Chương I1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý nguôn nhân lực trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nguôn nhân lực tại Công ty Thương mại và Vận tải Bình Dương. Chương 3: Một số giải pháp nhăm hoàn thiện công tác quản lý nguồn nhân lực tại Công ty Thương mại và Vận tải Bình Dương. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VA THUC TIEN VE CONG TAC QUAN LY NGUON NHAN LUC TRONG DOANH NGHIEP 1.1 Cơ sở lý luận về công tác quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm, cơ sở lý luận về quản lý nguôn nhân lực * Khái niệm về nguôn nhân lực Thuật ngữ nguồn nhân lực (human resources) xuất hiện vào thập niên §0 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động.
Trước đây phương thức quản lý nhân sự (personnel management) với các đặc trưng coi nhân viên là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chỉ phí tối thiểu thì từ những năm §0 đến nay với phương thức mới, quản lý nguôn nhân lực (human resources management) với tính chât mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển. Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ “nguồn nhân lực” là một trong những biểu hiện cụ thể cho su thang thé của phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn lực con người [1]. “Nguôn lực con người” hay “nguồn nhân lực”, là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với nhiều góc độ khác nhau. Theo định nghĩa của Liên Hợp quốc: “Nguôn nhân lực là trình độ lành nghèẻ, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng dé phat triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” [1].
Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều so với các nguồn lực khác bởi con người là một thực thể sinh vật - xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ. Theo David Begg: “Ngu6én nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cũng giống như nguôn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai” [2].TS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tông thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sảng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đôi cơ cấu lao động, cơ câu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoa” [3]. Nguyễn Hữu Dũng: “Nguôn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội.
Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra gia tri vat chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực dé đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguôn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ. Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyên nguôn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người.
Con người với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và công hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn” [4]. Khái niệm "nguồn nhân lực” (Human Resources) được hiểu như khái niệm "nguồn lực con người”. Khi được sử dụng như một công cụ điều hành, thực thi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động - hay còn được gọi là nguồn lao động. Bộ phận của nguồn lao động gồm toàn bộ những người từ độ tuổi lao động trở lên có khả năng và nhu câu lao động được gọi là lực lượng lao động.
Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguôn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con người với tư cách là yếu tố cầu thành lực lượng sản xuât giữ vị trí hàng đâu, là nguôn lực cơ bản và nguôn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng: không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Nguồn nhân lực của một tô chức, một doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở các cả nhân có vai trò, vị trí được phân công khác nhau, nhưng do yêu cầu hoạt động của tô chức, của doanh nghiệp, đã được liên kết lại với nhau để phan đấu cho một mục tiêu nhất định, nhăm đạt được những thành quả do tô chức, doanh nghiệp đó đề ra. Nguồn nhân lực khác với nguồn lực khác của doanh nghiệp (tài chính, vốn, tài nguyên, thiết bị v.
Bất cứ tổ chức nào cũng được hình thành bởi các thành viên là con người hay nguồn nhân lực của nó. Do đó có thể nói nguôn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người làm việc trong tô chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi COn người mà nguồn lực này gồm thể lực và trí lực. Vì vậy, có thể hiểu: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tỉnh thần tạo nên năng lực mà bản thán con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quả trình lao dong sang tao vi su phat triển và tiễn bộ xã hội. * Khái niệm về quản lý nguôn nhân lực trong doanh nghiệp Ở bất kỳ một doanh nghiệp nào, dù lớn hay nhỏ thì yếu tố nhân lực luôn là quan trọng nhất vì nhân lực là yếu tố quyết định phân lớn đến sự tổn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Vì vậy vân đề quản lý nhân lực luôn được quan tâm hàng đâu. Quản lý NNL nghiên cứu các vân đê vê quản trỊ con người trong các tô chức ở tâm vi mô với hai mục tiêu cơ bản: - Sử dụng có hiệu quả nguôn nhân lực nhăm tăng năng suât lao động và nâng cao tính hiệu quả của tô chức; - Đáp ứng nhu câu ngày càng cao của nhân viên, tạo điêu kiện cho nhân viên được phát huy tôt đa các năng lực cá nhân, được kích thích, động viên nhiêu nhat tai noi làm việc va trung thành, tận tầm với doanh nghiệp. Chức năng quản lý nguồn nhân lực liên quan đến các công việc hoạch định nhân lực, tuyển mộ, lựa chọn, hướng dẫn đào tạo, huấn luyện và phát triển nghề nghiệp của công nhân viên. Nhân lực phải gắn liền với tổ chức, với việc sắp xếp con người vào vị trí phù hợp nhất định trong bộ máy tỔ chức để đảm bảo khả năng quản lý, điều hành được doanh nghiệp cả hiện tại lẫn tương lai.
Quản lý nhân lực là một trong những chức năng cơ bản của quá trình quản trị bởi con người bao giờ cũng là yếu tô quan trọng nhất của một doanh nghiệp. Do đó việc lựa chọn, sắp xếp con người có năng lực, phẩm chất phù hợp với các vị trí trong bộ máy tô chức là nhiệm vụ hàng đâu của nhà quản lý. Việc xác định nguồn nhân lực, vấn đề tuyển chọn, sắp xép, dao tao va phat triển, đánh giá và đãi ngộ nhân viên. cần phải được đặt trên cơ sở khoa học trong mối liên hệ tương quan với nhiều vấn đề và chức năng khác của quản lý.
Chúng được xem xét xuất phát từ các chiến lược kế hoạch kinh doanh, từ các chính sách nhân sự, kế hoạch và các điều kiện kinh tế của doanh nghiệp, cũng như phải phù hợp với tình hình kinh tế xã hội hiện tại. Nói tóm lại, quản lý nhân lực được hiểu là một trong các chức năng cơ bản của quá trình quản trị, giải quyết tất cả các vấn đề liên quan tới con người gắn với công việc của họ trong bất cứ tổ chức nào. Quản lý nhân lực là quá trình thực hiện các chức năng tÔ chức, lãnh đạo, điều hành NNL trong một doanh nghiệp. Nó có mối quan hệ chặt chẽ với cầu trúc tô chức của doanh nghiệp và thông qua đó doanh nghiệp tô chức và sử dụng lao động một cách khoa học, hiệu quả trên cơ sở phân tích công việc, tuyên dụng lao động, đào tạo huấn luyện, khuyến khích và phát huy khả năng của người lao động, đánh giá kết quả thực hiện công việc của lao động trong doanh nghiệp.
Như vậy, Quản lý nguôn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo, phat trién va duy tri con nguoi cua mot tô chức nhằm đạt được kêt quả tôi tru cho cả tô chức lán nhán viên.2 Y nghĩa của công tác quản lý nguồn nhân lực Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng đều phải hội đủ hai yếu tố, đó là nhân lực và vật lực. Trong đó, nhân lực có ý nghĩa quan trọng, có tính quyết định tới sự tôn tại và phát triển của doanh nghiệp.