Tổng quan nghiên cứu

Nông nghiệp Việt Nam hàng năm tiêu thụ khoảng 70.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật để duy trì sản lượng lương thực, trong đó thuốc trừ cỏ chiếm tới 44,4% và thuốc trừ bệnh chiếm 23,2%. Tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên, hoạt động canh tác nông nghiệp giữ vị trí then chốt với tổng diện tích đất nông nghiệp đạt 6.524,07 ha, chiếm hơn 69% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện. Riêng diện tích gieo cấy lúa cả năm đạt 5.149,05 ha với năng suất trung bình 122,2 tạ/ha, mang lại sản lượng trên 60.000 tấn mỗi năm. Mặc dù hóa chất bảo vệ thực vật là công cụ chủ lực giúp ngăn chặn dịch hại nhanh chóng và ổn định mùa màng, việc lạm dụng quá mức cùng sự buông lỏng trong kiểm soát kinh doanh đã làm dấy lên nhiều nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường đất, nguồn nước mặt và sức khỏe cộng đồng. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là đánh giá đúng thực trạng quản lý và nhận diện các mắt xích yếu kém trong chuỗi phân phối cũng như tập quán sử dụng nông dược tại cơ sở. Mục tiêu cụ thể của công trình là điều tra toàn diện mạng lưới quản lý, khảo sát hành vi sử dụng thuốc của các hộ nông dân, đánh giá mức độ tín nhiệm của người dân đối với cơ quan chuyên trách và đề xuất các giải pháp kỹ thuật, chính sách phù hợp. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại 3 xã đại diện gồm Tam Đa, Tiên Tiến và Minh Tân thuộc huyện Phù Cừ trong khung thời gian từ tháng 8/2016 đến tháng 8/2017. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp bộ dữ liệu thực chứng từ 300 hộ dân và 10 cơ sở kinh doanh, tạo tiền đề để địa phương giảm thiểu nguy cơ quá tải hóa chất tồn dư, nâng tỷ lệ sử dụng chế phẩm sinh học lên trên 20% và hoàn thiện hệ thống quản trị môi trường nông thôn bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hai trụ cột lý thuyết quan trọng gồm: Lý thuyết Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) do Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) khuyến nghị và Lý thuyết về ba giai đoạn phát triển của nông dược toàn cầu (Cân bằng sử dụng - Dư thừa sử dụng - Khủng hoảng sử dụng). Khung nghiên cứu vận dụng mô hình quản lý rủi ro hóa chất nông nghiệp tích hợp chuỗi từ khâu cấp phép, phân phối, sử dụng trên đồng ruộng đến xử lý chất thải bao bì nguy hại theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia TCVN 5507:2002.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa và phân tích trong luận văn bao gồm:

