Quan Hệ Từ Phụ Thuộc Trong Tiếng Việt Dưới Góc Nhìn Ngữ Pháp Chức Năng

Luận án tiến sĩ khám phá ngôn ngữ học quan hệ từ phụ thuộc trong tiếng Việt qua lăng kính ngữ pháp chức năng, cung cấp cái nhìn sâu sắc và mới mẻ.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2021

202
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: QUAN HỆ TỪ PHỤ THUỘC TRONG TIẾNG VIỆT TRÊN BÌNH DIỆN KẾT HỌC

2.1. Cơ sở xác lập hệ thống quan hệ từ phụ thuộc trong tiếng Việt

2.2. Hệ thống quan hệ từ phụ thuộc trong tiếng Việt

2.3. Vai trò của quan hệ từ phụ thuộc trong tiếng Việt trên bình diện kết học

2.4. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: QUAN HỆ TỪ PHỤ THUỘC TRONG TIẾNG VIỆT TRÊN BÌNH DIỆN NGHĨA HỌC VÀ DỤNG HỌC

3.1. Vai trò của quan hệ từ phụ thuộc đối với nghĩa miêu tả

3.2. Quan hệ từ phụ thuộc đánh dấu các loại tham thể

3.3. Vai trò của quan hệ từ phụ thuộc đối với nghĩa tình thái

3.4. Vai trò của quan hệ từ phụ thuộc đối với lập luận

3.5. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu quan hệ từ phụ thuộc trong tiếng Việt

Nghiên cứu về quan hệ từ phụ thuộc (QHTPT) trong tiếng Việt đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học. Đặc biệt, dưới góc nhìn của ngữ pháp chức năng, QHTPT không chỉ được xem xét trên bình diện kết học mà còn trên bình diện nghĩa học và dụng học. Điều này giúp làm rõ vai trò của QHTPT trong việc cấu trúc câu và truyền đạt ý nghĩa. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng QHTPT có vai trò quan trọng trong việc kết nối các thành phần ngữ pháp, từ đó tạo nên sự mạch lạc trong giao tiếp.

1.1. Tình hình nghiên cứu QHTPT trong ngôn ngữ học

Trong ngôn ngữ học, QHTPT đã được nghiên cứu từ rất sớm. Các nhà ngôn ngữ học đã chỉ ra rằng QHTPT có vai trò quan trọng trong việc xác định mối quan hệ giữa các thành phần trong câu. Nghiên cứu này không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn mở rộng ra thực tiễn sử dụng trong giao tiếp hàng ngày.

1.2. Lý thuyết ba bình diện của ngữ pháp chức năng

Lý thuyết ba bình diện của ngữ pháp chức năng bao gồm kết học, nghĩa học và dụng học. Mỗi bình diện này đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích và hiểu rõ hơn về QHTPT. Việc áp dụng lý thuyết này giúp làm rõ hơn các chức năng ngữ pháp của QHTPT trong tiếng Việt.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu QHTPT

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về quan hệ từ phụ thuộc, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc xác định vai trò của chúng trên các bình diện khác nhau. Một trong những vấn đề chính là việc thiếu sự đồng nhất trong cách tiếp cận và phân tích QHTPT. Điều này dẫn đến việc các nhà nghiên cứu có thể bỏ sót những khía cạnh quan trọng của QHTPT trong tiếng Việt.

2.1. Thiếu sự đồng nhất trong định nghĩa

Nhiều nhà nghiên cứu có cách định nghĩa khác nhau về QHTPT, dẫn đến sự khó khăn trong việc so sánh và tổng hợp các kết quả nghiên cứu. Việc này cần được khắc phục để có cái nhìn tổng thể hơn về QHTPT.

2.2. Khó khăn trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn

Việc áp dụng lý thuyết ngữ pháp chức năng vào thực tiễn sử dụng QHTPT trong tiếng Việt vẫn còn nhiều khó khăn. Các nhà nghiên cứu cần tìm ra phương pháp hiệu quả để kết nối lý thuyết với thực tiễn giao tiếp.

