Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu kể từ khi chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2008. Sự chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong sản xuất, kinh doanh. Nhằm kiến tạo hành lang pháp lý an toàn và minh bạch, hệ thống pháp luật doanh nghiệp Việt Nam liên tục được hoàn thiện, tiêu biểu là sự ban hành của Luật Doanh nghiệp năm 2014 thay thế cho Luật Doanh nghiệp năm 2005. Loại hình công ty cổ phần (CTCP) với đặc thù đối vốn và khả năng huy động vốn rộng rãi đóng vai trò nòng cốt trong nền kinh tế, song mô hình quản trị nội bộ tại nhiều doanh nghiệp vẫn bộc lộ vướng mắc trong việc phân định quyền lực, kiểm soát và vận hành theo luật định. Nghiên cứu tình huống tại Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân – một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, đúc sắt thép và gia công cơ khí được thành lập từ năm 2011 – phản ánh rõ nét thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp lý này.

Mục tiêu tổng quát của khóa luận là tiếp cận các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến cơ cấu tổ chức và quản lý công ty cổ phần, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng. Để đạt được mục tiêu này, tác giả xác lập 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về công ty cổ phần, cơ cấu tổ chức và quản lý công ty cổ phần.
  2. Chỉ ra thực trạng pháp luật về cơ cấu tổ chức, quản lý công ty cổ phần tại Việt Nam và phân tích thực tiễn thực hiện thông qua nghiên cứu điển hình tại Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân.
  3. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành cơ cấu tổ chức, quản trị công ty cổ phần.

Về đối tượng nghiên cứu, đề tài tập trung vào hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh cơ cấu tổ chức, quản lý CTCP (quy định về số lượng thành viên, chức năng, thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ của các cơ quan quyền lực: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng giám đốc, Ban kiểm soát) cùng thực trạng thi hành các quy định này.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Quy định pháp luật quản trị CTCP tại Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân (trụ sở tại Hai Bà Trưng, Hà Nội).
  • Thời gian: Khái quát giai đoạn thực thi Luật Doanh nghiệp 2005, tập trung phân tích sâu giai đoạn áp dụng Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn có hiệu lực đến thời điểm nghiên cứu (năm 2018).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên hệ thống khái niệm và khung lý thuyết pháp lý - quản trị doanh nghiệp:

  • Khái niệm về tổ chức và quản lý theo học thuyết của Chester Barnard (hệ thống phối hợp có ý thức nhằm đạt mục tiêu chung), định nghĩa công ty cổ phần của tác giả Đoàn Văn Hạnh và quan niệm cơ cấu quản lý doanh nghiệp của TS. Phạm Ngọc Côn (2002).
  • Khung mô hình so sánh quốc tế về quản trị CTCP: Mô hình đơn lớp của Hoa Kỳ (One-tier Board), Mô hình song lớp của Đức (Two-tier Board), Mô hình Ban kiểm soát độc lập của Nhật Bản, và Mô hình phân lập - chế ước quyền lực theo pháp luật Trung Quốc và Việt Nam.
  • Khung văn bản quy phạm pháp luật: Luật Doanh nghiệp 2014 (quy định tại 213 điều, trong đó có 61 điều về CTCP), đối chiếu Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp 1999; các luật chuyên ngành (Luật Các tổ chức tín dụng 2010, Luật Chứng khoán 2010, Luật Kinh doanh bảo hiểm 2010, Bộ luật Dân sự, Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Bộ luật Lao động 2012); các Nghị định gồm Nghị định 96/2015/NĐ-CP, Nghị định 78/2015/NĐ-CP, Nghị định 81/2015/NĐ-CP, Nghị định 139/2007/NĐ-CP; các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; và Điều lệ công ty.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý luận: Hệ thống hóa quy định pháp luật và các học thuyết pháp lý về quản trị CTCP.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp 2014; so sánh các mô hình quản trị công ty của Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc với Việt Nam.
  • Phương pháp thống kê, phân tích dữ liệu: Tổng hợp các tỷ lệ họp, tỷ lệ biểu quyết, tần suất họp HĐQT và quy mô BKS từ các khảo sát thực tế và ấn phẩm nghiên cứu quản trị.
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): Thu thập và phân tích dữ liệu thực tế về cơ cấu bộ máy, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, quy chế quản lý và hoạt động điều hành tại Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các văn bản luật, nghị định, các công trình nghiên cứu khoa học liên quan (luận án của NCS. Nguyễn Thị Thu Hương, luận án của Ngô Viễn Phú, luận văn của Lê Thúy An, đề tài của TS. Nguyễn Tuấn Phương, công trình của TS. Nguyễn Đình Cung năm 2009) và dữ liệu quản trị thực tế của Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh cơ cấu tổ chức và quản lý trong công ty cổ phần

