Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý dịch vụ chi trả lương hưu thông qua hệ thống Bưu điện. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý dịch vụ chi trả lương hưu thông qua hệ thống Bưu điện Thành phố Hưng Yên. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dịch vụ chi trả lương hưu thông qua hệ thống Bưu điện Thành phố Hưng Yên. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỊCH VỤ CHI TRẢ LƯƠNG HƯU THÔNG QUA HỆ THỐNG BƯU ĐIỆN 1.
Cơ sở lý luận về công tác quản lý dịch vụ chi trả lương hưu thông qua hệ thống Bưu điện 1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội (BHXH) là chính sách quan trọng của mỗi quốc gia, là một bộ phận cấu thành hệ thống an sinh xã hội. Đối với nước ta, nói đến chế độ BHXH chắc chắn ý nghĩ của đa số mọi người là lương hưu. Thậm chí trong thời kỳ đầu chế độ chính xác BHXH được ban hành, khi số lao động được tham gia BHXH mới được thực hiện đối với công nhân viên chức khu vực Nhà nước và dần mở rộng thì việc đi làm ở các cơ quan và chế độ lương hưu hàng tháng trong tương lai là mơ ước của nhiều người.
Hiện nay có khá nhiều các khái niệm BHXH được đưa ra, tùy thuộc vào góc độ tiếp cận của các chủ thể khác nhau, thuật ngữ BHXH cũng không giống nhau giữa các nước về mức độ, phạm vi rộng hẹp của nó. Thuật ngữ “BHXH” lần đầu tiên chính thức được sử dụng làm tiêu đề cho một văn bản Pháp luật vào năm 1935 (Luật BHXH năm 1935 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ). Qua quá trình tìm hiểu, tôi thấy có hai khái niệm BHXH ngắn gọn và phản ánh được rõ nét bản chất của BHXH là: Khái niệm chung: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung được đóng góp bởi người lao động và cả người sử dụng lao động nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội. Trong đó, chi trả hưu trí và tử tuất chiếm 85% tổng chi trả BHXH.[2] Khái niệm BHXH (theo Tổ chức lao động quốc tế): BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó với khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập, gây 11 ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.
BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng được thể chế hóa và thực hiện theo Luật. Đối tượng tham gia BHXH như đã nói trong khái niệm ở trên là cả người lao động và người sử dụng lao động, tuy nhiên không phải trên tất cả các quốc gia thực thi BHXH toàn bộ người lao động đều là đối tượng tham gia, có khi chỉ là bộ phận người lao động nào đó, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển KT – XH của quốc gia đó.Cơ chế hoạt động của Bảo hiểm xã hội Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam [3] Bản chất cơ bản của BHXH được thể hiện như sau: Bản chất kinh tế, sự tồn tại của rủi ro đối với thu nhập của NLĐ là khó lường trước. Để bù đắp những khoản thu nhập bị mất đi khi sự cố xảy ra nếu không tham gia BHXH 12 thì cách cơ bản nhất là phải tích luỹ cá nhân. Tuy nhiên, cách dự trữ cá nhân có nhiều hạn chế, bởi vì nếu đòi hỏi phải dự trữ lớn ngay một lúc thì sẽ rất khó khăn, hơn nữa nhiều lao động không có khả năng.
Còn nếu tích luỹ dần thì khi rủi ro xảy ra sớm, mức độ thiệt hại lớn thì không đủ nguồn tài chính để bù đắp, trang trải phần thu nhập bị mất. Nhưng nếu thông qua BHXH, người lao động chỉ cần đóng góp hàng tháng một tỷ lệ nhỏ phần trăm so với tiền lương của mình cùng với sự hỗ trợ của Ngân sách Nhà nước để tạo ra một quỹ BHXH, quỹ này là tập hợp của số đông người lao động tham gia BHXH để bù đắp cho số ít người tham gia bị rủi ro. Khi rủi ro xảy ra bằng hình thức lấy số đông bù số ít người bị rủi ro sẽ giúp khắc phục những khó khăn trong đời sống cá nhân từng lao động do bị mất hoặc giảm thu nhập. Quỹ BHXH bắt buộc do Nhà nước đứng ra thực hiện do vậy thực sự chưa có thị trường BHXH ở Việt Nam.
Xét thực chất thị trường BHXH ở Việt Nam thể hiện độc quyền, đó là: Cung BHXH do Nhà nước độc quyền cung, cầu thì bắt buộc cầu và mức hưởng BHXH còn thấp nên dẫn đến chất lượng dịch vụ còn kém. Kinh tế ngày càng phát triển thì BHXH ngày càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế, có thể nói rằng kinh tế chính là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước. BHXH không phải là dịch vụ sản xuất mà nó là dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại nhưng khoản thu nhập bị mất của NLĐ khi gặp sự cố trong cuộc sống.