  • Tính kháng thuốc của dịch hại: Phản ánh sự suy giảm phản ứng của sinh vật gây hại sau thời gian dài tiếp xúc liên tục với hóa chất, khiến quần thể hình thành khả năng chống chịu di truyền qua các thế hệ theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Thống kê lịch sử cho thấy số loài kháng thuốc trên thế giới đã tăng vọt từ 14 loài năm 1948 lên hơn 900 loài vào cuối thế kỷ 20.
  • Thời gian bán phân hủy trong đất: Đại lượng DT50 và DT90 thể hiện thời gian để 50% và 90% lượng hoạt chất bị phân hủy sinh học trong môi trường tự nhiên. Các hợp chất gốc clo hữu cơ có thời gian tồn lưu kéo dài từ 150 đến 200 tuần, tạo ra các dẫn xuất độc hại hơn dạng nguyên bản.
  • Nguyên tắc 4 đúng: Hệ quy chuẩn bắt buộc trong canh tác an toàn bao gồm đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng nồng độ và đúng cách thức phun rải nhằm tối ưu hóa hiệu lực trừ sâu và giảm thiểu phát tán ra môi trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực chứng trong khoảng thời gian 12 tháng liên tục:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Kế thừa các báo cáo phát triển kinh tế xã hội từ Ủy ban nhân dân huyện Phù Cừ, số liệu quản lý đất đai từ Phòng Tài nguyên và Môi trường, số liệu kiểm tra chuyên ngành từ Trạm Bảo vệ thực vật huyện, cùng hệ thống văn bản pháp quy như Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật, Thông tư 21/2015/TT-BNNPTNT và Thông tư 15/2017/TT-BNNPTNT.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Cỡ mẫu điều tra gồm 300 hộ nông dân canh tác lúa tại 3 xã (Tam Đa, Tiên Tiến, Minh Tân), phân bổ đều 100 hộ mỗi xã trên 9 thôn trọng điểm (30 đến 40 hộ mỗi thôn). Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo quy mô diện tích đất canh tác được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các nhóm hộ thuần nông và hộ sản xuất hàng hóa. Bên cạnh đó, đề tài tiến hành phỏng vấn sâu 13 cán bộ chuyên trách (4 cán bộ Trạm Bảo vệ thực vật huyện và 9 cán bộ phụ trách nông nghiệp, khuyến nông cấp xã) cùng việc khảo sát thực địa toàn bộ 10 cơ sở kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật đang hoạt động trên địa bàn.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích ma trận vấn đề và xử lý số liệu qua phần mềm chuyên dụng. Việc lựa chọn phương pháp này giúp định lượng hóa chính xác tỷ lệ tuân thủ quy chuẩn, làm rõ mối tương quan giữa năng lực quản lý nhà nước với thói quen sử dụng thuốc thực tế của nông dân, bảo đảm độ tin cậy khoa học cao cho các kết luận.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống mạng lưới bán lẻ thuốc bảo vệ thực vật có sự tuân thủ cao về mặt thủ tục hành chính nhưng yếu kém về tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật. Khảo sát 10 cơ sở kinh doanh trên địa bàn 3 xã cho thấy 100% cửa hàng đều có giấy phép kinh doanh, chứng chỉ hành nghề và thực hiện niêm yết bảng giá công khai. Tuy nhiên, tỷ lệ cửa hàng đảm bảo diện tích tối thiểu trên 10m2, trang bị đầy đủ phương tiện phòng chống cháy nổ và cung cấp bảo hộ lao động đạt tỷ lệ chưa tới 40%.

Thứ hai, cơ cấu sử dụng thuốc nghiêng lệch hoàn toàn về hóa dược tổng hợp. Trên 85% tổng số hộ điều tra sử dụng các loại thuốc trừ sâu, trừ bệnh có nguồn gốc hóa học; tỷ lệ nông hộ ưu tiên dùng chế phẩm sinh học thân thiện với môi trường chỉ chiếm dưới 15%. Về kênh tiếp cận thông tin, khoảng 60% nông dân lựa chọn thuốc theo hướng dẫn từ người bán hàng tại đại lý, 35% theo cán bộ khuyến nông và chỉ khoảng 5% tự đọc nhãn hướng dẫn kỹ thuật.

Thứ ba, công tác dự tính dự báo sinh vật hại đạt kết quả tích cực nhưng hoạt động đào tạo tập huấn chưa thu hút người dân. Trạm chuyên môn đã dự báo chính xác 3 trên 5 đợt dịch hại lớn trong năm 2016 (như bệnh bạc lá, sâu cuốn lá), giúp kiểm soát 100% diện tích lúa nhiễm bệnh mà không để bùng phát bất ngờ. Dù vậy, tỷ lệ nông dân tham gia đầy đủ các lớp tập huấn kỹ thuật chỉ dao động từ 30% đến 40% do lịch trình chưa linh hoạt.

Thứ tư, khâu xử lý vỏ bao bì sau sử dụng là điểm nghẽn ô nhiễm lớn nhất. Trên 65% hộ nông dân thừa nhận thói quen vứt bỏ vỏ chai lọ, bao gói thuốc trực tiếp tại bờ ruộng hoặc mương dẫn nước sau khi pha chế, chỉ có khoảng 35% thu gom nhưng chủ yếu xử lý bằng cách đốt thủ công cùng rác sinh hoạt.

Thảo luận kết quả

Thực trạng lạm dụng thuốc hóa học bắt nguồn từ áp lực bảo đảm năng suất lúa cao (năng suất cả năm của Phù Cừ đạt 122,2 tạ/ha) kết hợp tâm lý muốn dập dịch tức thì của nông dân. Việc người dân phụ thuộc tới 60% vào tư vấn của đại lý kinh doanh tư nhân tiềm ẩn rủi ro lớn, do nhiều đại lý vì mục tiêu lợi nhuận đã định hướng người mua sử dụng các dòng thuốc có giá trị cao hoặc chiết khấu lớn mà không dựa trên ngưỡng phòng trừ kinh tế. So sánh với các nghiên cứu tương đồng tại khu vực Tây Nguyên của tác giả Bùi Vĩnh Diên, tỷ lệ mẫu đất canh tác chứa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật lên tới 62,22% với 44,44% vượt chuẩn cho phép, cho thấy nguy cơ tích tụ độc chất trong đất và nguồn nước tại huyện Phù Cừ là rất rõ rệt nếu không có biện pháp can thiệp sớm.