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về công ty cổ phần và cơ cấu quản trị nội bộ. Về mặt bản chất pháp lý, theo Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2014, CTCP là doanh nghiệp đối vốn có tư cách pháp nhân độc lập; vốn điều lệ chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế tối đa; cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn đã góp và có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần (ngoại trừ hạn chế 03 năm đầu đối với cổ đông sáng lập hoặc quy định hạn chế ghi rõ trong cổ phiếu). CTCP có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn.

Về mô hình quản trị, tác giả phân tích và đối chiếu các mô hình tiêu biểu trên thế giới:

  • Mô hình Hoa Kỳ: Cơ cấu "đơn lớp", chỉ có Hội đồng quản trị là cơ quan chức năng thường trực, tập trung toàn bộ chức năng quyết sách, điều hành và kiểm soát thông qua các ủy ban chuyên trách (Ủy ban chấp hành, Ủy ban kiểm toán).
  • Mô hình Đức: Cơ cấu "song lớp" tách biệt rõ giữa Ban kiểm soát (cơ quan cấp trên có quyền bổ nhiệm, bãi miễn HĐQT) và Hội đồng quản trị (cơ quan điều hành chịu sự giám sát).
  • Mô hình Nhật Bản: Đại hội đồng cổ đông bầu trực tiếp Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát hoạt động song song.
  • Mô hình Việt Nam và Trung Quốc: Vận hành theo tư tưởng "phân lập và chế ước quyền lực" với 04 thiết chế gồm Đại hội đồng cổ đông (cơ quan quyết định cao nhất), Hội đồng quản trị (cơ quan chấp hành), Giám đốc/Tổng giám đốc (cơ quan điều hành thường nhật) và Ban kiểm soát (cơ quan kiểm soát bắt buộc với công ty có trên 11 cổ đông).

Chương 1 cũng làm rõ cơ sở kinh tế - xã hội và cơ sở pháp lý ban hành các quy định quản trị nhằm cân bằng quyền hạn - trách nhiệm và kiểm soát xung đột lợi ích giữa người quản lý và cổ đông, giữa cổ đông lớn và cổ đông nhỏ.

CHƯƠNG 2: Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về cơ cấu tổ chức, quản lý trong công ty cổ phần. Thực tiễn áp dụng tại Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân

Chương 2 trình bày tổng quan về Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân (Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0105454868 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hà Nội cấp ngày 17/08/2011, địa chỉ tại số 28, ngõ 266, đường Lê Thanh Nghị, phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; lĩnh vực hoạt động: đúc sắt thép, gia công cơ khí, kinh doanh phụ tùng ô tô, xe máy và thiết bị điện).

Tác giả đi sâu phân tích thực trạng pháp lý và thực tiễn thực thi tại 04 cơ quan quyền lực:

1. Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ): Luật Doanh nghiệp 2014 đã nới lỏng điều kiện tổ chức họp so với Luật Doanh nghiệp 2005 nhằm khắc phục tình trạng bế tắc khi triệu tập đại hội. Sự thay đổi về tỷ lệ biểu quyết và điều kiện dự họp được tác giả tổng hợp cụ thể:

Tiêu chí Luật Doanh nghiệp 1999 Luật Doanh nghiệp 2005 Luật Doanh nghiệp 2014
Tỷ lệ dự họp tối thiểu lần 1 51% (tính trên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết đang lưu hành) 65% (tính trên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết dự họp) 51% (tính trên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết)
Tỷ lệ dự họp tối thiểu lần 2 Triệu tập lại theo điều lệ 51% 33%
Tỷ lệ dự họp lần 3 Không phụ thuộc tỷ lệ Không phụ thuộc tỷ lệ Không phụ thuộc tỷ lệ
Thông qua nghị quyết thông thường 51% số phiếu dự họp 65% số phiếu dự họp 51% số phiếu dự họp
Thông qua nghị quyết quan trọng 65% số phiếu dự họp 75% số phiếu dự họp 65% số phiếu dự họp

Tại CTCP sản xuất Vạn Xuân, toàn bộ cổ đông có quyền dự họp đều nhận được giấy triệu tập chậm nhất 07 ngày trước kỳ họp và thực hiện quyền biểu quyết đối với việc sửa đổi Điều lệ, kế hoạch kinh doanh và nhân sự HĐQT.