Tỷ lệ trích đóng Bảo hiểm xã hội năm 2020 13 Nguồn: Niềm tin bảo hiểm [4] Bản chất xã hội, BHXH là lĩnh vực vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội và vừa mang tính chất dịch vụ, nhưng trong đó tính xã hội được thể hiện rõ nhất. Nhờ có BHXH khi NLĐ bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, già yếu, chết làm cho thu nhập của họ bị mất hẳn hoặc giảm sút, họ sẽ được bù đắp lại một phần hoặc tất cả từ quỹ BHXH, mà quỹ này là do số đông NLĐ đóng góp, cùng trách nhiệm của người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước. Vậy có thể thấy rằng bản chất của BHXH là sự san sẻ rủi ro giữa tập thể NLĐ. Qua đó cũng thể hiện rõ trách nhiệm xã hội giữa chủ sử dụng lao động với NLĐ, của NLĐ với nhau và sự quan tâm của Nhà nước tới sự cống hiến cho lợi ích xã hội của NLĐ.
Quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn đóng của người sử dụng lao động, người lao động và ngân sách Nhà nước. Bản chất pháp lý, mối quan hệ các bên tham gia BHXH được quy định, điều chỉnh thông qua bộ luật BHXH, hoặc các văn bản BHXH dưới luật hoặc phần quy định về BHXH ở bộ luật khác, do đó nó rằng buộc chặt chẽ trách nhiệm và quyền lợi và các bên có liên quan và ở đây trách nhiệm lớn nhất của NLĐ và của người sử dụng lao động là đóng phí BHXH cho cơ quan BHXH, quyền lớn nhất của NLĐ là được chi trả BHXH khi có sự cố theo quy định của pháp luật. Vậy thực chất BHXH là bản cam kết giữa cơ quan BHXH, người sử dụng lao động và NLĐ về trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên thông qua các quy định của pháp luật điều chỉnh mối quan hệ về BHXH. Quỹ BHXH sau khi được hình thành và quản lý sẽ được sử dụng cho những mục đích sau đây: + Đầu tư: hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH, BHYT, BHTN phải bảo đảm minh bạch, an toàn, hiệu quả và thu hồi được vốn đầu tư thực hiện theo Nghị định số 30/2016/NĐ-CP quy định chi tiết hoạt động đầu tư quỹ BHXH, BHYT, BHTN.
Theo đó, quỹ BHXH đầu tư vào 3 lĩnh vực chính: Cho Ngân sách Nhà nước vay, Mua trái phiếu chính phủ và cho Ngân hàng thương mại vay. 14 + Đóng BHYT cho người đang hưởng lương hưu, đang nghỉ việc hưởng chế độ thai sản, đang hưởng trợ cấp tai nạn. + Chi trả lương hưu và chính sách BHXH. + Chi phí quản lý BHXH.
Phân loại BHXH BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện là 2 hình thức của BHXH, có thể khái quát về 2 hình thức qua bảng sau: Bảng 1. So sánh BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện Tiêu BHXH bắt buộc BHXH tự nguyện chí Khái Loại hình BHXH mà người lao động Loại hình BHXH mà người lao niệm và người sử dụng lao động bắt buộc động tự nguyện tham gia, được lựa phải tham gia. chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng BHXH. Đối + Người làm việc theo hợp đồng lao + Người lao động làm việc theo hợp tượng động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời gian dưới 3 đồng lao động có thời hạn đủ ba tháng tháng; trở lên.
+ Người lao động tự tạo việc làm. + Khi hết thời gian đóng BHXH bắt buộc mà chưa đủ số năm được hưởng chế độ nghỉ hưu, bạn có thể đóng tiếp BHXH tự nguyện để được hưởng chế độ khi nghỉ hưu. Các Ốm đau; Thai sản; Tai nạn lao động; Hưu trí; Tử tuất. chế độ Hưu trí; Tử tuất.
Ngày nay khoảng cách giữa mức lương đóng BHXH và thu nhập thực tế của NLĐ 15 được thu hẹp từng bước. Về nguyên tắc, để đảm bảo người NLĐ không lợi dụng, ỷ lại vào trợ cấp mà tích cực làm việc để hưởng lương hưu BHXH được thiết kế sao cho mức trợ cấp này thấp hơn lúc đang đi làm. Đóng BHXH cũng có thể nói như một khoản dành dụm hàng tháng, tuy nhiên khoản dành dụm này không như gửi tiền vào quỹ tiết kiệm để rồi khi cần, thậm chí bất cứ lúc nào muốn thì tự do rút toàn bộ cả gốc lẫn lãi. Xung quanh NLĐ còn có cộng đồng người trẻ, người già, người khoẻ, người ốm yếu.
có thể nói một cách hình tượng là người “may mắn”, người “rủi ro”. Cùng đóng góp nhưng người rủi ro được hưởng trợ cấp trong khi người may mắn chưa hưởng. Nhưng đến một lúc nào đó, người may mắn cũng sẽ trở thành người rủi ro bên cạnh những người may mắn khác. Đó là sự chuyển giao xã hội giữa hai hoàn cảnh rủi ro và may mắn của đời người, là một phần của phương châm xử thế “mình vì mọi người, mọi người vì mình”.
Khái niệm hưu trí và lương hưu Hưu trí (theo Tổ chức lao động quốc tế) là tên gọi chỉ chung cho những người đã về hưu hoặc nghỉ hưu theo chế độ và được hưởng các chế độ BHXH.