Mở đầu cho việc dùng các chất xông hơi trong BVTV là sự kiện dùng HCN trừ rệp vảy Aonidiella aurantiihại cam (1887). Năm 1889, aseto asenat đồng được dùng trừ sâu Leptinotarsa decemeatas hại khoai tây; 1892 gipxin (asenat chì) để trừ sâu ăn quả, sâu rừng Porthetria dispr. Nửa cuối thế kỷ19 cacbon disulfua (CS2) được dùng để chống chuột đồng và các ổ rệp Pluylloxera hại nho. Nhưng biện pháp hoá học lúc này vẫn chưa có một vai trò ñáng kểtrong sản xuất nông nghiệp.
Từ đầu thế kỷ20 đến năm 1960): Các thuốc trừdịch hại hữu cơ ra đời, làm thay đổi vai trò của biện pháp hoá học trong sản xuất nông nghiệp. Ceresan - thuốc trừ nấm thuỷ ngân hữu cơ đầu tiên (1913); các thuốc trừ nấm lưu huỳnh (1940); rồi đến các nhóm khác. Thuốc trừ cỏ còn xuất hiện muộn hơn (những năm 40 của thếkỷthếkỷ20). Việc phát hiện khả năng diệt côn trùng của DDT (năm 1939) đã mở ra cuộc cách mạng của biện pháp hoá học BVTV.
Hàng loạt các thuốc trừ sâu ra đời sau đó: clo hữu cơ(những năm 1940-1950); các thuốc lân hữu cơ, các thuốc cacbamat (1945-1950). Lúc này người ta cho rằng: Mọi vấn đề BVTV đều có thể giải quyết bằng thuốc hoá học. Biện pháp hoá học bị khai thác ở mức tối đa, thậm chí người ta còn hy vọng, nhờthuốc hoá học ñểloại trừhẳn một loài dịch hại trong một vùng rộng lớn. Từcuối những năm 1950, những hậu quả xấu của thuốc BVTV gây ra cho con người, môi sinh và môi trường ñược phát hiện.
Khái niệm phòng trừ tổng hợp sâu bệnh ra đời. n 13 Những năm 1960- 1980: Việc lạm dụng thuốc BVTV đã để lại những hậu quả rất xấu cho môi sinh môi trường dẫn đến tình trạng, nhiều chương trình phòng chống dịch hại của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế dựa vào thuốc hoá học đã bị sụp đổ; tư tưởng sợ hãi, không dám dùng thuốc BVTV xuất hiện; thậm chí có người cho rằng, cần loại bỏ không dùng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp. Tuy vậy, các loại thuốc BVTV mới có nhiều ưu điểm, an toàn hơn đối với môi sinh môi trường, như thuốc trừ cỏ mới, các thuốc trừ sâu nhóm perethroid tổng hợp (1970), các thuốc trừ sâu bệnh có nguồn gốc sinh học hay tác động sinh học, các chất điều tiết sinh trưởng côn trùng và cây trồng vẫn liên tục ra đời. Lượng thuốc BVTV được dùng trên thế giới không những không giảm mà còn tăng lên không ngừng.
Từ những năm 1980 đến nay: Vấn đề bảo vệ môi trường được quan tâm hơn bao giờ hết. Nhiều loại thuốc BVTV mới, trong đó có nhiều thuốc trừ sâu bệnh sinh học, có hiệu quả cao với dịch hại, nhưng an toàn với môi trường ra đời. Vai trò của biện pháp hoá học đã được thừa nhận. Tư tưởng sợ thuốc BVTV cũng bớt dần.
Quan điểm phòng trừ tổng hợp được phổbiến rộng rãi. Mặc dù sự phát triển của biện pháp hoá học có nhiều lúc thăng trầm, song tổng giá trị tiêu thụ thuốc BVTV trên thế giới và số hoạt chất tăng lên không ngừng, số chủng loại ngày càng phong phú. Nhiều thuốc mới và dạng thuốc mới an toàn hơn với môi sinh môi trường liên tục xuất hiện bất chấp các qui định quản lý ngày càng chặt chẽ của các quốc gia đối với thuốc BVTV và kinh phí ñầu tư cho nghiên cứu để một loại thuốc mới ra đời ngày càng lớn. Trong 10 năm gần đây tổng lượng thuốc BVTV tiêu thụ có xu hướng giảm, nhưng giá trị của thuốc tăng không ngừng.