2. Hội đồng quản trị (HĐQT): Theo Điều 153 Luật Doanh nghiệp 2014, cuộc họp HĐQT phải họp ít nhất 01 lần/quý, túc số hợp lệ là 2/3 tổng số thành viên. Dữ liệu thực tế trích từ nghiên cứu của TS. Nguyễn Đình Cung (2009) chỉ ra: 34% HĐQT họp 01 lần/tháng, 34% họp 01 lần/quý, 12% họp 02 tháng/lần; 95% cuộc họp thông qua quyết định bằng văn bản.

Khóa luận phát hiện bất cập tại điểm c khoản 4 Điều 153 Luật Doanh nghiệp 2014 khi quy định Chủ tịch HĐQT triệu tập họp theo đề nghị của "ít nhất 02 thành viên điều hành của HĐQT", nhưng luật không có định nghĩa cụ thể về khái niệm "thành viên điều hành của HĐQT". Về nghĩa vụ cẩn trọng và trung thành (Điều 160), tác giả nêu dẫn chứng thực tế trường hợp ông Hùng (thành viên HĐQT Vạn Xuân được cử làm đại diện quản lý 25% vốn góp tại một công ty tài chính mới thành lập) gặp xung đột lợi ích giữa nghĩa vụ bảo toàn vốn cho Vạn Xuân và nhu cầu vốn lưu động của công ty mới.

3. Giám đốc / Tổng giám đốc (GĐ/TGĐ): Tại Vạn Xuân, ông Trần Duy Quý là người thành lập công ty, đồng thời giữ chức vụ Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc. Việc kiêm nhiệm này trao quyền lực tập trung lớn cho một cá nhân, làm vô hiệu hóa cơ chế giám sát chéo giữa cơ quan quản lý và cơ quan điều hành. Về chế độ lao động, nhân viên công ty được hưởng mức lương bình quân 8.000 VNĐ/tháng (theo đơn vị biểu thị trong tài liệu), kèm phụ cấp ăn trưa, nhà ở và các chế độ bảo hiểm theo quy định pháp luật.

4. Ban kiểm soát (BKS): Khoản 1 Điều 163 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định BKS có 3-5 thành viên (thực tế 95% CTCP có BKS gồm 3 thành viên). BKS của Vạn Xuân gồm 03 thành viên do ông Trịnh Anh Quân làm Trưởng ban. Tác giả chỉ ra các hạn chế lớn của BKS theo luật định:

  • BKS không có quyền tài phán thực chất, chỉ có nghĩa vụ "báo cáo giải trình", nếu kiểm soát chặt chẽ dễ bị quy trách nhiệm "cản trở hoạt động bình thường" của HĐQT.
  • Thành viên BKS thường làm việc kiêm nhiệm, trình độ chuyên môn kế toán - kiểm toán không đồng đều, bị lệ thuộc vào HĐQT về tiền lương và điều kiện thăng tiến.
  • Điểm a khoản 1 Điều 122 quy định cấm thân tộc trực hệ nhưng chưa bao quát hết các mối quan hệ họ hàng xa, dẫn đến việc thiếu tính độc lập khách quan.

CHƯƠNG 3: Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về cơ cấu tổ chức và quản lý công ty cổ phần

Chương 3 đề xuất định hướng và các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật cùng giải pháp thực thi:

Định hướng hoàn thiện:

  • Hạn chế sự can thiệp hành chính trực tiếp của cơ quan nhà nước vào quản trị nội bộ doanh nghiệp.
  • Đề xuất thành lập cơ quan chuyên trách như "Quỹ (hoặc Hội đồng) quản lý vốn cổ phần nhà nước" ở cấp quốc gia để quản lý vốn nhà nước tại các CTCP theo cơ chế thị trường, tách bạch chức năng quản lý công và quyền chủ sở hữu vốn.
  • Bảo đảm nguyên tắc tự do kinh doanh, tôn trọng quy luật thị trường định hướng XHCN và phù hợp với thông lệ quản trị quốc tế.

