Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu (mã số: 9222024) của tác giả Phạm Thị Xuân Hà, được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Phạm Hùng Việt và TS. Trịnh Thị Hà (Hà Nội, 2023), tập trung nghiên cứu đề tài "Đối chiếu ẩn dụ ý niệm cái chết trên ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ẩn dụ theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận không đơn thuần là một biện pháp tu từ mang tính thẩm mỹ trong văn chương mà là một phương thức tư duy, cơ chế nhận thức giúp con người cấu trúc hóa các trải nghiệm trừu tượng thông qua các trải nghiệm cụ thể. Trong đời sống nhân loại, "cái chết" là một phạm trù mang tính phổ quát, một sự kiện sinh học tất yếu nhưng đồng thời cũng là một ý niệm trừu tượng, khó nắm bắt và là một đối tượng kiêng kị phổ biến trong giao tiếp xã hội. Con người tại các nền văn hóa khác nhau thường né tránh gọi tên trực tiếp sự kiện này và sử dụng các phương thức biểu đạt gián tiếp thông qua hệ thống ẩn dụ ý niệm và uyển ngữ.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: mặc dù đã có những công trình tiếp cận phạm trù cái chết từ góc độ danh học, ngữ nghĩa học hoặc nghiên cứu ẩn dụ trong văn bản thi ca, tôn giáo, nhưng chưa có công trình nào khảo sát và đối chiếu một cách hệ thống, chuyên sâu giữa tiếng Việt và tiếng Anh về ẩn dụ ý niệm "cái chết" trên thể loại diễn ngôn đời thường, đặc biệt là diễn ngôn chia sẻ, tưởng nhớ của người thân đối với người đã qua đời.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án xác định rõ 2 mục tiêu và 4 nhiệm vụ nghiên cứu:
-
Mục tiêu nghiên cứu:
- Làm rõ các loại ẩn dụ ý niệm về cái chết trong tiếng Việt và tiếng Anh.
- Đối chiếu nhằm làm rõ sự tương đồng và khác biệt của ẩn dụ ý niệm về cái chết trong hai ngôn ngữ dựa trên mối quan hệ tương tác giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm cái chết trên thế giới và ở Việt Nam, từ đó xác định khoảng trống nghiên cứu.
- Hệ thống hóa các nội dung lý luận của ẩn dụ ý niệm cùng các khái niệm liên quan để làm cơ sở lý luận cho công trình.
- Xác lập các biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ ý niệm về "cái chết" trong các diễn ngôn tiếng Việt và tiếng Anh, luận giải cơ chế ánh xạ từ miền nguồn vào miền đích "cái chết".
- Phân tích, so sánh, đối chiếu đặc điểm trong các biểu thức ẩn dụ ý niệm chỉ "cái chết" ở hai ngôn ngữ, tính tương hòa về văn hóa và sự tương hợp ẩn dụ trong hai khối ngữ liệu để chỉ ra, lý giải những điểm tương đồng và dị biệt, từ đó khẳng định mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các biểu thức ngôn ngữ chứa ẩn dụ ý niệm về "cái chết" trong tiếng Việt và tiếng Anh để tiến hành phân tích đối chiếu song song. Trọng tâm khảo sát là các miền nguồn thông dụng và cơ chế ánh xạ từ miền nguồn vào miền đích "cái chết" trong hai ngôn ngữ.
- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong phạm vi các diễn ngôn chia sẻ về cái chết dưới góc độ cảm xúc, nỗi buồn, niềm tin và sự an ủi đối với người trải nghiệm mất mát do người thân qua đời (bệnh tật, rủi ro), hoặc các chia sẻ, suy nghĩ của người đang trong tình cảnh hiểm nghèo cận kề cái chết. Phạm vi thời gian thu thập dữ liệu từ ngày 01/01/2019 đến ngày 31/07/2022. Luận án loại trừ các diễn ngôn về cái chết của những đối tượng gây bức xúc, phẫn nộ trong xã hội.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu liên quan đến phạm trù cái chết theo hai nhóm chính:
-
Nghiên cứu quốc tế:
- Nền tảng lý thuyết ẩn dụ tri nhận: George Lakoff và Mark Johnson (1980, 2003) với công trình Metaphors We Live By; Lakoff và Turner (1989) trong More than Cool Reason đã phân tích các mô hình ẩn dụ như CÁI CHẾT LÀ SỰ KHỞI HÀNH, CÁI CHẾT LÀ GIẤC NGỦ, CÁI CHẾT LÀ MÙA ĐÔNG, CÁI CHẾT LÀ SỰ GIẢI THOÁT.
