Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống rừng đặc dụng đóng vai trò là trụ cột chiến lược trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học và gìn giữ hệ sinh thái tự nhiên tại Việt Nam. Tính đến giai đoạn phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên, toàn quốc đã xác lập 133 khu rừng đặc dụng với tổng diện tích lên tới 3.321.000 ha, chiếm hơn 9% diện tích tự nhiên của cả nước. Trong số đó, Vườn quốc gia Xuân Sơn tại tỉnh Phú Thọ sở hữu diện tích 15.048 ha, giữ vị trí then chốt về bảo vệ cảnh quan karst đá vôi và nguồn gen quý hiếm vùng Tây Bắc. Tuy nhiên, việc áp dụng phương thức quản lý hành chính cứng nhắc từ trên xuống đã tạo ra khoảng cách lớn giữa mục tiêu bảo tồn nghiêm ngặt và sinh kế của cộng đồng cư dân vùng đệm.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng ba xã vùng đệm bao gồm Xuân Đài, Kim Thượng và Đồng Sơn có tỷ lệ đất lâm nghiệp rất cao, lần lượt chiếm 80,19% (5.297,2 ha), 93,21% (6.818,58 ha) và 81,9% (3.540,16 ha) trên tổng diện tích tự nhiên. Mặc dù sở hữu nguồn vốn rừng phong phú, đời sống của người dân địa phương vẫn đối mặt với muôn vàn khó khăn khi tỷ lệ hộ nghèo trung bình chiếm tới 39,90% theo chuẩn nghèo nông thôn giai đoạn 2011-2015. Sự phụ thuộc sâu sắc vào tài nguyên rừng để lấy gỗ, củi đun, săn bắt động vật và khai thác nứa đã tạo áp lực trực tiếp lên hệ sinh thái vùng lõi.

Đề tài được triển khai nhằm phân tích thực trạng quản lý tài nguyên, xác định các nhân tố cản trở và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng bản địa, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp đồng quản lý rừng bền vững giai đoạn 2013-2020. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc lượng hóa các chỉ số tương tác sinh kế - tài nguyên, cung cấp luận cứ khoa học để chuyển giao quyền tự chủ cho người dân, giảm thiểu các vụ vi phạm lâm luật và duy trì độ che phủ rừng phòng hộ đầu nguồn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của ba nền tảng lý luận chính trong quản lý tài nguyên thiên nhiên hiện đại. Thứ nhất là lý thuyết hệ thống (Systems Theory), nhìn nhận rừng như một chỉnh thể sinh thái - kinh tế - xã hội có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ. Rừng vừa chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên, vừa phản ánh trực tiếp hành vi kinh tế như khai thác lâm sản, làm nương rẫy và tích lũy thu nhập của nông hộ. Việc can thiệp vào các biến số kinh tế sẽ tạo ra sự thay đổi tương ứng trong cấu trúc bảo vệ hệ sinh thái rừng.

Thứ hai là mô hình sinh thái nhân văn của Robert E. Park, phân tích hành vi xã hội của cộng đồng dựa trên cấu trúc tháp 4 bậc nhân tố: bậc sinh thái tự nhiên, bậc kinh tế sinh kế, bậc thể chế chính sách và bậc chuẩn mực đạo đức văn hóa. Mô hình này làm sáng tỏ mối quan hệ nghịch đảo giữa mức độ phát triển kinh tế hộ gia đình và áp lực xâm hại tài nguyên rừng. Thứ ba là quan điểm bảo tồn và phát triển tích hợp (ICDP), khẳng định tính bền vững của rừng chỉ đạt được khi lợi ích từ việc bảo tồn được phân chia công bằng và có sự tham gia chủ động của người dân địa phương.

Hệ thống khái niệm nòng cốt trong công trình bao gồm: Quản lý rừng cộng đồng (Community-Based Forest Management - CBFM), Vùng đệm theo tinh thần Quyết định 186/2006/QĐ-TTg, Cộng đồng dân cư thôn bản theo Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, cùng Thể chế quản lý rừng dựa trên tri thức bản địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hai kênh chính: dữ liệu thứ cấp từ niên giám thống kê huyện Tân Sơn, báo cáo kiểm kê rừng của Chi cục Kiểm lâm Phú Thọ giai đoạn 2010-2013, và dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp tại thực địa. Nghiên cứu thực hiện phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) kết hợp phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) với quy trình chọn mẫu phân tầng đa giai đoạn.