Nguyên nhân là cơ cấu thuốc thay đổi: Nhiều loại thuốc cũ, giá rẻ, dùng với lượng lớn, độc với môi sinh môi trường được thay thế dần bằng các loại thuốc mới hiệu quả, an toàn và dùng với lượng ít hơn, nhưng lại có giá thành cao. n 14 Tuy vậy, mức đầu tư về thuốc BVTV và cơ cấu tiêu thụ các nhóm thuốc tuỳ thuộc trình độ phát triển và đặc điểm canh tác của từng nước. Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO), năm 1972 toàn thế giới sử dụng lượng thuốc BVTV trị giá 7,7 tỷ USD, năm 1985 khoảng 16 tỷ USD, đến năm 1990 sử dụng trên 3 triệu tấn hoạt chất thuốc BVTV, trị giá khoảng 25 tỷ USD. Trong đó thuốc trừ cỏ 46%, thuốc trừ sâu 31%, thuốc trừ bệnh 18%, và 5% là các thuốc khác.
Khoảng 80% thuốc BVTV sản xuất ra được sử dụng ở các nước phát triển. Tuy vậy, tốc độ sử dụng thuốc BVTV ở các nước đang phát triển tăng 7-8%/năm, nhanh hơn các nước phát triển (2-4%/năm). Trong đó chủ yếu là các thuốc trừ sâu (chiếm 70%). Đến nay thế giới sản xuất khoảng 4,4 triệu tấn/năm với 2.537 loại thuốc BVTV.
Những quốc gia có sản lượng, kim ngạch xuất nhập khẩu và sử dụng thuốc BVTV đứng hàng đầu thế giới là Trung Quốc và Hoa Kỳ. Công tác quẩn lý và sử dụng thuốc BVTV tại Việt Nam. Trước năm 1957: Biện pháp hoá học hầu như không có vị trí trong sản xuất nông nghiệp. Một lượng rất nhỏ sunfat đồng được dùng ở một số đồn điền do Pháp quản lý để trừ bệnh gỉ sắt cà phê và Phytophthoracao su và một ít DDT được dùng để trừ sâu hại rau.
Việc thành lập Tổ Hoá BVTV (1/1956) của Viện Khảo cứu trồng trọt đã đánh dấu sự ra đời của ngành Hoá BVTV ở Việt nam. Thuốc BVTV được dùng lần đầu trong sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc là trừ sâu gai, sâu cuốn lá lớn bùng phát ở Hưng yên (vụ đông xuân 1956-1957). Ở miền Nam, thuốc BVTV được sử dụng từ năm 1962. Thời kỳ bao cấp(1975-1990): Việc nhập khẩu, quản lý và phân phối thuốc do nhà nước độc quyền thực hiện.
Nhà nước nhập rồi trực tiếp phân phối thuốc cho các tỉnh theo giá bao cấp. Bằng màng lưới vật tư nông nghiệp địa phương, thuốc BVTV được phân phối thẳng xuống HTX nông nghiệp. Ban Quản trị HTX quản lý và giao cho tổ BVTV hướng dẫn xã viên phòng trị dịch hại trên đồng ruộng. Lượng thuốc BVTV dùng không nhiều, khoảng 15000 tấn thành phẩm/ năm n 15 với khoảng 20 chủng loại thuốc trừ sâu (chủyếu) và thuốc trừ bệnh.
Đa phần là các thuốc có độtồn lưu lâu trong môi trường hay có độ độc cao. Việc quản lý thuốc lúc này khá dễ dàng, thuốc giảthuốc kém chất lượng không có điều kiện phát triển. Song tình trạng phân phối thuốc không kịp thời; đáp ứng không đúng chủng loại, nơi thừa, nơi thiếu, gây tình trạng khan hiếm giả tạo, dẫn đến hiệu quả sử dụng thuốc thấp. Mặt khác, người nông dân không có điều kiện lựa chọn thuốc, thiếu tính chủ động và ỷ lại nhà nước.
Tuy lượng thuốc dùng ít, nhưng tình trạng lạm dụng thuốc BVTV vẫn nảy sinh. Để phòng trừ sâu bệnh, người ta chỉ biết dựa vào thuốc BVTV. Thuốc dùng tràn lan, phun phòng là phổ biến, khuynh hướng phun sớm, phun định kỳ ra đời, thậm chí dùng thuốc cả vào những thời điểm không cần thiết; tình trạng dùng thuốc sai kỹ thuật nảy sinh khắp nơi; thậm chí người ta còn hy vọng dùng thuốc BVTV để loại trừ hẳn một loài dịch hại ra khỏi một vùng rộng lớn. Thuốc đã để lại những hậu quả rất xấu đối với môi trường và sức khoẻ con người.