- Nghiên cứu về cơ chế tâm lý và văn hóa: Allan & Burridge nghiên cứu điều kiêng kị và uyển ngữ liên quan đến cái chết dưới góc độ lý thuyết kiểm soát nỗi sợ hãi; Juana Marín-Arrese (1996) khảo sát ẩn dụ cái chết trong tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha qua lăng kính nghiệm thân và kinh nghiệm xã hội.
- Phân loại và khảo sát hệ thống: Bert Bultinck (1998) trong Metaphors We Die By phân loại 10 nhóm ẩn dụ ý niệm về cái chết trong từ điển tiếng Anh; Eliecer Crespo Fernández (2006) nghiên cứu uyển ngữ về cái chết.
- Nghiên cứu theo ngữ cảnh và đối chiếu ngôn ngữ: Adriaan L. (2011) nghiên cứu ẩn dụ không gian về cái chết trong Kinh thánh Hebrew; Zsófia D. khảo sát ẩn dụ trong môi trường y tế; Anashia N. (2018) nghiên cứu cáo phó tiếng Kenya; Moses Gatambuki Gathigia (2017) nghiên cứu tiếng Gĩkũyũ; Danijel Berković (2016) nghiên cứu chuyển động trong Thánh vịnh; Damaris G. (2012) nghiên cứu tiếng EkeGusii; Charles O. (2020) nghiên cứu đối chiếu tiếng Akan và Hebrew; Moses G. (2018) nghiên cứu đối chiếu 6 ngôn ngữ; Cong T. (2014) đối chiếu tiếng Anh và tiếng Trung; Mari A. (2014) đối chiếu điếu văn Anh - Anh và Anh - Mỹ.
-
Nghiên cứu trong nước:
- Góc độ danh học và ngữ nghĩa học: Nguyễn Đức Tồn và Huỳnh Thị Thanh Trà (1994) phân tích các phương thức định danh sự kết thúc cuộc đời con người qua 3 tiêu chí (nguồn gốc, kiểu ngữ nghĩa trực tiếp/gián tiếp chiếm 55%, và cách thức biểu thị).
- Góc độ ngôn ngữ học xã hội và uyển ngữ: Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2015), Đào Thị Kim Duyên (2015) khảo sát các từ kiêng kị, uyển ngữ chỉ cái chết trong tiếng Việt và đối chiếu với tiếng Khmer, tiếng Thái, tiếng Hán, tiếng Anh.
- Góc độ ngôn ngữ học tri nhận và văn hóa: Lê Thị Kiều Vân (2017) nghiên cứu cặp ý niệm "hồn - xác" và "soul" trong tâm thức người Việt và người Anh; Nguyễn Thị Bích Hạnh (2015) phân tích ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ định hướng về cái chết trong 227 ca khúc của Trịnh Công Sơn.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình đi trước chủ yếu tập trung vào ngữ liệu văn học, kinh điển tôn giáo, từ điển hoặc văn bản điếu văn trang trọng. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về việc nghiên cứu đối chiếu song song, toàn diện hệ thống ẩn dụ ý niệm (gồm ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ định hướng) trên khối ngữ liệu diễn ngôn đời thường mang tính tâm sự, tưởng nhớ thực tế từ truyền thông điện tử tại Việt Nam và Vương quốc Anh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Lý thuyết Ẩn dụ ý niệm (Conceptual Metaphor Theory): Dựa trên khung lý thuyết của George Lakoff, Mark Johnson (1980, 2003) và Zoltán Kövecses (2002, 2006). Ẩn dụ ý niệm được định nghĩa là sự ánh xạ có hệ thống từ miền nguồn (cụ thể) sang miền đích (trừu tượng). Luận án vận dụng 7 đặc điểm của ẩn dụ ý niệm: tính đơn hướng, tính che giấu và nhấn mạnh, tính hệ thống, tính tầng bậc, tính phổ quát, tính biến thiên văn hóa, và tính tương hòa văn hóa.