Cỡ mẫu khảo sát bao gồm 6 thôn tiêu biểu đại diện cho ba xã Xuân Đài, Kim Thượng và Đồng Sơn. Tại mỗi thôn, tiến hành phỏng vấn sâu 3 hộ gia đình thuộc 3 nhóm mức sống khác nhau (hộ khá, hộ trung bình, hộ nghèo), tạo nên bộ dữ liệu mẫu gồm 18 hộ phỏng vấn chuyên sâu cùng các biểu mẫu thu thập mở rộng trên 3.528 nhân khẩu của khu vực. Đồng thời, tổ chức các cuộc thảo luận nhóm tập trung (FGD) với quy mô 8 đến 10 người mỗi nhóm, bảo đảm cơ cấu đa dạng về độ tuổi, giới tính và thành phần nghề nghiệp như người thường xuyên đi rừng, đại diện Hội Phụ nữ, Hội Nông dân và Ban công an xã.

Lý do lựa chọn phương pháp PRA kết hợp tham vấn chuyên gia là nhằm khai thác tối đa tri thức địa phương, phản ánh trung thực động lực sinh kế và bảo đảm tính khả thi của các mô hình thể chế đề xuất. Toàn bộ dữ liệu định lượng và định tính được mã hóa, xử lý và phân tích so sánh thông qua các chỉ số thống kê mô tả nhằm xác định rõ các điểm nghẽn trong công tác quản lý tài nguyên.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thực trạng quản lý rừng tại khu vực nghiên cứu thể hiện sự đan xen giữa 4 hình thức quản lý chính: rừng do hộ gia đình quản lý (đã giao 4.624,5 ha), rừng do Công ty Lâm nghiệp Xuân Đài quản lý (712,3 ha trồng Keo lai và Bạch đàn), rừng đặc dụng thuộc Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Sơn (quản lý 789 ha vùng lõi tại xã Xuân Đài) và diện tích rừng do cộng đồng thôn bản tạm quản lý.

Cơ cấu kinh tế của cư dân vùng đệm cho thấy mức độ phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên ở mức rất cao. Phân tích tỷ trọng các nguồn thu nhập cho thấy các sản phẩm trực tiếp từ rừng (gỗ, động vật hoang dã, nứa và các loại lâm sản ngoài gỗ) chiếm tới 4/10 (tương đương 40%) trong tổng giá trị sinh kế và đóng vai trò là nguồn thu tiền mặt chủ lực của các hộ gia đình. Đối với hộ khá, nguồn thu tiền mặt từ chăn nuôi gia súc đạt khoảng 2.000.000 đồng/đợt xuất bán, trong khi hộ nghèo chỉ thu khoảng 300.000 đồng từ việc bán lâm sản phụ nhặt hái tự nhiên.

Đặc điểm dân tộc và xã hội chi phối sâu sắc đến nhận thức bảo vệ rừng. Cơ cấu dân số tại 3 xã gồm 3 dân tộc chính: người Mường chiếm đa số với 74,9%, người Dao chiếm 13,4% và người Kinh chiếm 11,7%. Mặc dù các bản quy ước bảo vệ rừng đã được ký kết tại các khu hành chính, nhưng trên thực tế mức độ tham gia của người dân chưa mang tính tự nguyện cao. Hợp đồng giao khoán trồng và chăm sóc rừng chỉ kéo dài ngắn hạn trong 3 năm, cùng với mức tiền chi trả giao khoán thấp khiến các hộ gia đình có tâm lý làm thuê, chưa thực sự gắn bó trách nhiệm lâu dài với diện tích rừng được giao.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng suy thoái tài nguyên rừng và nguy cơ cháy rừng cao bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa địa hình tự nhiên và điều kiện sản xuất nông nghiệp. Vùng núi cao hiểm trở chiếm tới 94,45% diện tích tự nhiên của khu vực nghiên cứu, trong khi vùng đất thấp canh tác lúa nước chỉ chiếm 5,55%. Tổng diện tích gieo trồng cây lương thực hàng năm đạt 875,5 ha, trong đó lúa nước đạt 518,5 ha với năng suất 51 tạ/ha/vụ và ngô đông đạt 139,5 ha với năng suất 45 tạ/ha. Nguồn cung lương thực 3.400 - 3.500 tấn/năm chưa đủ đáp ứng nhu cầu gia tăng dân số, buộc người dân phải tiếp tục canh tác nương rẫy và khai thác nứa thô để bù đắp thiếu hụt kinh tế.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu của Gilmour và Nguyễn Văn Sản tại Vườn quốc gia Ba Vì, Bạch Mã, Cát Tiên, kết quả tại Xuân Sơn cho thấy sự tương đồng rõ rệt: các biện pháp ngăn cấm hành chính thuần túy không thể ngăn chặn việc khai thác trái phép nếu không giải quyết được bài toán sinh kế tại chỗ. Điểm khác biệt tại vùng đệm Xuân Sơn là sự tồn tại của hệ thống luật tục truyền thống của người Mường và người Dao với các già làng, trưởng bản có uy tín cao trong thôn xóm. Tuy nhiên, thiết chế này đang bị bỏ ngỏ và chưa được tích hợp vào hệ thống quản lý chính thức của Nhà nước.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua biểu đồ cơ cấu sử dụng đất đai và bảng ma trận đánh giá vai trò của các tổ chức nội tại. Mối liên kết giữa Ban lâm nghiệp xã, Kiểm lâm địa bàn và Tổ bảo vệ rừng thôn bản (từ 5 đến 7 người) hiện còn thiếu kinh phí vận hành, dẫn đến các đợt tuần tra định kỳ 2 lần/tháng chưa đạt được hiệu quả giám sát tối ưu trên toàn bộ diện tích 15.048 ha của khu vực.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các bất cập trong quản lý tài nguyên, đề tài đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ có tính hành động cao:

Thứ nhất, kiện toàn thể chế quản lý rừng cộng đồng thôn bản. Ủy ban nhân dân huyện Tân Sơn cùng Hạt Kiểm lâm cần phối hợp với Ủy ban nhân dân 3 xã thành lập Ban quản lý rừng cộng đồng tại 100% các thôn, bản trước quý IV năm 2014. Ban hành quy chế hoạt động chính thức cho các Tổ bảo vệ rừng cấp thôn với quy mô 5-7 thành viên, duy trì lịch tuần tra 2 lần/tháng. Tiến hành rà soát, thể chế hóa các luật tục tiến bộ của đồng bào Mường và Dao vào bản hương ước bảo vệ rừng, phân định rõ ranh giới cắm mốc thực địa cho 4.624,5 ha rừng đã giao cho hộ gia đình.

Thứ hai, triển khai chương trình phát triển sinh kế và chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Phòng Nông nghiệp huyện Tân Sơn phối hợp cùng Ngân hàng Chính sách xã hội giải ngân gói tín dụng ưu đãi cho 39,90% hộ nghèo trong giai đoạn 2014-2016. Hỗ trợ kỹ thuật thâm canh nâng cao năng suất 518,5 ha lúa nước vượt mức 55 tạ/ha/vụ; xây dựng mô hình nông lâm kết hợp dưới tán rừng thông qua việc trồng xen các loài cây bản địa có giá trị kinh tế cao như rau sắng, sa nhân và phục hồi diện tích rừng nứa khai thác luân kỳ.

Thứ ba, thiết lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng. Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Sơn trích tối thiểu 15-20% nguồn thu từ dịch vụ chi trả môi trường rừng và hoạt động du lịch sinh thái để tái đầu tư cho quỹ thôn bản. Nguồn kinh phí này dùng để chi trả thù lao tuần tra cho tổ đội bảo vệ rừng, hỗ trợ kinh phí hoạt động cho già làng, trưởng bản và tạo nguồn vốn vay xoay vòng lãi suất thấp phục vụ phát triển đàn gia súc 3.312 con trâu trên địa bàn.

Thứ tư, đổi mới phương thức truyền thông và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Trung tâm Khuyến nông - Khuyến lâm Phú Thọ tổ chức định kỳ 12 lớp tập huấn chuyên đề mỗi năm về kỹ thuật phòng cháy chữa cháy rừng, kỹ thuật ủ phân vi sinh và chăn nuôi an toàn sinh học. Biên soạn tài liệu tuyên truyền song ngữ Kinh - Dao và Kinh - Mường, ứng dụng hệ thống truyền thanh không dây cơ sở để nâng cao ý thức tuân thủ Luật Bảo vệ và Phát triển rừng cho toàn thể người dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm thứ nhất là các Ban quản lý Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên trên toàn quốc. Các nhà quản lý có thể ứng dụng trực tiếp mô hình tổ chức Ban quản lý rừng cộng đồng thôn bản, quy trình tuần tra phối hợp và bộ công cụ đánh giá mức độ phụ thuộc sinh kế để áp dụng cho diện tích 15.048 ha tại Xuân Sơn hoặc các khu rừng đặc dụng có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng.

Nhóm thứ hai là các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách lâm nghiệp, bao gồm Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm các tỉnh miền núi. Tài liệu cung cấp cơ sở thực chứng về việc giao 4.624,5 ha đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và bài học thực thi chính sách vùng đệm theo Quyết định 186/2006/QĐ-TTg, hỗ trợ hoàn thiện quy chế chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Nhóm thứ ba là các giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học và Phát triển nông thôn. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về việc vận dụng lý thuyết hệ thống, mô hình sinh thái nhân văn và phương pháp nghiên cứu PRA trong phân tích các bài toán lâm nghiệp xã hội.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và ban điều hành các dự án phát triển quốc tế đang hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học. Báo cáo cung cấp dữ liệu nền tảng chi tiết về tỷ lệ hộ nghèo 39,90%, cơ cấu dân tộc Mường - Dao và chuỗi giá trị lâm sản ngoài gỗ, giúp thiết kế các can thiệp hỗ trợ cộng đồng chuẩn xác và hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Mục tiêu cốt lõi của việc thúc đẩy cộng đồng tham gia quản lý rừng tại vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Sơn là gì? Mục tiêu trọng tâm là dung hòa mối quan hệ giữa bảo tồn hệ sinh thái 15.048 ha của Vườn quốc gia và phát triển kinh tế cho cộng đồng địa phương có tỷ lệ nghèo 39,90%. Nghiên cứu hướng đến việc chuyển giao quyền quản lý thực chất cho người dân, phát huy tri thức bản địa của người Mường và Dao để bảo vệ tài nguyên bền vững.