Để tăng tính trực quan cho công tác chỉ đạo điều hành, các dữ liệu nghiên cứu này có thể được chuyển hóa thành biểu đồ cột ghép thể hiện tỷ lệ so sánh cơ cấu thuốc hóa học và sinh học giữa 3 xã Tam Đa, Tiên Tiến, Minh Tân. Đồng thời, một bảng ma trận chấm điểm mức độ tuân thủ 6 tiêu chuẩn an toàn kinh doanh tại 10 cơ sở bán lẻ sẽ giúp Đội Quản lý thị trường và Trạm Bảo vệ thực vật dễ dàng khoanh vùng các điểm nóng vi phạm để xử lý kịp thời.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Đối với hộ nông dân canh tác: Áp dụng triệt để nguyên tắc 4 đúng khi phun xịt, nâng tỷ lệ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học từ mức dưới 15% lên tối thiểu 30% trong lộ trình 2 năm tới; thực hiện thu gom 100% vỏ chai, bao gói thuốc vào các bể chứa chuyên dụng trên cánh đồng ngay sau khi sử dụng dưới sự đôn đốc của Ban Nông nghiệp thôn.
  • Đối với các cơ sở kinh doanh thuốc: Tổ chức kiểm tra định kỳ 2 lần mỗi năm đối với 10 cơ sở bán lẻ hiện có, yêu cầu 100% cửa hàng bổ sung đầy đủ bình chữa cháy, đồ bảo hộ lao động và cam kết chỉ kinh doanh các sản phẩm thuộc danh mục được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp phép trước quý 2 năm 2018 do Đội Quản lý thị trường huyện chủ trì thực hiện.
  • Đối với Ủy ban nhân dân huyện và các xã: Đầu tư xây dựng hệ thống 150 đến 200 bể bê tông thu gom rác thải nguy hại trên toàn bộ các cánh đồng lúa của 14 xã; bố trí ngân sách thường niên để ký hợp đồng với đơn vị môi trường chuyên trách vận chuyển, tiêu hủy vỏ bao bì định kỳ 6 tháng một lần do Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện quản lý từ đầu năm 2018.
  • Đối với Trạm Bảo vệ thực vật và tổ chức khuyến nông: Tái cấu trúc chương trình đào tạo tập huấn thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP) và quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), đặt mục tiêu nâng tỷ lệ hộ dân tham gia lớp tập huấn lên trên 80% trong giai đoạn 2018 đến 2020 bằng cách đưa lịch tập huấn về tận nhà văn hóa thôn vào thời gian nông nhàn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý nhà nước ngành Tài nguyên Môi trường và Nông nghiệp cấp huyện, xã: Nghiên cứu cung cấp số liệu thực tế tại 3 xã để cán bộ tham mưu xây dựng quy chế thanh tra mạng lưới bán lẻ vật tư nông nghiệp, quy hoạch điểm đặt bể thu gom bao bì và thiết lập cơ chế giám sát liên ngành hiệu quả.
  • Các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp điều tra thực địa 300 nông hộ, kỹ thuật xây dựng ma trận phân tích rủi ro hóa chất nông nghiệp và mô hình đánh giá chuỗi quản lý vật tư tại vùng đồng bằng sông Hồng.
  • Ban giám đốc Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và cán bộ khuyến nông cơ sở: Khai thác kết quả khảo sát nhận thức người dân để đổi mới nội dung truyền thông, hướng dẫn nông dân nhận biết nhãn thuốc và chuyển đổi cơ cấu phòng trừ sâu bệnh theo hướng sinh học an toàn.
  • Các doanh nghiệp sản xuất và phân phối chế phẩm nông nghiệp: Nắm bắt thị hiếu của hơn 85% người tiêu dùng thuốc hóa học để xây dựng chiến lược tiếp cận thị trường cho dòng sản phẩm sinh học, đồng thời cải tiến bao bì và cung cấp tài liệu hướng dẫn an toàn trực tiếp cho đại lý cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

  • Huyện Phù Cừ có quy mô đất nông nghiệp và năng suất sản xuất lúa hàng năm đạt mức bao nhiêu?
    Huyện Phù Cừ sở hữu tổng diện tích đất nông nghiệp là 6.524,07 ha, trong đó đất gieo cấy lúa cả năm chiếm 5.149,05 ha. Năng suất lúa bình quân toàn huyện đạt 122,2 tạ/ha mỗi năm, gồm vụ xuân đạt 67,2 tạ/ha trên 2.358 ha và vụ mùa đạt 55 tạ/ha trên 2.791 ha, với tỷ lệ giống lúa chất lượng cao chiếm tới 85% diện tích.