- Các khái niệm tri nhận cốt lõi: Phạm trù và phạm trù hóa (Eleanor Rosch, Lakoff 1982); ý niệm và ý niệm hóa (Trần Văn Cơ 2007, Lý Toàn Thắng 2004/2015, Nguyễn Thiện Giáp 2014); tính nghiệm thân (embodiment - Lakoff, Johnson, T. Rohrer); nguyên lý "dĩ nhân vi trung" và mô hình nhị nguyên thể xác - linh hồn; miền nguồn và miền đích (Ronald Langacker 1987); lược đồ hình ảnh (image schema - Evans & Green 2006); sự tương hợp ẩn dụ.
- Cơ sở lý thuyết liên ngành và ngôn ngữ học xã hội: Vận dụng lý thuyết ngôn ngữ học xã hội về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tôn giáo, hiện tượng kiêng kị ngôn ngữ (taboo), uyển ngữ (Nguyễn Văn Khang 2014, Hoàng Phê 2018), kết hợp tri thức sinh học, giải phẫu, tâm lý học và triết học phương Đông - phương Tây.
- Lý thuyết Ngôn ngữ học đối chiếu: Tiếp cận theo khung lý thuyết của Bùi Mạnh Hùng (2008) và khái niệm cơ sở so sánh (Tertium Comparationis - TC) của Tomasz P. Krzeszowski (1990). So sánh được thực hiện ở cấp độ vĩ mô, bình diện từ vựng (dụ dẫn ẩn dụ) trên quan điểm đồng đại.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp miêu tả: Miêu tả các mô hình ẩn dụ, cơ chế ánh xạ, sự chuyển di thuộc tính giữa hai miền và tính dụng học của ẩn dụ.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Áp dụng phương thức đối chiếu hai chiều giữa tiếng Việt và tiếng Anh để xác định các điểm tương đồng và dị biệt.
- Cách tiếp cận liên ngành: Kết hợp ngôn ngữ học với triết học, tôn giáo học, văn hóa học, tâm lý học và sinh học để lý giải nguồn gốc các mô hình tri nhận.
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Thống kê tần suất xuất hiện của các dụ dẫn, tiểu loại ẩn dụ, lập bảng ma trận đối chiếu.
Quy trình nhận diện và xử lý ngữ liệu
Luận án áp dụng Quy trình nhận diện ẩn dụ MIP (Metaphor Identification Procedure) do nhóm Pragglejaz (2007) đề xuất gồm 4 bước:
- Bước 1: Đọc toàn bộ diễn ngôn để nắm hiểu biết chung về ngữ cảnh.
- Bước 2: Xác định các đơn vị từ vựng tiềm năng mang nghĩa ẩn dụ.
- Bước 3: Xác định nghĩa ngữ cảnh, đối chiếu với nghĩa cơ bản (cụ thể, trực tiếp, liên quan đến cơ thể/lịch sử) để xác định sự xung đột ngữ nghĩa.
- Bước 4: Đánh dấu đơn vị từ vựng là ẩn dụ, quy loại miền nguồn/miền đích và thiết lập sơ đồ ánh xạ.
