Mở đầu Chương 2: Tổng quan về quản lý dự án và quản lý tiến độ thi công trong các công trình xây dựng. Chương 3: Thực trạng về quản lý dự án xây dựng công trình theo tiến độ hiện nay. Chương 4: Kết luận và kiến nghị. Phương pháp nghiên cứu.
- Sử dụng phương pháp quy nạp để nghiên cứu vấn đề lý luận và trình bày các quan điểm có liên quan. - Sử dụng phương pháp thống kê và phân tích để nghiên cứu vấn đề thực tiễn. - Sử dụng phương pháp tổng hợp để đưa ra đề xuất theo mục tiêu đã định hướng. -5- CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN VÀ QUẢN LÝ TIẾN ĐỘ THI CÔNG TRONG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG Quá trình hình thành và vận hành dự án thường qua ba giai đoạn chính là: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành khai thác dự án.
Mỗi giai đoạn gồm nhiều bước công việc khác nhau được tiến hành một cách liên tục. Quá trình quản lý đầu tư theo các dự án cũng là quá trình quản lý trong từng bước, từng giai đoạn của dự án. Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình là sự điều hành các công việc theo một kế hoạch đã định kể cả các công việc phát sinh xảy ra trong quá trình hoạt động xây dựng, với các điều kiện ràng buộc nhằm đạt được các mục tiêu đề ta một cách tối ưu. Tổng quan về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình.
Những vấn đề cơ bản của QLDA. Khái niệm về dự án. Trong văn bản Luật Xây dựng được quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt nam thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 đã định nghĩa: Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời gian nhất định. Tiêu chuẩn ISO 9000:2000 nêu rằng: Dự án là quá trình đơn nhất gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và có kết thúc, được tiến hành để đạt được mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực.
Đặc điểm của dự án xây dựng công trình: Có mục tiêu và mục đích tổng hợp: mục tiêu và mục đích công khai như các mục tiêu kỹ thuật, qua đó dự án giới thiệu công nghệ mới hoặc hệ thống thích hợp cho quản lý dự án. Cũng có thể có mục tiêu về cơ cấu qua đó thực hiện một cơ cấu tổ chức hỗ trợ công nghệ mới. Mục tiêu công khai được nêu rõ từ khi xây dựng dự án nhằm cơ cấu và dẫn đến những thay đổi tốt nhất cho tổ chức. Mục tiêu và mục đích kín như các mục tiêu giảm tối thiểu chi phí, đạt tối đa lợi nhuận, xây dựng thương hiệu tối đa, … -6- Có tính phức tạp: Tính phức tạp thể hiện ở các khâu sau: - Có nhiều hoạt động liên quan đế nhau.
- Thực hiện dự án liên quan đến nhiều người. - Thực hiện dự án phải qua nhiều chức năng Có tính duy nhất: Dự án có mục tiêu, có nhiệm vụ, có người tham gia cụ thể, có lịch trình tiến hành xác định và nhiều vấn đề khác nhau. Có tính thời đoạn: Dự án có vòng đời xác định với những đặc thù riêng biệt. Dự án phải bắt đầu tại thời điểm xác định và kết thúc đúng kỳ hạn.
Có tính biến động và sự không chắc chắn: như sau: - Có những thay đổi trong các giai đoạn khác nhau của vòng đời của dự án. - Có những thay đổi do khách hàng yêu cầu, có những thay đổi do người quản lý đặt ra, có những thay đổi do có sự phát triển khoa học công nghệ…. - Có những thay đổi do môi trường làm việc tạo nên. - Có tính rủi ro có thể dự báo được và cũng có thể không dự báo trước được.
Cơ sở quản lý dự án. Sau nhiều năm thực hiện nghị định 177/CP được đúc rút kinh nghiệm, sửa đổi và bổ sung để ban hành thành Nghị định số 42/CP ngày 16-7-1996, Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, sau đó Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8-7-1999, quy chế quản lý đầu tư và xây dựng thay thế cho Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng trước đây. Quá trình thực hiện Nghị định 52/1999/NĐ-CP được điều chỉnh thường xuyên thông qua việc ban hành các Nghị định 12/2000/NĐ-CP và 07/2003/NĐ-CP. Luật Xây dựng đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2004 là cơ sở cho quản lý dự án trên đất nước ta hiện nay.
Luật Xây dựng đã thể chế hóa các đường lối, chủ trương của Đảng trong lĩnh vực xây dựng. Luật Xây dựng điều chỉnh toàn bộ các vấn đề có liên quan đến các hoạt động xây dựng và là cơ sở pháp lý chủ yếu để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong hoạt động xây dựng. -7- Luật Xây dựng thiết lập khung pháp lý có hiệu quả tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế tham gia hoạt động xây dựng, thúc đẩy thị trường xây dựng phát triển nhanh chóng và có định hướng. Luật Xây dựng nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước, xác định trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước về Xây dựng, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng, phân định quản lý Nhà nước và quản lý sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng, bảo đảm các công trình xây dựng có chất lượng, an toàn, phù hợp với quy hoạch, kiến trúc và tiết kiệm, thúc đẩy cải cách hành chính chung của Nhà nước và tinh thần hội nhập khu vực và quốc tế.