Khi nhận ra những hậu quả của thuốc BVTV, cộng với tuyên truyền quá mức về tác hại của chúng đã gây nên tâm lý sợ thuốc. Từcuối những năm 80 của thế kỷ 20, đã có nhiều ý kiến đề xuất nên hạn chế, thậm chí loại bỏ hẳn thuốc BVTV; dùng biện pháp sinh học để thay thế biện pháp hoá học trong phòng trừ dịch hại nông nghiệp. Từ 1990 đến nay: Thị trường thuốc BVTV đã thay đổi cơ bản: nền kinh tế từ tập trung bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường. Năm thành phần kinh tế, đều được phép kinh doanh thuốc BVTV.
Nguồn hàng phong phú, nhiều chủng loại được cung ứng kịp thời, nông dân có điều kiện lựa chọn thuốc, giá cả khá ổn định có lợi cho nông dân. Lượng thuốc BVTV tiêu thụ qua các năm đều tăng. Nhiều loại thuốc mới và các dạng thuốc mới, hiệu quả hơn, an toàn hơn với môi trường được nhập. Một mạng lưới phân phối thuốc BVTV rộng khắp cả nước đã hình thành, việc cung ứng thuốc đến nông dân n 16 rất thuận lợi.
Công tác quản lý thuốc BVTV được chú ý ñặc biệt và đạt được hiệu quảkhích lệ. Nhưng do nhiều nguồn hàng, mạng lưới lưu thông quá rộng đã gây khó cho công tác quản lý; quá nhiều tên thuốc đẩy người sửdụng khó lựa chọn ñược thuốc tốt và việc hướng dẫn kỹ thuật dùng thuốc cũng gặp không ít khó khăn. Tình trạng lạm dụng thuốc, tưt ưởng ỷ lại biện pháp hoá học đã để lại những hậu quả xấu cho sản xuất và sức khoẻ con người. Ngược lại, có nhiều người “bài xích” thuốc BVTV, tìm cách hạn chế, thậm chí đòi loại bỏ thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp và tìm cách thay thế bằng các biện pháp phòng trừ khác.
Tuy vậy, vai trò của biện pháp hoá học trong sản xuất nông nghiệp vẫn được thừa nhận. Để phát huy hiệu quả của thuốc BVTV và sử dụng chúng an toàn, phòng trừ tổng hợp là con đường tất yếu phải đến. Phải phối hợp hài hoà các biện pháp trong hệ thống phòng trừ tổng hợp; sử dụng thuốc BVTV là biện pháp cuối cùng, khi các biện pháp phòng trừ khác sử dụng không hiệu quả. Trong thời gian này, mối quan hệ quốc tế giữa nước ta với các nước, với các tổchức quốc tế( FAO, WHO, CIRAP).
và các tổ chức trong khu vực vốn có nay càng được đẩy mạnh và phát huy tác dụng, giúp chúng ta nhanh chóng hội nhập được với trào lưu chung của thếgiới. Ở nước ta, thuốc BVTV đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, quyết định nhanh chóng dập các dịch bệnh trên diện rộng. Nếu không có thuốc BVTV, nhiều dịch hại cây trồng có thể làm giảm 40% đến 60% năng suất trên diện rộng, có nơi có thể mất trắng. Song cũng phải thấy hết những hệ lụy xấu cho môi trường, cho con người, nhất là khi quá lạm dụng nó.
Việc sử dụng thuốc BVTV đã tăng quá nhanh trong thời gian qua. Theo số liệu Cục BVTV trong giai đoạn 1981- 1986, số lượng thuốc sử dụng là 6.000 tấn, tăng 20 đến 30 nghìn tấn giai đoạn 1991- 2000 và từ 36 đến 75,8 nghìn tấn giai đoạn 2001- 2007. Trong vòng 10 năm (2000-2011) số lượng n 17 thuốc BVTV được sử dụng tăng 2,5 lần; số loại thuốc đăng ký sử dụng tăng 4,5 lần và giá trị thuốc nhập khẩu tăng 3,5 lần. Số lượng hoạt chất đăng ký sử dụng ở Việt Nam gần 1.000 loại, còn các nước trong khu vực là 400 đến 600 loại (Theo Cục Bảo vệ thực vật, 2010)[2].