Nguồn ngữ liệu nghiên cứu
Ngữ liệu được thu thập trong giai đoạn từ tháng 01/2019 đến tháng 07/2022:
| Khối ngữ liệu |
Nguồn trích xuất |
Số lượng diễn ngôn |
Số lượng biểu thức ẩn dụ |
Mã hóa ngữ liệu |
| Tiếng Việt |
Chuyên mục "Tâm sự", "Tưởng nhớ nạn nhân Covid-19" (vnexpress.net); "Nhân ái", "Sức khỏe" (dantri.vn) |
490 |
529 |
V1 đến V490 |
| Tiếng Anh |
Chuyên mục "Personal stories" trên hopeagain.com, cancerresearchuk.org và các trang tin uy tín |
506 |
525 |
A1 đến A506 |
| Tổng cộng |
|
996 |
1054 |
|
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của luận án
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về ẩn dụ cái chết trên thế giới và tại Việt Nam, đồng thời xây dựng khung lý thuyết toàn diện cho luận án. Tác giả tổng thuật các cách tiếp cận từ tu từ học truyền thống đến ngôn ngữ học tri nhận hiện đại, phân tích 10 nhóm ẩn dụ của Bultinck (1998) và các nghiên cứu uyển ngữ của Nguyễn Đức Tồn, Huỳnh Thị Thanh Trà, Nguyễn Thị Hồng Hạnh.
Nội dung trọng tâm của chương là xác lập khung phân tích dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết ẩn dụ ý niệm của Lakoff & Johnson, quy trình nhận diện MIP (Pragglejaz 2007), nguyên tắc đối chiếu ngôn ngữ (Bùi Mạnh Hùng 2008), cùng các cơ sở tri thức liên ngành (sinh học về biến đổi cơ thể sau chết, triết học phương Đông - phương Tây, tâm lý học kiểm soát nỗi sợ hãi, niềm tin tôn giáo và tín ngưỡng dân gian).
Chương 2: Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc có miền đích "cái chết" trong tiếng Việt và tiếng Anh
Chương 2 tập trung khảo sát, phân tích cơ chế ánh xạ và đối chiếu 4 mô hình ẩn dụ cấu trúc chủ đạo giữa hai ngôn ngữ:
-
Ẩn dụ CÁI CHẾT LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH:
- Tiếng Việt: Xuất hiện qua các dụ dẫn như ra đi, đi xa, về cõi vĩnh hằng, sang thế giới bên kia, lên đường, tiễn đưa, đoạn đường cuối cùng. Đích đến chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo (về cõi Phật, Tây phương cực lạc), Thiên Chúa giáo (về với Chúa, lên Thiên Đàng) hoặc tín ngưỡng dân gian thờ cúng tổ tiên (về với ông bà tổ tiên, xuống suối vàng).
- Tiếng Anh: Sử dụng các dụ dẫn như pass away, pass on, leave, go, depart, embark on a journey, final resting place.
- Đối chiếu: Cả hai ngôn ngữ đều chia sẻ lược đồ ánh xạ chung: người chết là người du hành, sự qua đời là điểm khởi hành, sự an táng là nghi thức tiễn đưa. Khác biệt nằm ở quan niệm về đích đến của hành trình do ảnh hưởng của các hệ hình văn hóa - tôn giáo đặc thù.
-
Ẩn dụ CÁI CHẾT LÀ SỰ NGHỈ NGƠI:
- Tiếng Việt: Thể hiện qua các biểu thức như nghỉ ngơi, an nghỉ, yên giấc ngàn thu, giấc ngủ dài, nhắm mắt xuôi tay.
- Tiếng Anh: Thể hiện qua rest, rest in peace (RIP), sleep, eternal sleep, fallen asleep.
- Đối chiếu: Cả hai ngôn ngữ đều ánh xạ thuộc tính từ trạng thái bất động, nhắm mắt khi ngủ/nghỉ ngơi sang trạng thái thể xác khi chết nhằm giảm nhẹ cảm giác đau thương, mang tính chất uyển ngữ cao.
-
Ẩn dụ CÁI CHẾT LÀ TRẠNG THÁI ÁNH SÁNG:
- Tiếng Việt: Sử dụng hình ảnh tắt, ngọn đèn cạn dầu, bóng tối, mờ dần, khép lại ánh sáng.
- Tiếng Anh: Sử dụng các biểu thức fade away, light went out, extinguish, darkness.
