87]; Bùi Thị Thi Thơ với Mối quan hệ giữa hình ảnh và ý nghĩa biểu trưng trong thành ngữ so sánh tiếng Việt [137]; Hoàng Kim Ngọc với So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình của người Việt (dưới góc nhìn ngôn ngữ, văn hóa học) [99]; Nguyễn Văn Nở với Dấu ấn văn hóa - dân tộc qua chất liệu 8 biểu trưng đồ dùng trong tục ngữ Việt Nam [102]; Hà Thị Chuyên với So sánh trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao dân tộc Tày [24],… Trong các công trình này, một số tác giả đã chỉ ra những dấu ấn văn hóa đƣợc lƣu giữ trong phƣơng tiện tu từ so sánh.

Ví nhƣ, luận án của Hà Thị Chuyên, ngoài việc hệ thống hóa các công trình nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu về thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày đƣợc cấu tao theo cấu trúc so sánh, tác giả đã phân tích ngữ liệu để từ đó chỉ ra đặc điểm về hình thức, ngữ nghĩa và những nét văn hóa, tƣ duy đƣợc ẩn chứa trong so sánh của thành ngữ, tục ngữ, ca dao Tày. Hƣớng thứ hai, các tác giả sử dụng ngữ liệu là những sáng tác văn học viết để nghiên cứu biện pháp so sánh, từ đó thấy đƣợc nét riêng, phong cách của một số nhà văn khi sử dụng so sánh. Các nghiên cứu theo hƣớng này thƣờng là những đề tài nghiên cứu của luận văn, luận án nhƣ: Trần Thị Thùy Linh với Nghiên cứu thủ pháp so sánh trong tiểu thuyết của Chu Lai và Lê Lựu [83]; Trịnh Thị Khánh Phƣơng với Các biện pháp tu từ trong truyện ngắn Ma Văn Kháng sau 1980: So sánh và ẩn dụ [108]; Lê Thị Nhƣ Nguyệt với So sánh và ẩn dụ tu từ trong thơ Xuân Quỳnh [100],. Ngoài các nghiên cứu là đề tài nêu trên, còn có nhiều bài báo đề cập đến biện pháp tu từ so sánh nhƣ: Nguyễn Thị Ngân Hoa với “Sự thay đổi chuẩn so sánh và giá trị biểu hiện của cấu trúc so sánh tu từ trong thơ Xuân Diệu” [58]; Nguyễn Thị Hạnh Phƣơng với “Đặc điểm cấu trúc so sánh tu từ trong thơ Tố Hữu và Chế Lan Viên” [107]; … Những bài viết trên tiếp tục nghiên cứu về biện pháp so sánh trong thơ ca của các tác giả cụ thể theo quan điểm phong cách học truyền thống.

Nghiên cứu về so sánh từ góc độ liên ngành tâm lí học - ngôn ngữ học - văn hóa học Vào những năm đầu thế kỉ XXI, bên cạnh hƣớng tiếp cận so sánh theo lối truyền thống của phong cách học, một số hƣớng tiếp cận mới về so sánh đã manh nha xuất hiện. Trong đó, đáng chú ý là cách tiếp cận của nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nguyễn Đức Tồn. Ông đã tiếp cận so sánh theo hƣớng ngôn ngữ học 9 tâm lí và lí thuyết giao tiếp để nghiên cứu về Chiến lược liên tưởng - so sánh có định hướng [143, 533]. Trong công trình của mình, tác giả đã nghiên cứu phản ứng trong tƣ duy của ngƣời Việt để “miêu tả” một số bộ phận của cơ thể ngƣời bằng cách so sánh.

Kết thúc thực nghiệm, tác giả kết luận: mỗi thuộc tính của cơ thể ngƣời đƣợc ngƣời Việt so sánh với những vật chuẩn khác nhau. Từ đó, tác giả nghiên cứu cụ thể về phạm vi thực tế khách quan để chọn làm vật chuẩn cho sự so sánh, phẩm chất liên tƣởng của một số biểu vật đƣợc ngƣời Việt sử dụng làm chuẩn so sánh và một số vật chuẩn so sánh của thuộc tính bộ phận cơ thể ngƣời. Những kết quả nghiên cứu của tác giả đã mở ra cách tiếp cận mới trong nghiên cứu về so sánh: tiếp cận liên ngành giữa ngôn ngữ học và tâm lí học. Những năm gần đây, việc nghiên cứu so sánh theo hƣớng tiếp cận liên ngành của tâm lí học, ngôn ngữ học và văn hóa học đã đƣợc quan tâm.

Luận án Biểu thức so sánh trong tiếng Việt [103] của Trần Thị Oanh đã tiếp cận theo hƣớng này. Qua nghiên cứu BTNNSS trong tiếng Việt, tác giả khẳng định mục đích của so sánh không dừng lại ở việc chỉ ra sự giống / khác nhau; hơn / kém nhau; hoặc là bằng / không bằng nhau mà so sánh có thể để tả, kể, xác nhận, khen, chê, yêu cầu, đề nghị,… hƣớng tới những hành động ngôn ngữ cụ thể. Thông qua việc tìm hiểu nội dung của các BTNNSS, tác giả đã chỉ ra dấu ấn văn hóa thế giới quan và nhân sinh quan của ngƣời Việt. Hƣớng tiếp cận này là một gợi ý tốt cho chúng tôi nghiên cứu luận án này.

Tình hình nghiên cứu về tiếng Mường và biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Mường 1. Nghiên cứu về tiếng Mường Dân tộc Mƣờng là một dân tộc có số dân đông. Theo kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế xã hội của 53 dân tộc thiểu số thời điểm ngày 01 tháng 4 năm 2019 của Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê, ngƣời Mƣờng có dân số 1. Dân tộc Mƣờng có nền văn hóa lâu đời, nhƣng cho đến ngày 08 tháng 9 năm 2016 tiếng Mƣờng mới có chữ viết chính 10 thức (Quyết định số 2295/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hòa Bình về việc phê chuẩn bộ chữ dân tộc Mƣờng tỉnh Hòa Bình).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Biểu Thức Ngôn Ngữ So Sánh Trong Tiếng Mường - Phân Tích Chi Tiết" mang đến cái nhìn sâu sắc về cách thức sử dụng biểu thức so sánh trong ngôn ngữ Mường, một ngôn ngữ có giá trị văn hóa và lịch sử đặc biệt. Tài liệu không chỉ phân tích các cấu trúc ngôn ngữ mà còn khám phá ý nghĩa và vai trò của chúng trong việc thể hiện tư duy và cảm xúc của người Mường. Độc giả sẽ nhận được những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về ngôn ngữ và văn hóa của dân tộc này, từ đó có thể áp dụng kiến thức vào nghiên cứu ngôn ngữ học, văn hóa học hoặc các lĩnh vực liên quan.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ và văn hóa, hãy tham khảo các tài liệu như Luận án tiến sĩ ngữ âm tiếng kháng ở việt nam, nơi bạn có thể tìm hiểu về âm vị học của một ngôn ngữ khác tại Việt Nam. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học đối chiếu ẩn dụ ý niệm cái chết trên ngữ liệu tiếng việt và tiếng anh sẽ giúp bạn so sánh các biểu thức ngôn ngữ giữa tiếng Việt và tiếng Anh, mở rộng hiểu biết về cách mà các nền văn hóa khác nhau thể hiện những khái niệm tương tự. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về ngôn ngữ và văn hóa.