Để hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng về lập, thực hiện dự án đầu tư và xây dựng công trình, hợp đồng trong hoạt động xây dựng, điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng và giám sát xây dựng công trình, Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07 tháng 02 năm 2005 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. Nghị định này có 6 chương, 69 điều và 7 phụ lục. Nghị định này đã được Nghị định 12-2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 02 năm 2009 thay thế, Nghị định 12-2009/NĐ-CP này có 5 chương và 58 điều. Quản lý dự án xây dựng.
Theo Đại bách khoa toàn thư, từ “ Project-Dự án” được hiểu là “ Điều có ý định làm” hay đặt kế hoạch cho một ý đồ, quá trình vận động”. Như vậy, dự án có khái niệm vừa là ý tưởng, ý đồ, nhu cầu vừa có ý năng động, chuyển động hành động. Chính vì lẽ đó có khá nhiều khái niệm về thuật ngữ này. Có thể thể hiện khái niệm quản lý dự án theo các định nghĩa sau: a) Quản lý dự án là sự điều phối và tổ chức các bên khác nhau tham gia trong việc thực hiện dự án nhằm hoàn thành dự án theo những hạn chế về thời gian, chi phí và chất lượng.
b) Quản lý dự án là việc lập kế hoạch tổng thể, điều phối và kiểm soát một dự án từ khi bắt đầu đến khi kết thúc nhằm đảm bảo sự hoàn thành đúng hạn trong phạm vi chi phí và các yêu cầu kỹ thuật đã xác định về phương thức và chất lượng thực hiện. Có thể thể hiện QLDA theo mô hình sơ đồ sau: [10, tr6] -8- ph¹m vi ChÊt l-îng ChÊt l-îng ng©n s¸ch thêi gian ChÊt l-îng Phạm vi: được hiểu là công việc phải hoàn thành bao gồm số lượng và chất lượng các công việc. Ngân sách: là mọi liên quan đến chi phí cho các hoạt động của dự án, xác định bằng tiền và nhân công. Thời gian: đề cập đến trình tự công việc và thời gian phải sử dụng cho từng công việc trong toàn bộ dự án.
Ba yếu tố phạm vi, ngân sách, thời gian gắn kết chặt chẽ với nhau. Từng khâu lại có yêu cầu chất lượng riêng của từng yếu tố nhưng yếu tố nọ quản lý kém, hoặc chưa đáp ứng các yêu cầu sẽ làm ảnh hưởng đến khâu khác. Chất lượng: được hiểu là sự đáp ứng các yêu cầu của chủ đầu tư trên các mặt xác định. Chức năng cơ bản của quản lý dự án.
Về chức năng cơ bản của QLDA được tóm gọn trong ba từ: Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát mọi hoạt động và kết quả đạt được qua từng khâu, qua từng giai đoạn cũng như kết quả cuối cùng. a) Lập kế hoạch: Lập kế hoạch là khâu dự báo các quá trình thực hiện dự án về mọi mặt liên quan. Thường phải lập các kế hoạch cơ bản như: Kế hoạch tiến hành xây dựng: là bản kế hoạch tổng thể các việc phải thực hiện từ khâu lập dự án đến khâu đấu thầu, khâu thực hiện dự án cho đến khâu nghiệm thu và khai thác dự án cho đến khi thu hồi hết vốn đầu tư. Bản kế hoạch tiến hành xây dựng được thiết lập trên những khống chế tổng thể về chi phí, nhân lực, thời gian trên cơ sở các mục tiêu đã xác định cho dự án.
Kế hoạch tiến độ - thời gian: là bản kế hoạch chi tiết cho sự phối hợp các đơn vị cùng thực hiện dự án, cho các việc phải tiến hành cho từng đơn vị thành phần tham gia thực hiện -9- dự án, kế hoạch phân bố các dạng tài nguyên chi phí, nhân lực và thời điểm với những khỗng chế chi tiết. Kế hoạch tài chính: là bản kế hoạch chi tiết về cung ứng và luân chuyển nguồn tiền để đảm bảo mức độ và thời gian mà nguồn tiền phải đáp ứng để mọi hoạt động thực hiện dự án được thuận lợi. Bản kế hoạch này cho biết sự luân chuyển dòng tiền tệ hợp lý, kịp thời và tuân thủ nghiêm ngặt những quy định về quản lý tài chính. Lập kế hoạch tài chính thực chất đòi hỏi phải dự báo các hoạt động của doanh nghiệp khi thực hiện dự án trên các mặt tiến độ thi công, nhu cầu cung ứng vật tư, dự báo hoàn thành sản phẩm xây dựng để thu hồi nguồn tiền đảm bảo luân chuyển hợp lý dòng tiền tệ.
Không để các hoạt động sản xuất xây dựng bị cản trở do thiếu tiền nhưng cũng không để nguồn tiền của đơn vị bị chiếm dụng.