- Đối chiếu: Xuất phát từ trải nghiệm nghiệm thân chung: sự sống tương ứng với ánh sáng/sức nóng, cái chết tương ứng với sự mất nguồn nhiệt và bóng tối.
-
Ẩn dụ CÁI CHẾT LÀ SỰ KẾT THÚC:
- Tiếng Việt: Thể hiện qua chấm dứt, hết một kiếp người, khép lại một đời, dừng lại, dừng chân.
- Tiếng Anh: Thể hiện qua end of life, finished, final chapter, conclusion.
- Đối chiếu: Ánh xạ cấu trúc đoạn giới hạn thời gian hoặc sự kết thúc của một quy trình vào đời sống con người.
Chương 3: Đối chiếu ẩn dụ bản thể có miền đích "cái chết" trong tiếng Việt và tiếng Anh
Chương 3 khảo sát cách thức hai ngôn ngữ "vật thể hóa" hoặc "thực thể hóa" ý niệm cái chết trừu tượng:
- Ẩn dụ thực thể (Entity Metaphor): Ý niệm cái chết được xem như một thực thể cụ thể có thể cầm nắm, đo đếm, trao đổi hoặc trải qua.
- Ẩn dụ vật chứa (Container Metaphor): Cơ thể được tri nhận như một vật chứa đựng linh hồn/sự sống (cuộc sống là sự giam cầm, cái chết là sự giải thoát linh hồn ra khỏi thể xác), hoặc cái chết/thế giới bên kia là một không gian chứa đựng (bước vào cõi chết, chìm vào hư vô, in death).
- Nhân hóa (Personification) - Ẩn dụ CÁI CHẾT LÀ KẺ CƯỚP / KẺ THÙ:
- Tiếng Việt: Cái chết được nhân hóa thành thực thể tước đoạt sinh mạng bất ngờ (cướp đi người thân, cướp mất tương lai, giật khỏi tay).
- Tiếng Anh: Death stole him away, death took her, battle with death, defeat death.
- Đối chiếu: Cả hai ngôn ngữ đều thể hiện thái độ bất lực, đau đớn của người ở lại trước sự mất mát mang tính đột ngột, nhìn nhận cái chết như một thế lực đối kháng.
Chương 4: Đối chiếu ẩn dụ định hướng về "cái chết" trong tiếng Việt và tiếng Anh
Chương 4 phân tích sự phân bố định hướng không gian của ý niệm cái chết dựa trên 3 cặp đối lập:
- Cặp không gian Lên - Xuống (Up - Down):
- Trục hướng Xuống (Down): Chiếm ưu thế tuyệt đối khi mô tả trạng thái thể xác, sự suy sụp sức khỏe và việc mai táng (ngã xuống, nằm xuống, chìm xuống, xuôi tay; fall down, go down, sink).
- Trục hướng Lên (Up): Gắn liền với sự giải thoát của linh hồn về cõi thiêng (về trời, lên thiên đàng, bay lên; ascend to heaven, go up).
- Cặp không gian Cao - Thấp:
- Liên quan đến địa vị tâm linh và điểm đến sau khi chết (cõi cao xanh, thế giới bên dưới, cõi âm, underworld).
- Cặp không gian Ra - Vào (In - Out):
- Gắn liền với chuyển động rời khỏi không gian sống hiện hữu (ra đi, lìa trần, bước sang; pass out, depart from life, enter eternity).
- Đối chiếu tổng hợp: Luận án xây dựng sơ đồ tầng bậc và ma trận đối chiếu tổng thể, khẳng định sự tương thích cao về cấu trúc lược đồ không gian giữa hai ngôn ngữ do cùng dựa trên nền tảng trải nghiệm nghiệm thân vật lý.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên tại Việt Nam tiến hành nghiên cứu đối chiếu hệ thống ẩn dụ ý niệm về "cái chết" giữa tiếng Việt và tiếng Anh trên ngữ liệu diễn ngôn đời thường và diễn ngôn tưởng nhớ.