Mô hình tổ chức bảo vệ rừng cấp xã tại khu vực nghiên cứu được vận hành như thế nào? Mô hình do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã làm Trưởng ban chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ với Kiểm lâm địa bàn và Ban lâm nghiệp xã. Tại cấp cơ sở, các Tổ bảo vệ rừng gồm 5 đến 7 thành viên thực hiện tuần tra thực địa 2 lần/tháng, trực tiếp giám sát và ngăn chặn các hành vi khai thác trái phép trên 4.624,5 ha rừng được giao.

Tại sao các quy ước bảo vệ rừng thôn bản trước đây chưa đạt được hiệu quả như kỳ vọng? Trong thực tế, các bản cam kết trước đây chủ yếu viết bằng chữ phổ thông, chưa tích hợp luật tục của 74,9% người Mường và 13,4% người Dao. Thêm vào đó, các hợp đồng nhận khoán chỉ kéo dài 3 năm với mức thù lao thấp, thiếu các hỗ trợ sinh kế đi kèm nên chưa tạo được động lực kinh tế cho người dân tham gia.

Lâm sản ngoài gỗ đóng góp vai trò cụ thể ra sao trong cơ cấu thu nhập của người dân? Các sản phẩm từ rừng như nứa, rau sắng, sa nhân và cây thuốc chiếm tỷ trọng tới 4/10 trong cơ cấu kinh tế của hộ gia đình. Điển hình là việc khai thác nứa tạo ra nguồn thu tiền mặt thường xuyên, giúp các hộ nghèo trang trải chi tiêu sinh hoạt hàng ngày trước khi thu hoạch 518,5 ha lúa nước vụ mùa.

Đề tài đề xuất giải pháp tài chính bền vững nào cho các tổ tuần tra rừng cộng đồng? Nghiên cứu đề xuất thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp thôn, trích từ 15-20% nguồn thu chi trả dịch vụ môi trường rừng và du lịch sinh thái. Nguồn quỹ này bảo đảm chi trả phụ cấp tuần tra cho tổ bảo vệ rừng, hỗ trợ kinh phí cho già làng và cho vay phát triển đàn gia súc 3.312 con trâu.

Kết luận

  • Toàn bộ diện tích 15.048 ha của Vườn quốc gia Xuân Sơn chịu áp lực sinh kế trực tiếp từ 3 xã vùng đệm có tỷ lệ đất lâm nghiệp chiếm trên 80% diện tích tự nhiên.
  • Đồng bào dân tộc Mường (74,9%) và dân tộc Dao (13,4%) giữ vai trò chủ thể then chốt trong việc quản lý và bảo vệ 4.624,5 ha rừng đã được giao cho hộ gia đình.
  • Tỷ lệ hộ nghèo 39,90% và mức độ phụ thuộc 40% thu nhập vào lâm sản là điểm nghẽn chính cần tháo gỡ bằng cơ chế chia sẻ lợi ích thay vì ngăn cấm thụ động.
  • Mô hình đồng quản lý rừng thôn bản với tổ tuần tra 5-7 thành viên sinh hoạt định kỳ 2 lần/tháng kết hợp quỹ tài chính tự chủ là giải pháp thể chế mang tính đột phá.
  • Kế hoạch hành động giai đoạn 2014-2016 cần tập trung thâm canh 518,5 ha lúa nước, mở rộng chuỗi giá trị lâm sản ngoài gỗ và hoàn thiện khung pháp lý giao đất rừng lâu dài.

Đóng góp lớn nhất của công trình nghiên cứu là đã xây dựng thành công luận cứ khoa học và khung phương pháp luận hoàn chỉnh cho mô hình lâm nghiệp cộng đồng tại vùng đệm rừng đặc dụng miền núi phía Bắc. Để hiện thực hóa các mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững, các nhà hoạch định chính sách, ban quản lý vườn quốc gia cùng các nhà khoa học lâm nghiệp cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ nhằm triển khai đồng bộ các khuyến nghị của đề tài vào thực tiễn quản lý tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam.