Luận án tiến sĩ về phương pháp xử lý ảnh số theo dõi biến động tài nguyên thiên nhiên vùng sông Đà

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển phương pháp xử lý ảnh số nhằm theo dõi biến động tài nguyên thiên nhiên vùng trung hạ lưu sông Đà.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Địa lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án

2007

183
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: VIỄN THÁM VÀ XỬ LÝ ẢNH SỐ TRONG VIỄN THÁM

1.1. Viễn thám

1.2. Xử lý ảnh số trong viễn thám

1.3. Tình hình nghiên cứu, ứng dụng viễn thám và xử lý ảnh số trong viễn thám ở Việt Nam

1.4. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN LOẠI ẢNH SỐ

2.1. Bài toán phân loại

2.2. Các phương pháp phân loại có giám sát

2.2.1. Phương pháp phân loại hợp lý tối đa (Maximum Likelihood)

2.2.2. Phương pháp khoảng cách tối thiểu (Minimum Distance)

2.2.3. Phương pháp phân loại Mahalanobis

2.2.4. Phương pháp phân loại hình hộp

2.2.5. Phương pháp phân loại sử dụng mạng nơ ron

2.2.6. Phân loại theo bối cảnh (Contextual Classification)

2.3. Các phương pháp phân loại không giám sát

2.3.1. Thuật toán K giá trị trung bình

2.3.2. Thuật toán ISODATA (Interactive Self-Organizing Data Analysis)

2.4. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: NÂNG CAO ĐỘ TIN CẬY CỦA KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ẢNH

3.1. Những nguyên tắc cơ bản

3.1.1. Hệ thống phân loại phải phù hợp

3.1.2. Số liệu mẫu phải thực sự đại diện cho mỗi lớp

3.1.3. Tận dụng chiều của không gian phổ

3.1.4. Tích hợp các thông tin bổ trợ trong quá trình phân loại

3.1.5. Sử dụng các giá trị ngưỡng để kiểm soát quá trình phân loại

3.2. Giải pháp và quy trình thực hiện

3.2.1. Ước lượng số lớp phổ trên ảnh

3.2.2. Phân loại ảnh bằng phương pháp không giám sát

3.3. Tính toán đặc trưng thống kê của các lớp phổ

3.4. Lựa chọn hệ thống phân loại dùng trong phân loại có giám sát

3.5. Lựa chọn bổ sung các vùng mẫu

3.6. Phân loại ảnh có giám sát

3.7. Nhóm gộp, đặt tên cho các lớp

3.8. Xử lý sau phân loại, chỉnh sửa ảnh kết quả

3.9. Tóm lược quy trình phân tích ảnh

3.10. Thực nghiệm kiểm chứng

3.11. Cải thiện, hiệu chỉnh kết quả phân loại

3.11.1. Lọc ảnh phân loại

3.11.2. Phân loại các phép lọc

3.11.3. Lựa chọn lọc cho ảnh phân loại

3.11.4. Biên tập, chỉnh sửa ảnh phân loại

3.12. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: ỨNG DỤNG KỸ THUẬT XỬ LÝ ẢNH SỐ TRONG NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG TÀI NGUYÊN VÙNG TRUNG-HẠ LƯU SÔNG ĐÀ

4.1. Khu vực nghiên cứu

4.1.1. Đặc điểm địa chất, địa mạo

4.1.2. Thổ nhưỡng - sinh vật

4.2. Tư liệu sử dụng

4.3. Phương pháp và quy trình thực hiện

4.4. Bản đồ hiện trạng lớp phủ các năm 1993 và 2000

4.5. Biến động lớp phủ khu vực nghiên cứu giai đoạn 1993 - 2000

4.6. Kết luận chương 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Trong lĩnh vực viễn thám, kỹ thuật xử lý ảnh số đã có mặt tại Việt Nam từ những năm 1980. Hệ thống đầu tiên được triển khai vào năm 1983, đánh dấu bước khởi đầu cho việc ứng dụng công nghệ này trong điều tra tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, cho đến nay, kỹ thuật xử lý ảnh số vẫn chưa phát huy được hiệu quả tối ưu, dẫn đến lãng phí về thiết bị và vốn đầu tư. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu hụt nhân lực chuyên sâu và các nghiên cứu học thuật về xử lý ảnh số. Đề tài này được nghiên cứu nhằm giải quyết một phần những bất cập đó, đặc biệt là trong bối cảnh khu vực sông Đà đang trải qua nhiều biến động lớn do các công trình thủy điện. Việc áp dụng phương pháp hiện đại để giám sát biến động tài nguyên là rất cần thiết.

II. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận án

Mục tiêu chính của luận án là đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao độ tin cậy của phương pháp phân loại ảnh số và ứng dụng chúng để theo dõi biến động tài nguyên mặt đất tại vùng Trung - Hạ lưu sông Đà. Để đạt được mục tiêu này, luận án sẽ thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như nghiên cứu các phương pháp phân loại ảnh, đề xuất giải pháp nâng cao độ tin cậy của kết quả phân loại, và xây dựng bản đồ hiện trạng tài nguyên thiên nhiên. Những nhiệm vụ này không chỉ giúp cải thiện chất lượng phân tích mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho việc quản lý tài nguyên thiên nhiên trong khu vực.

III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận án này có ý nghĩa khoa học quan trọng trong việc nâng cao vị thế của kỹ thuật xử lý ảnh số trong viễn thám. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần cải thiện độ tin cậy của các phương pháp phân loại ảnh, từ đó khắc phục tình trạng lãng phí thiết bị hiện nay. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu sẽ giúp kiểm kê và đánh giá mức độ biến động của tài nguyên thiên nhiên như rừng, nước mặt và tình trạng khai thác sử dụng đất, đặc biệt trong bối cảnh phát triển kinh tế của Tây Bắc và sự hình thành của các công trình thủy điện lớn. Điều này không chỉ có lợi cho việc quản lý tài nguyên mà còn hỗ trợ cho các quyết định phát triển bền vững trong khu vực.

IV. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong luận án bao gồm việc tổng hợp tài liệu, phân tích các phương pháp phân loại ảnh, và thực nghiệm kiểm chứng các nguyên tắc đã đề xuất. Việc sử dụng công nghệ thông tin địa lý và các phần mềm xử lý ảnh như ENVI sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong việc phân tích và đánh giá biến động tài nguyên. Các phương pháp này không chỉ giúp xây dựng bản đồ hiện trạng mà còn hỗ trợ trong việc kiểm kê và đánh giá tài nguyên rừng, nước mặt và tình trạng khai thác sử dụng đất trong khu vực sông Đà.

V. Kết luận và kiến nghị

Luận án đã chỉ ra rằng việc áp dụng kỹ thuật xử lý ảnh số trong nghiên cứu biến động tài nguyên thiên nhiên là rất cần thiết. Các giải pháp và quy trình phân tích ảnh đã được đề xuất sẽ giúp nâng cao độ tin cậy của kết quả phân loại. Để đạt được hiệu quả tối ưu, cần có sự đầu tư vào đào tạo nhân lực và nghiên cứu học thuật về xử lý ảnh số. Kiến nghị cho các cơ quan quản lý là cần có chính sách hỗ trợ nghiên cứu và ứng dụng công nghệ viễn thám trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên, nhằm đảm bảo phát triển bền vững cho khu vực Trung - Hạ lưu sông Đà.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho chuỗi các vệ tinh Landsat đƣợc phóng kế tiếp nhau cho đến tận ngày nay (Bảng 4. Sau Mỹ, nhiều cƣờng quốc khác cũng đã lần lƣợt đƣa lên quỹ đạo các vệ tinh tài nguyên của riêng mình. Trong đó đáng chú ý cần kể tới Pháp với các vệ tinh SPOT, Cộng đồng Châu Âu với ERS và Envisat, Nga với Resources và Ocean, Ấn Độ với IRS, Nhật Bản với MOS, JERS, ADEOS, ALOS, và Canada với Radarsat v. Về phần mình, bên cạnh các vệ tinh Landsat, gần đây Mỹ còn có các vệ tinh đáng chú ý nhƣ QuickBird, IKONOS và đặc biệt trong chƣơng trình đầy tham vọng nhằm thiết lập một hệ thống nghiên cứu trái đất trên quy mô toàn cầu, Mỹ đã đƣa lên quỹ đạo hai vệ tinh Terra và Aqua với các thiết bị thu ảnh độc đáo nhƣ ASTER (15 kênh phổ) và MODIS (36 kênh phổ).