- Củng cố các luận điểm nền tảng của ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt là lý thuyết ẩn dụ ý niệm của Lakoff & Johnson và Kövecses, chứng minh tính phổ quát của các lược đồ hình ảnh và tính nghiệm thân trong nhận thức con người trước một phạm trù mang tính sinh học tất yếu.
- Làm sáng tỏ hiện tượng tương hợp ẩn dụ (metaphorical coherence) và sự tương hòa văn hóa, khẳng định cách thức các yếu tố văn hóa, hệ tư tưởng, tôn giáo (Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Đạo giáo, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên) quy định sự khác biệt trong việc lựa chọn các dụ dẫn ngôn ngữ cụ thể.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có hệ thống về từ vựng, ngữ nghĩa và cấu trúc ẩn dụ cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đối chiếu, ngôn ngữ học văn hóa và ngôn ngữ học tri nhận.
- Hỗ trợ công tác biên - phiên dịch Anh - Việt và Việt - Anh trong việc xử lý các văn bản, phát ngôn liên quan đến sự mất mát, chia buồn, đảm bảo tính chuẩn xác về mặt ngữ dụng và phù hợp với chuẩn mực văn hóa của từng cộng đồng ngôn ngữ.
- Cung cấp tư liệu cho giảng viên giảng dạy các học phần Thực hành tiếng Anh, Giao tiếp liên văn hóa, Ngữ nghĩa học và Ngôn ngữ học tri nhận.
- Gợi mở dữ liệu phục vụ cho các phân ngành công nghệ ngôn ngữ như ngôn ngữ học máy tính, trí tuệ nhân tạo và xử lý ngôn ngữ tự nhiên trong việc nhận diện và tạo lập ngôn ngữ mang tính cảm xúc và yếu tố văn hóa đặc thù.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án:
- Ngữ liệu nghiên cứu mới chỉ tập trung vào các diễn ngôn chia sẻ cảm xúc đời thường, lời tâm sự và tưởng nhớ trên một số trang báo điện tử và mạng xã hội uy tín trong khung thời gian từ tháng 01/2019 đến tháng 07/2022.
- Luận án chủ động loại trừ các diễn ngôn về cái chết liên quan đến tội phạm hoặc các đối tượng gây bức xúc xã hội, do đó chưa bao quát toàn bộ mọi sắc thái ngữ dụng của phạm trù cái chết trong đời sống xã hội.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng khảo sát trên các thể loại văn bản khác như văn bản pháp lý, y khoa chuyên ngành, diễn ngôn tôn giáo chính thống hoặc tác phẩm văn học đương đại.
- Mở rộng nghiên cứu đối chiếu ẩn dụ ý niệm cái chết giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ phương Đông khác (như tiếng Hán, tiếng Nhật, tiếng Hàn) để làm sâu sắc hơn đặc trưng văn hóa khu vực.
- Nghiên cứu các phạm trù kiêng kị khác trong tiếng Việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận và ngôn ngữ học văn hóa.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Ngôn ngữ học: Cung cấp mô hình phân tích chi tiết kết hợp giữa quy trình nhận diện ẩn dụ MIP và phương pháp nghiên cứu đối chiếu hai chiều; tài liệu mẫu mực về ứng dụng ngôn ngữ học tri nhận vào giải mã diễn ngôn.
- Đối với giảng viên và người dạy ngoại ngữ (tiếng Anh/tiếng Việt cho người nước ngoài): Cung cấp hệ thống ngữ liệu thực tế về uyển ngữ và ẩn dụ ý niệm, hỗ trợ thiết kế bài giảng về kỹ năng giao tiếp liên văn hóa, giúp người học tránh các lỗi ngữ dụng khi đề cập đến chủ đề nhạy cảm/kiêng kị.
- Đối với dịch giả và chuyên gia truyền thông: Hỗ trợ lựa chọn từ ngữ tương đương trong dịch thuật các văn bản chia buồn, điếu văn, thư tín ngoại giao hoặc truyền thông y tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Khối ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh của luận án được thu thập từ những nguồn nào và trong giai đoạn nào?