III. Phương pháp nghiên cứu quan hệ từ phụ thuộc

Để nghiên cứu QHTPT, các phương pháp miêu tả và phân tích được sử dụng để làm rõ vai trò của chúng trong tiếng Việt. Phương pháp này giúp xác định các chức năng ngữ pháp của QHTPT trong cấu trúc câu, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về cách thức hoạt động của chúng trong ngữ cảnh giao tiếp.

3.1. Phương pháp miêu tả và phân tích

Phương pháp miêu tả được sử dụng để phân tích các vai trò của QHTPT trong câu. Điều này giúp làm rõ chức năng ngữ pháp của chúng và cách chúng tương tác với các thành phần khác trong câu.

3.2. Phương pháp thống kê và so sánh

Phương pháp thống kê được áp dụng để hệ thống hóa các QHTPT trong tiếng Việt. So sánh giữa các QHTPT cũng giúp làm rõ sự khác biệt và tương đồng trong chức năng của chúng.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu QHTPT

Kết quả nghiên cứu về quan hệ từ phụ thuộc có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ giáo dục đến biên soạn từ điển. Việc hiểu rõ vai trò của QHTPT giúp cải thiện khả năng giao tiếp và viết văn của người học tiếng Việt.

4.1. Ứng dụng trong giáo dục

Nghiên cứu về QHTPT có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy cho giáo viên và sinh viên. Điều này giúp nâng cao khả năng hiểu và sử dụng QHTPT trong giao tiếp hàng ngày.

4.2. Hỗ trợ biên soạn từ điển

Kết quả nghiên cứu cũng có thể hỗ trợ công tác biên soạn từ điển và sách công cụ cho các nhà Việt ngữ học. Việc này giúp cung cấp thông tin chính xác và đầy đủ về QHTPT trong tiếng Việt.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu QHTPT

Nghiên cứu về quan hệ từ phụ thuộc trong tiếng Việt dưới góc nhìn ngữ pháp chức năng đã mở ra nhiều hướng đi mới. Tương lai của nghiên cứu này cần tiếp tục khai thác sâu hơn về vai trò của QHTPT trên các bình diện khác nhau, từ đó cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về ngữ pháp tiếng Việt.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nhà nghiên cứu cần tiếp tục mở rộng nghiên cứu về QHTPT, đặc biệt là trong các ngữ cảnh giao tiếp khác nhau. Điều này sẽ giúp làm rõ hơn vai trò của chúng trong việc truyền đạt ý nghĩa.

5.2. Tầm quan trọng của QHTPT trong ngôn ngữ học

QHTPT không chỉ là một phần của ngữ pháp mà còn là yếu tố quan trọng trong việc hiểu và sử dụng ngôn ngữ. Việc nghiên cứu sâu hơn về chúng sẽ góp phần làm phong phú thêm kiến thức về ngôn ngữ học tiếng Việt.

28/05/2025
Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học quan hệ từ phụ thuộc trong tiếng việt dưới góc nhìn của ngữ pháp chức năng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu chuyên luận, ông trình bày, phân tích những cơ sở xác định và phân loại hư từ tiếng Việt đã được các nhà nghiên cứu trước đó và cùng giai đoạn với ông sử dụng. Từ đó, ông cho rằng quan điểm dựa vào đoản ngữ của tác giả Nguyễn Tài Can đề xác định và phân loại hư từ là chặt chẽ và hợp lý hơn cả. Dựa vào đoản ngữ, Nguyễn Anh Quế đã chia hư từ tiếng Việt thành ba loại: các hư từ chuyên dùng làm thành tố phụ đoản ngữ; các hư từ không làm thành tố phụ đoản ngữ; các hư từ nằm ngoài đoản ngữ, các hư từ phụ trợ. Ông xếp QHT vào nhóm hư từ không làm thành tố phụ đoản ngữ và đi khảo sát ý nghĩa, công dụng của một số QHT tiêu biểu.