Các kiến nghị sửa đổi pháp luật cụ thể:

  • Hoàn thiện quy định về ĐHĐCĐ: Quy định rõ cơ chế ủy quyền bắt buộc cho cổ đông nhỏ lẻ tại các công ty đại chúng có trên 100 cổ đông; đa dạng hóa hình thức họp qua hội nghị trực tuyến, gửi thư điện tử.
  • Hoàn thiện quy định về GĐ/TGĐ và HĐQT: Bổ sung văn bản giải thích rõ thuật ngữ "thành viên điều hành của HĐQT"; luật hóa quy định tách bạch chức danh Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc để ngăn ngừa rủi ro lạm quyền.
  • Hoàn thiện quy định về Ban kiểm soát: Mở rộng diện người có liên quan bị cấm đảm nhiệm kiểm soát viên tại Điều 122; thiết lập cơ chế bảo vệ tính độc lập và nguồn thu nhập của thành viên BKS tách rời khỏi quyền quyết định của HĐQT và Ban giám đốc; nâng cao giá trị pháp lý của báo cáo kiểm soát.
  • Kiến nghị thực tiễn: Nâng cao năng lực hướng dẫn thi hành luật của cơ quan nhà nước và yêu cầu Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân tái cấu trúc, phân định rõ quyền hạn giữa các vị trí lãnh đạo.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên số liệu và dữ kiện pháp lý:

  • Hệ thống hóa các thay đổi cốt lõi của Luật Doanh nghiệp 2014 so với các văn bản trước đó, đặc biệt là việc giảm tỷ lệ túc số họp ĐHĐCĐ lần 1 xuống 51%, lần 2 xuống 33% và tỷ lệ thông qua quyết định thông thường xuống 51%.
  • Cung cấp số liệu khảo sát thực tế: 95% công ty cổ phần có Ban kiểm soát gồm 3 thành viên; 34% HĐQT họp định kỳ mỗi tháng một lần, 34% họp mỗi quý một lần, 12% họp 2 tháng/lần; 95% nghị quyết HĐQT được ban hành dưới dạng văn bản.
  • Ghi nhận thực trạng tại Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân: thành lập theo GCNĐKKD số 0105454868 ngày 17/08/2011; bộ máy quản trị có 03 thành viên BKS do ông Trịnh Anh Quân làm Trưởng ban; tình trạng kiêm nhiệm Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc của ông Trần Duy Quý; bảo đảm thời hạn thông báo họp ĐHĐCĐ trước 07 ngày; mức lương trung bình 8.000 VNĐ/tháng.
  • Đề xuất các giải pháp lập pháp mang tính ứng dụng: Thiết lập Quỹ quản lý vốn cổ phần nhà nước; định nghĩa rõ ràng "thành viên điều hành HĐQT" tại Điều 153; sửa đổi tiêu chuẩn thành viên BKS tại Điều 122; và cấm kiêm nhiệm Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc.
  • Đóng góp tự nêu: Đề tài đã trực tiếp đánh giá những bất cập của Luật Doanh nghiệp 2014 trong những năm đầu thi hành và kết hợp kiểm chứng qua thực tiễn hoạt động của một doanh nghiệp sản xuất cơ khí - sắt thép cụ thể, khắc phục khoảng trống nghiên cứu của các công trình trước đó vốn chỉ tập trung vào Luật Doanh nghiệp 2005.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn dựa trên phạm vi nghiên cứu thực tế:

  • Do Luật Doanh nghiệp 2014 mới có hiệu lực áp dụng trong thời gian ngắn (từ 01/07/2015 đến thời điểm khóa luận hoàn thành năm 2018), dữ liệu thực tiễn và số lượng án lệ, tranh chấp quản trị nội bộ phát sinh từ luật mới còn hạn chế.
  • Khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn tại một doanh nghiệp điển hình (Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân) có quy mô nội bộ nhất định trong ngành cơ khí - sắt thép, chưa bao quát hết các loại hình CTCP đặc thù khác như công ty đại chúng quy mô lớn hay CTCP niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đặt ra:

  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số trước các quyết định của nhóm cổ đông chi phối theo luật mới.
  • Nghiên cứu sâu hơn về kiểm soát xung đột lợi ích của các thành viên Hội đồng quản trị và cơ chế vận hành của Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc HĐQT.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, giảng viên và học viên chuyên ngành Luật kinh tế, Luật Thương mại, Quản trị kinh doanh và Tài chính doanh nghiệp tại các trường đại học khối kinh tế - luật:

  • Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về bảng so sánh tỷ lệ họp ĐHĐCĐ qua các thời kỳ Luật Doanh nghiệp năm 1999, 2005 và 2014.
  • Cung cấp phân tích lý luận có giá trị về so sánh các mô hình quản trị công ty trên thế giới (Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc).
  • Cung cấp bài học thực tiễn về nhận diện các rủi ro pháp lý khi kiêm nhiệm chức danh Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc, cũng như các điểm yếu về tính độc lập của Ban kiểm soát trong doanh nghiệp cổ phần chưa niêm yết.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận nghiên cứu điển hình thực tiễn tại doanh nghiệp nào?
Khóa luận thực hiện nghiên cứu điển hình tại Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân (tên giao dịch: VAN XUAN MANUFACTURE JOINT STOCK COMPANY), được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0105454868 vào ngày 17/08/2011 tại Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hà Nội, hoạt động chính trong lĩnh vực đúc sắt thép, gia công cơ khí, buôn bán phụ tùng ô tô, xe máy và phân phối thiết bị điện.

2. Điểm mới căn bản về tỷ lệ dự họp Đại hội đồng cổ đông giữa Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp 2014 là gì?
Luật Doanh nghiệp 2014 đã giảm tỷ lệ đại diện cổ phần có quyền biểu quyết tối thiểu để tiến hành cuộc họp ĐHĐCĐ lần đầu từ 65% (theo Luật 2005) xuống còn 51%. Cuộc họp triệu tập lần thứ hai giảm từ 51% xuống còn 33%. Tỷ lệ biểu quyết thông qua nghị quyết thông thường giảm từ 65% xuống 51%, và vấn đề quan trọng giảm từ 75% xuống 65%.

3. Khóa luận chỉ ra bất cập lớn nào về mặt thuật ngữ trong quy định triệu tập họp Hội đồng quản trị tại Luật Doanh nghiệp 2014?
Tại điểm c khoản 4 Điều 153 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định Chủ tịch HĐQT phải triệu tập họp HĐQT khi có đề nghị của "ít nhất 02 thành viên điều hành của Hội đồng quản trị". Tuy nhiên, luật và các văn bản hướng dẫn hoàn toàn không có điều khoản giải thích thế nào là "thành viên điều hành của HĐQT", gây lúng túng trong việc xác định chủ thể có quyền yêu cầu triệu tập.

4. Khóa luận phân tích rủi ro gì từ việc ông Trần Duy Quý kiêm nhiệm Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc tại Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân?
Việc ông Trần Duy Quý kiêm nhiệm cả hai chức danh tối cao dẫn đến việc tập trung quyền lực vào một cá nhân, làm vô hiệu hóa cơ chế kiểm soát chéo giữa cơ quan quản lý chiến lược (HĐQT) và cơ quan điều hành sản xuất kinh doanh thường nhật (Tổng giám đốc), từ đó tiềm ẩn nguy cơ lạm quyền và ảnh hưởng đến tính khách quan trong việc bảo vệ quyền lợi của các cổ đông khác.

5. Tác giả đề xuất mô hình nào để đổi mới việc quản lý phần vốn nhà nước tại các công ty cổ phần?
Tác giả kiến nghị thành lập một cơ quan độc lập mang tính kinh tế ở cấp nhà nước là "Quỹ (hoặc Hội đồng) quản lý vốn cổ phần nhà nước". Cơ quan này sẽ tập trung quản lý toàn bộ vốn cổ phần của Nhà nước tại các doanh nghiệp theo cơ chế thị trường, định kỳ đánh giá và bổ nhiệm người đại diện phần vốn nhằm tách bạch sự can thiệp hành chính của Nhà nước khỏi quản trị nội bộ công ty.

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Nguyễn Phương Thảo đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về cơ cấu tổ chức và quản lý công ty cổ phần, đối chiếu sâu sắc mô hình quản trị Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế. Thông qua việc phân tích các quy phạm của Luật Doanh nghiệp 2014 kết hợp khảo sát thực tiễn tại Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân, đề tài đã chỉ ra những khoảng trống pháp lý về khái niệm thành viên điều hành, cơ chế hoạt động của Ban kiểm soát và rủi ro kiêm nhiệm lãnh đạo. Các nhóm kiến nghị lập pháp và giải pháp quản trị được đề xuất trong công trình mang giá trị khoa học và tính ứng dụng thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế pháp lý doanh nghiệp tại Việt Nam.