Ngữ liệu được thu thập từ ngày 01/01/2019 đến ngày 31/07/2022. Ngữ liệu tiếng Việt gồm 490 diễn ngôn (529 biểu thức ẩn dụ) trích từ chuyên mục "Tâm sự", "Tưởng nhớ nạn nhân Covid-19" (vnexpress.net) và "Nhân ái", "Sức khỏe" (dantri.vn). Ngữ liệu tiếng Anh gồm 506 diễn ngôn (525 biểu thức ẩn dụ) trích từ chuyên mục "Personal stories" trên hopeagain.com, cancerresearchuk.org và một số trang tin chính thống của Anh.
2. Luận án phân loại ẩn dụ ý niệm theo tiêu chí nào và gồm những tiểu loại nào?
Luận án phân loại ẩn dụ theo chức năng nhận thức (dựa trên lý thuyết của Lakoff & Johnson, 1980 và Kövecses, 2002), gồm 3 loại chính:
- Ẩn dụ cấu trúc (Chương 2: CÁI CHẾT LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH, CÁI CHẾT LÀ SỰ NGHỈ NGƠI, CÁI CHẾT LÀ TRẠNG THÁI ÁNH SÁNG, CÁI CHẾT LÀ SỰ KẾT THÚC).
- Ẩn dụ bản thể (Chương 3: Ẩn dụ thực thể, Ẩn dụ vật chứa, Nhân hóa - CÁI CHẾT LÀ KẺ CƯỚP).
- Ẩn dụ định hướng (Chương 4: Cặp Lên - Xuống, Cao - Thấp, Ra - Vào).
3. Quy trình nhận diện ẩn dụ MIP được luận án áp dụng gồm những bước nào?
Luận án áp dụng quy trình MIP của nhóm Pragglejaz (2007) gồm 4 bước: (1) Đọc toàn bộ diễn ngôn để nắm nghĩa tổng quát; (2) Xác định đơn vị từ vựng trong ngữ cảnh; (3) Xác định nghĩa ngữ cảnh, nghĩa cơ bản và so sánh mức độ xung đột ngữ nghĩa; (4) Đánh dấu đơn vị từ vựng là ẩn dụ nếu có sự chuyển nghĩa dựa trên so sánh liên tưởng.
4. Điểm tương đồng và khác biệt cốt lõi trong ẩn dụ "CÁI CHẾT LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH" giữa hai ngôn ngữ là gì?
- Tương đồng: Cả hai ngôn ngữ đều chia sẻ mô hình tri nhận coi cái chết là sự khởi hành, người chết là người du hành, sự tiễn đưa là an táng.
- Khác biệt: Nằm ở đích đến của hành trình. Tiếng Việt phản ánh đích đến gắn với Phật giáo (cõi Phật, Tây phương cực lạc), Đạo giáo (suối vàng, cõi tiên), tín ngưỡng tổ tiên (ông bà tổ tiên); trong khi tiếng Anh chịu ảnh hưởng chủ đạo của Kitô giáo (heaven, with the Lord) hoặc quan niệm duy lý phương Tây (resting place).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Xuân Hà là một công trình nghiên cứu hệ thống thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu, giải mã toàn diện phạm trù "cái chết" qua lăng kính ngôn ngữ học tri nhận trên ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh. Thông qua việc phân tích đối chiếu 1.054 biểu thức ẩn dụ từ 996 diễn ngôn đời thường, công trình đã làm sáng tỏ cơ chế ánh xạ ý niệm của 3 nhóm ẩn dụ cấu trúc, bản thể và định hướng, đồng thời chứng minh mối quan hệ tương tác mật thiết giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy. Kết quả nghiên cứu không chỉ củng cố cơ sở lý thuyết về tính phổ quát và biến thiên văn hóa của ẩn dụ ý niệm mà còn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho hoạt động giảng dạy ngoại ngữ, biên - phiên dịch và giao tiếp liên văn hóa.