Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương 2: Một số vấn đề lý luận về quản lý trị giá tính thuế hàng nhập khẩu Chương 3: Thực trạng công tác quản lý giá tính thuế hàng tiêu dùng nhập khẩu tại Cục Hải quan TP. Chương 4: Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý giá hàng tiêu dùng nhập khẩu tại Cục Hải quan TP.Hà Nội Luan van 7 CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG NHẬP KHẨU 2.1 Khái quát về trị giá tính thuế và xác định trị giá tính thuế 2.1 Khái niệm trị giá tính thuế hàng nhập khẩu và xác định trị giá tính thuế * Trị giá tính thuế hàng nhập khẩu (Trị giá hải quan) Theo Điều 15, Hiệp định trị giá GATT/WTO: “Trị giá tính thuế là trị giá hải quan nhằm mục đích tính thuế. Xác định trị giá hải quan là xác định trị giá làm cơ sở tính thuế” [23, tr.Theo khái niệm này có thể hiểu trị giá tính thuế là trị giá hải quan nhằm phục vụ công tác tính thuế và việc xác định trị giá hải quan là xác định trị giá làm cơ sở tính thuế. Theo quy định tại Luật Hải quan, trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa xuất nhập khẩu, phục vụ cho mục đích tính thuế, thống kê hải quan.
Trị giá hải quan hàng nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên trên cơ sở áp dụng Hiệp định chung về thuế quan và thương mại hoặc theo các cam kết quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết. Trên thực tế, tuỳ theo từng phạm vi và mục đích nghiên cứu, có tài liệu, văn bản (hầu hết là tài liệu nước ngoài) sử dụng cụm từ “Trị giá hải quan” (customs value); có tài liệu, văn bản (chủ yếu các tài liệu trong nước) sử dụng cụm từ “trị giá tính thuế” nhưng phân tích dưới góc độ nhằm mục đích tính thuế thìhai khái niệm này đồng nhất với nhau. Luận văn này, tác giả xin sử dụng chung một khái niệm là “trị giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu”. Theo quản lý hải quan hiện đại, trị giá tính thuế là phần số liệu về trị giá được đưa ra hoặc đưa vào lãnh thổ hải quan, do cơ quan hải quan quản lý và sử dụng phục vụ cho các mục tiêu quản lý nhà nước về Hải quan, trong đó mục tiêu Luan van 8 dùng để tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu là chủ yếu và gọi là trị giá tính thuế.Trị giá tính thuế là yếu tố quan trọng (cùng với số lượng hàng hoá và mức thuế suất đối với mỗi loại hàng hoá đó) cấu thành nên thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Bởi vậy xác định trị giá hải quan là một công tác quan trọng trong hệ thống thuế quan hiện đại đảm bảo cho qui trình thủ tục hải quan nói chung và kiểm tra tính thuế nói riêng được thuận lợi và chính xác. Hiệp định về thực hiện Điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (Hiệp định General Agreement of Tarriff and Trade, viết tắt là GATT) hay còn gọi là Hiệp định Trị giá Hải quan (ACV) được ký kết tại Vòng đàm phán Tokyo năm 1979, có hiệu lực thực hiện từ ngày 1 tháng 1 năm 1981 đưa ra một nguyên tắc chung về xác định trị giá hải quan cho tất cả các nước tham gia ký kết, nhằm mang lại sự thống nhất, bình đẳng trong hoạt động ngoại thương trên phạm vi toàn cầu. Đây là một bước tiến đáng kể của quá trình hình thành khái niệm trị giá hải quan được công nhận rộng rãi và sử dụng chung cho các nước, bởi vì tính đến thời điểm ra đời của Hiệp định GATT, việc xác định trị giá hải quan được thực hiện một cách tự phát, không thống nhất trên thế giới. Các nguyên tắc chung đã được cụ thể hoá bằng các phương pháp xác định trị giá hải quan cụ thể đi kèm với những hướng dẫn rõ ràng.
Chính vì vậy, Hiệp định Trị giá Hải quan đã tạo nên sự ổn định và thống nhất mới trong việc định giá chung trên thế giới, được rất nhiều nước ủng hộ. Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) coi ACV là một phần bắt buộc các nước thành viên của WTO phải thực hiện. Theo Hiệp định Trị giá Hải quan thì khái niệm trị giá hải quan là trị giá giao dịch, tức là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho hàng hóa được xuất khẩu đến nước nhập khẩu sau khi đã tính đến các khoản điều chỉnh (các khoản phải cộng, các khoản được trừ) theo Điều 8 của Hiệp định này. Để phù hợp với luật pháp về thuế của Việt Nam, cụm từ “trị giá hải quan” tại Hiệp định được thay thế bằng “trị giá tính thuế”.
Cụ thể, tại Điều 9 Luật Thuế Luan van 9 xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005 quy định “trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên theo hợp đồng, phù hợp với cam kết quốc tế”, và tại Điều 1 Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007của Chính phủ quy định về việc xác định trị giá đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cũng nêu “Xác định trị giá hải quan nhằm mục đích tính thuế và thống kê đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu”. Tựu chung lại có thể hiểu thống nhất về trị giá tính thuế là trị giá của hàng hóa xuất nhập khẩu dùng cho mục đích quản lý nhà nước về hải quan. Trị giá tính thuế bao gồm trị giá hải quan của hàng xuất khẩu và trị giá hải quan của hàng nhập khẩu Trị giá tính thuế của hàng xuất khẩu là giá bán hàng hóa tại cửa khẩu xuất khẩu, theo hợp đồng mua bán, không bao gồm các chi phí vận chuyển và bảo hiểm quốc tế. Trị giá tính thuế của hàng nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên và được xác định bằng cách áp dụng tuần tự sáu phương pháp xác định trị giá tính thuế và dừng ngay ở phương pháp xác định được trị giá tính thuế.
Hiện nay hải quan Việt Nam đang áp dụng các phương pháp xác định trị giá tính thuế theo nguyên tắc của Hiệp định trị giá GATT/WTO. * Khái niệm về xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu Cho đến nay chưa có một khái niệm chính thức nào về việc xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa NK. Tuy nhiên từ các văn bản liên quan và thực tiễn công tác, tác giả có thể đúc rút ra khái niệm về xác định trị giá tính thuế như sau: Xác định TGTT là một phần công việc trong quy trình thủ tục hải quan trong đó CBCC hải quan căn cứ vào hồ sơ doanh nghiệp khai báo, chứng từ, cơ sở dữ liệu giá của cơ quan hải quan và các nguồn thông tin liên quan để khẳng định hồ sơ khai báo doanh nghiệp có nghi vấn về mức giá khai báo hay không và cơ quan hải quan có đủ cơ sở bác bỏ trị giá khai báo của doanh nghiệp hay không từ đó Luan van 10 sử dụng các phương pháp xác định giá theo quy định để xác định mức giá phù hợp với hàng hóa NK. Từ 29/12/2003 Hải quan Việt Nam bắt đầu thực hiện việc xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu theo Hiệp định trị giá GATT/WTO.
Theo hiệp định trị giá GATT, trị giá tính thuế được xác định bằng một trong các phương pháp sau: - Phương pháp trị giá giao dịch - Phương pháp trị giá giao dịch đối với hàng nhập khẩu giống hệt - Phương pháp trị giá giao dịch đối với hàng nhập khẩu tương tự - Phương pháp khấu trừ - Phương pháp tính toán - Phương pháp suy luận Hiệp định cũng chỉ ra rằng không một nhà nhập khẩu hoặc cơ quan quản lý nào có quyền lựa chọn tùy tiện phương pháp xác định trị giá mà đều phải tuân thủ theo một trình tự đã định sẵn. Để xác định trị giá tính thuế của hàng nhập khẩu phải áp dụng tuần tự sáu phương pháp, bắt đầu từ phương pháp thứ nhất “trị giá giao dịch” và chỉ khi vì một lý do nào đó mà phương pháp này không thể áp dụng được thì mới áp dụng phương pháp thứ hai. Nếu không thể xác định trị giá tính thuế theo phương pháp thứ hai thì sẽ phải áp dụng lần lượt các phương pháp khác cho đến phương pháp cuối cùng. Nguyên tắc này chỉ ngoại lệ đối với phương pháp thứ tư “Phương pháp khấu trừ” và phương pháp thứ năm “Phương pháp tính toán”.
Trong quá trình xác định trị giá tính thuế, hai phương pháp này có thể hoán đổi vị trí cho nhau nếu có yêu cầu của doanh nghiệp và sự đồng ý của cơ quan hải quan. Sở dĩ có thể hoán đổi hai phương pháp này cho nhau là do việc xác định trị giá tính thuế theo hai phương pháp này chủ yếu dựa trên các tài liệu, số liệu và bằng chứng khách quan của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp sẽ là người hiểu rõ nhất việc xác định trị giá tính thuế theo phương Luan van 11 pháp nào là hợp lý nhất để từ đó đề nghị cơ quan hải quan áp dung phương pháp phù hợp.2 Ý nghĩa của việc xác định trị giá tính thuế Một là, đảm bảo tính đúng, tính đủ thuế Mục tiêu đầu tiên của việc xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu là nhằm đảm bảo tính đúng, tính đủ thuế nhập khẩu. Trị giá tính thuế hàng nhập khẩu là căn cứ chính để các cơ quan quản lý thuế tiến hành việc kiểm tra số thuế nhập khẩu mà các đối tượng nộp thuế phải nộp.
Vì vậy, việc xác định đúng trị giá tính thuế hàng nhập khẩu sẽ đảm bảo thuế nhập khẩu và các khoản phí, lệ phí đi kèm được thu đúng, thu đủ. Hai là, tránh thất thu cho ngân sách nhà nước Mục tiêu thứ hai của việc xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu là tránh thất thu cho ngân sách nhà nước. Đây cũng là mục tiêu chung trong công tác quản lý thuế nói chung. Việc xác định đúng trị giá tính thuế hàng nhập khẩu sẽ giúp tính đúng số thuế người nhập khẩu phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, thu đúng, thu đủ thuế nhập khẩu, từ đó tránh thất thu cho ngân sách nhà nước từ hàng hóa xuất nhập khẩu.
Ba là, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh Việc xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu sẽ khiến cho việc đàm phán giá cả trong thương mại được tôn trọng, tránh tình trạng một mặt hàng có nhiều mức giá khác nhau một cách bất hợp lý.