  • Tình hình tuân thủ quy định kinh doanh của các cửa hàng bán thuốc bảo vệ thực vật tại địa phương ra sao?
    Kết quả điều tra 10 cơ sở kinh doanh tại 3 xã cho thấy 100% cửa hàng đều có giấy phép kinh doanh, chứng chỉ hành nghề và niêm yết giá đầy đủ. Tuy vậy, tỷ lệ cửa hàng tuân thủ quy định về trang bị phòng chống cháy nổ, bảo hộ lao động và diện tích tối thiểu 10m2 vẫn còn thấp, dưới mức 40%.

  • Người nông dân tại huyện Phù Cừ lựa chọn thuốc bảo vệ thực vật dựa vào những nguồn thông tin nào?
    Khoảng 60% nông hộ lựa chọn thuốc dựa hoàn toàn vào sự tư vấn của chủ cửa hàng kinh doanh nông dược, 35% hộ làm theo hướng dẫn của cán bộ khuyến nông xã và chỉ khoảng 5% tự đọc nhãn mác kỹ thuật. Điều này cho thấy vai trò định hướng cực kỳ quan trọng của các chủ đại lý bán lẻ tại địa phương.

  • Những tiêu chí nào khiến một loại thuốc bảo vệ thực vật bị loại bỏ khỏi danh mục được phép sử dụng?
    Theo Thông tư 21/2015/TT-BNNPTNT, các loại thuốc có độ độc cấp tính nhóm I, II theo GHS, chứa hoạt chất clo hữu cơ, có nguy cơ gây ung thư, đột biến gen, hoặc nằm trong danh mục cảnh báo của các tổ chức quốc tế như FAO, WHO, Công ước Rotterdam sẽ bị cấm đăng ký và thu hồi khỏi danh mục lưu hành tại Việt Nam.

  • Giải pháp trọng tâm nào giúp khắc phục tình trạng xả rác bao bì thuốc bảo vệ thực vật trên đồng ruộng?
    Địa phương cần khẩn trương xây dựng mạng lưới 150 đến 200 bể thu gom bê tông đạt chuẩn trên khắp các xứ đồng của 14 xã, đồng thời bố trí kinh phí ký hợp đồng với công ty môi trường thu gom, xử lý rác thải nguy hại định kỳ 6 tháng một lần, kết hợp đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao ý thức cho 300 nông hộ nòng cốt.

Kết luận

  • Luận văn đã phác thảo toàn diện bức tranh quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại huyện Phù Cừ thông qua khảo sát thực tế 300 hộ nông dân và 10 cơ sở kinh doanh tại 3 xã đại diện.
  • Đề tài chỉ ra sự mất cân đối nghiêm trọng khi trên 85% nông hộ lạm dụng thuốc hóa học và hơn 65% bao bì thuốc sau sử dụng chưa được thu gom đúng quy chuẩn môi trường.
  • Nghiên cứu ghi nhận đóng góp tích cực của cơ quan chuyên môn khi dự báo chuẩn xác 3 trên 5 dịch hại chính trong năm 2016, giữ vững năng suất lúa toàn huyện đạt 122,2 tạ/ha.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của công trình là đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp gắn liền trách nhiệm của cán bộ quản lý, chủ đại lý kinh doanh và người sản xuất trực tiếp.
  • Đề ra lộ trình hành động giai đoạn 2018 đến 2020 nhằm nâng tỷ lệ sử dụng thuốc sinh học lên 30% và hoàn thiện hạ tầng thu gom bao bì nguy hại tại 100% các xã.

Các cấp chính quyền và cơ quan quản lý nông nghiệp cần sớm đưa những khuyến nghị này vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương nhằm bảo vệ tài nguyên đất, nước và hướng tới nền nông nghiệp sạch bền vững.