Nhìn chung, công trình của Nguyễn Anh Qué là bước kế thừa và phát triển cụ thé lý thuyết của Nguyễn Tài Cần áp dụng vào xác định và phân loại hư từ tiếng Việt. Ông có gắng xây dựng một bức tranh ngữ pháp tổng thê về lớp từ này trong tiếng Việt. Có thể nói, đây là một công trình công phu đầu tiên tìm hiểu riêng về lớp hư từ tiếng Việt. Đến chuyên luận We# pháp tiếng Việt [99] của mình, Nguyễn Anh Quế đã có sự xác lập rõ ràng hệ thống từ loại tiếng Việt, trong đó có bàn về QHT.

Ông quan niệm “QHT là những từ biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các thành tô trong đoản ngữ, trong câu” [99, tr. Ông có sự so sánh QHT với từ loại phó từ. Ong cho rằng cả phó từ và QHT đều không có ý nghĩa từ vựng chân thực nhưng phó từ có thể làm thành tố phụ đoản ngữ còn QHT thì không có khả năng này. Căn cứ theo tính chất và quan hệ giữa các thành tố cú pháp trong đoản ngữ, câu, Nguyễn Anh Qué phân chia QHT thành hai loại: loại biểu thị quan hệ chính phụ gọi là giới từ; loại biểu thị quan hệ liên hợp gọi là liên từ.

Khi trình bày về giới từ (QHTPT), ông đặc biệt nhân mạnh đên chức năng giới từ “được dung dé nói yêu tô phụ với yêu to 16 chính, trong phạm vi đoản ngữ thì đó là những yếu to phụ đứng sau; ngoài phạm vi đoản ngữ, giới từ còn có thé được dùng noi hai về câu (hoặc hai cum chủ - vị). Tuy nhiên tính chất quan hệ giữa hai về câu, hoặc hai cụm chủ vị đó vẫn giống như trong phạm vi đoản ngữ. Khảo sát cụ thé một số QHT, ông nhận thay rằng có những trường hợp QHT vừa năm ở danh sách giới từ vừa thuộc danh sách liên từ như với, cling. Theo ông, các QHT này vốn được dùng với chức năng của giới từ nhưng trong một số ngữ cảnh cụ thể chúng được dùng với chức năng của liên từ với điều kiện trong bối cảnh đó, với, cùng có thể được thay thế bằng liên từ và.

Nếu trường hợp với, cùng không thé thay thé bằng và thì chúng là giới từ chứ không phải liên từ. Dinh Văn Đức [40] đã gọi QHT là các hw tir cú pháp. Theo ông, hư từ tiếng Việt được chia làm hai loại: 1. Các Aue tir tir pháp có chức năng diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp kèm theo thực từ (danh từ, động từ, tính từ, số từ).

Trong quan hệ cấu trúc, chúng chuyên dùng làm thành tố phụ trong các đoản ngữ. Các J tir cú pháp không làm trung tâm và cũng không làm thành tô phụ đoản ngữ. “Chứng là một thứ phương tiện liên kết “xúc tac” thành tô phụ với trung tâm đoản ngữ, các đoản ngữ, các mệnh đề với nhau trong cầu trúc phát ngôn ” [40, tr. Theo ông, việc phân chia QHT tiếng Việt thành /iên tir và giới từ là chưa phù hop vì có những trường hợp QHT mang tính chất nửa liên từ nửa giới từ (/hì, với, vì, do, bởi, tại,.

Ông đưa ra hướng phân loại QHT thành các liên từ thuần túy; các giới từ thuần túy; các liên - giới từ. Bàn về QHT, ông đi nghiên cứu sâu hơn về nhóm QHT chỉ hướng ra, vào, lên, xuống, đến, tới,. và nhóm QHT chỉ vi trí ước, sau, trong, ngoài, gửữa,. để chỉ ra chức năng đa từ loại của hai nhóm từ này trong đó có chức năng của giới từ (hay chính là chức năng của QHTPT).

Diệp Quang Ban [8] đã căn cứ vào ba tiêu chuẩn: ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp của từ dé phân loại các lớp từ tiếng Việt. Ông định nghĩa về QHT như sau: “QHT (còn gọi là kết từ) là những hư từ dùng dé nói kết các từ, cụm từ, các mệnh đề trong một câu, các câu với nhau” [8, tr338]. Ông đồng quan điểm với tác giả Dinh Văn Đức khi cho rang việc phân chia QHT tiếng Việt thành giới từ và liên từ giống như các ngôn ngữ Châu Âu là chưa thực sự phù hợp. 17 Bởi có những QHT khi thì mang chức năng của liên từ, khi lại mang chức năng của giới từ, như với, cùng, vì, do, bởi, tại, thì,.

Ông đề xuất phân loại QHT thành quan hệ từ bình đăng (QHTBĐ) và QHTPT. Theo ông, QHTBĐ diễn đạt mối quan hệ ngang bằng nhau giữa các yêu tổ ngôn ngữ mà nó kết nối, gồm cả quan hệ giữa từ với từ, giữa mệnh đề với mệnh đề, giữa câu với câu, như và, vừa, cùng, hay, hoặc,. QHTPT diễn đạt các mối quan hệ không ngang nhau giữa các yếu tố ngôn ngữ mà nó kết nối. Các QHTPT thường được dùng trong hai trường hợp: nối kết các mệnh đề trong câu ghép hoặc câu với câu và nối kết yếu tố chính với yếu tố phụ trong cụm từ chính phụ.

Các QHTPT thường gặp như vì, đo, bởi, tại, của, để, bằng, từ, đến, ở,. Ông cũng đưa ra một ghi chú rằng một QHT có khả năng diễn đạt vài ba kiểu quan hệ, trong đó có một kiêu tiêu biểu cho QHT đó. Tổng hợp các quan điểm về QHT, QHTPT tiếng Việt của các tác giả Nguyễn Tài Cân, Nguyễn Anh Qué, Dinh Văn Đức, Diệp Quang Ban, tác giả Lê Biên [9] khang định QHT là những /ur ter cú pháp. Chúng không có khả năng làm thành tố (trung tâm hoặc thành tố phụ) trong cấu trúc một ngữ.

Chúng có chức năng diễn đạt quan hệ giữa thực từ với thực từ, là phương tiện để kết nối các từ, các ngữ, các về câu. Trên giác độ ngữ pháp văn bản, QHT còn là phương tiện liên kết văn bản. Về phân loại QHT, ông cho rang từ loại này là những hư từ cú pháp có hoạt động cú pháp rat đa dạng trong các tô hợp cú pháp khác nhau, cho nên đó là những khó khăn trong việc phân loại QHT. Ông chỉ liệt kê vai trò và tác dụng của một số QHT thường dùng như của, mà, bằng, với, từ, nhưng, vì, do, bởi, tại,.

Ngoài các tác giả nêu trên, nghiên cứu QHT, QHTPT tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ pháp truyền thống còn có thé kể tên một số tác giả khác như Bùi Minh Toán - Nguyễn Thị Lương [111], Đào Thanh Lan [74], Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn Thị Ly Kha, Nguyễn Văn Lộc,. cũng có các chuyên luận về ngữ pháp tiếng Việt trong đó có bàn về QHT, QHTPT. Quan điểm về QHT, QHTPT của các tác giả này tương đối đồng nhất với quan điểm của các tác giả nêu trên nên chúng tôi xin phép không chỉ tiết hóa. Từ kết quả tìm hiểu tình hình nghiên cứu QHT, QHTPT tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ pháp truyền thống, chúng tôi xin đưa ra mấy nhận định sau: 18 Thứ nhất, chưa có sự thống nhất về tên gọi giữa các tác giả khi tìm hiểu về QHT, QHTPT tiếng Việt.

Cụ thể, QHT tiếng Việt còn được gọi với các tên khác như kết từ, từ nối, hu từ cú pháp. QHTPT còn được gọi với các tên như giới ty, QHT chính phụ, kết từ chính phụ, liên từ phụ thuộc. Tuy QHT, QHTPT tiếng Việt được gọi bằng các tên gọi khác nhau nhưng bản chất ngữ pháp của chúng là một. Cho nên, có thể hiểu các tên gọi trên đều dé chỉ chung một từ loại, tiểu loại thuộc lớp hư từ tiếng Việt là QHT, QHTPT.

Thứ hai, mặc dù giữa các tác giả có sự lựa chọn các tiêu chuẩn xác lập và phân chia từ loại tiếng Việt có phần khác nhau nhưng kết quả nghiên cứu QHT, QHTPT tiếng Việt giữa họ vẫn tương đối thống nhất khi xếp từ loại, tiểu loại này thuộc lớp hư từ tiếng Việt. Đồng thời chỉ ra những đặc điểm, chức năng cơ bản của QHT, QHTPT về mặt ngữ pháp. Cụ thể, QHT tiếng Việt được quan niệm chung là từ loại không có ý nghĩa từ vựng chân thực mà chỉ có ý nghĩa ngữ pháp. Chúng không đảm nhiệm thành phần chính cũng như thành phần phụ trong cấu trúc đoản ngữ, cấu trúc câu.

Chúng chỉ có chức năng nối kết và diễn đạt quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố ngôn ngữ của tiếng Việt. QHTPT tiếng Việt là một tiểu loại thuộc từ loại QHT, tồn tại song song với tiểu loại QHTBĐ. QHTPT được dùng dé kết nối và biểu thị quan hệ chính phụ giữa các yêu tổ ngôn ngữ. Thứ ba, vấn đề phân loại QHT tiếng Việt của các tác giả cũng chưa có sự đồng nhất tuyệt đối.

Một số tác giả như Đinh Văn Đức, Diệp Quang Ban, Lê Biên nhận thấy việc phân chia QHT tiếng Việt thành /iên nv và giới từ như trong ngôn ngữ Châu Âu là chưa thật phù hợp với thực tế tiếng Việt vì có một số QHT mang tính trung gian, ở trường hợp này chúng là liên từ nhưng ở trường hợp khác chúng lại là giới từ. Bởi vậy, tác giả Dinh Văn Đức b6 sung thêm vào việc phân loại QHT tiếng Việt một loại thứ ba: các liên - giới từ. Còn các tác giả khác như Nguyễn Anh Quế, Diệp Quang Ban, Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Luong,. van phân chia QHT tiếng Việt thành hai loại nhỏ: QHTBD và QHTPT (hay còn gọi là QHT chính phụ).

Tuy nhiên, các tác giả này đã ghi chú răng, có những QHT được xếp vào cả hai loại trên. Thứ tư, hai tiểu loại của QHT tiếng Việt là QHTBĐ và QHTPT mới được các tác giả bàn luận, chỉ ra chức năng ngữ pháp cơ bản nhât của từng tiêu loại và 19 minh họa chức năng ngữ pháp của một số QHT tiêu biểu cho từng loại. Việc xác lập một danh sách hoàn chỉnh các QHTBĐ, QHTPT tiếng Việt vẫn chưa được tác giả nào đề cập đến. Như vậy, các kết quả nghiên cứu QHT, QHTPT tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ pháp truyền thống mới chỉ thuần túy chứa đựng những giá trị về mặt ngữ pháp hình thức.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Nghiên Cứu Quan Hệ Từ Phụ Thuộc Trong Tiếng Việt Dưới Góc Nhìn Ngữ Pháp Chức Năng" mang đến cái nhìn sâu sắc về cách thức các từ phụ thuộc tương tác trong ngữ pháp tiếng Việt. Nghiên cứu này không chỉ phân tích cấu trúc ngữ pháp mà còn khám phá vai trò của các từ phụ thuộc trong việc tạo ra ý nghĩa và mối quan hệ giữa các thành phần trong câu. Độc giả sẽ nhận được những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về ngữ pháp chức năng, từ đó cải thiện khả năng giao tiếp và viết lách trong tiếng Việt.

Để mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ học, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học đối chiếu từ ngữ chỉ tay và các động từ biểu thị hoạt động của tay giữa tiếng hán và tiếng việt", nơi so sánh các cấu trúc ngữ nghĩa giữa tiếng Hán và tiếng Việt. Ngoài ra, tài liệu "Luận văn trợ từ nhấn mạnh trong tiếng anh có liên hệ với tiếng việt" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách sử dụng trợ từ trong cả hai ngôn ngữ. Cuối cùng, tài liệu "Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học hành động nhờ trong tiếng việt" sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về hành động ngôn ngữ trong tiếng Việt, từ đó làm phong phú thêm kiến thức của bạn về ngữ pháp và ngôn ngữ học.