Các quốc gia nhỏ hơn, với mong muốn tiếp cận với công nghệ chế tạo vệ tinh và sở hữu những vệ tinh của riêng mình, gần đây cũng đang theo đuổi những chƣơng trình chế tạo vệ tinh nhỏ, dẫn tới sự ra đời của hàng loạt các vệ tinh loại này của các nƣớc nhƣ Hàn Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Nigeria v. Trung Quốc cũng đã bắt đầu khởi động và đang kêu gọi các nƣớc cùng tham gia vào chƣơng trình thiết lập chùm vệ tinh nhỏ (một hệ thống các vệ tinh bay kế tiếp nhau trên cùng quỹ đạo, với khoảng cách đƣợc tính toán phù hợp với vận tốc của vệ tinh và tốc độ quay của trái 18 z đất, sao cho các dải thu của chúng kế tiếp nhau phủ kín toàn bộ bề mặt trái đất trong mỗi vòng quay). Song song với sự phát triển nhanh chóng của các vệ tinh, các kỹ thuật thu thập và xử lý thông tin cũng không ngừng đƣợc hoàn thiện và trở nên hết sức đa dạng. Bên cạnh các ảnh đa năng thông thƣờng nhƣng có độ phân giải không gian ngày một cao nhƣ SPOT-5 (5m với ảnh đa phổ và 2,5m với ảnh toàn sắc), IKONOS (4m - đa phổ, 1m - toàn sắc), Quick Bird (2,5m - đa phổ, 0,61m - toàn sắc), AVNIR-II (5m), PRISM (2,5m) v., cũng xuất hiện các ảnh nhƣ MODIS tuy độ phân giải không gian không cao nhƣng có số lƣợng các kênh phổ lớn và đƣợc lựa chọn dựa trên những nghiên cứu quy mô, hƣớng tới việc xác định định lƣợng những tham số nhất định nhƣ nhiệt độ mặt đất, nhiệt độ mặt biển, nồng độ chlorophyll, nồng độ các vật chất lơ lửng trong nƣớc biển v.

Ngoài ra, không thể không kể đến các thiết bị không tạo ảnh, đƣợc thiết kế để đo đạc từ vệ tinh các đại lƣợng nhƣ tốc độ gió trên mặt biển, nồng độ ozon, thành phần khí, cột nƣớc hay mặt cắt nhiệt độ của khí quyển v. Nhƣ vậy, cùng với sự xuất hiện của vệ tinh và những tiến bộ về công nghệ, viễn thám đã bƣớc sang một giai đoạn phát triển hoàn toàn mới. Nó cho phép thu đƣợc những thông tin về trái đất và môi trƣờng từ chi tiết đến toàn cảnh và trên quy mô toàn cầu. Nội dung thông tin cũng trở nên hết sức đa dạng, từ thành phần, áp suất, nhiệt độ khí quyển, cấu trúc và động năng của mây đến địa hình, dòng chảy, nhiệt độ mặt biển hay gió trên mặt biển rồi thành phần, cấu trúc bề mặt hay lớp phủ thực vật và diễn biến theo mùa của nó v.v Ƣu thế của viễn thám vệ tinh có thể khái quát nhƣ sau: 1) Với khả năng thu thập thông tin nhanh trên diện rộng, nó cho phép theo dõi các hiện tƣợng có diễn biến nhanh đặc biệt cần trong các nghiên cứu về khí quyển; 19 z 2) Nhờ khả năng quan sát lặp lại đều đặn trong thời gian dài, cho phép giám sát các biến động theo mùa, theo năm hoặc dài hạn hơn nhƣ diễn biến băng ở hai cực, sự phát triển của sa mạc hay hiện tƣợng mất rừng nhiệt đới v.; 3) Với tầm bao quát rộng, nó cho phép theo dõi và nghiên cứu về những đối tƣợng có quy mô lục địa nhƣ ranh giới giữa các mảng kiến tạo hay các hệ thống núi v.2 Xử lý ảnh số trong viễn thám So với viễn thám, xử lý ảnh số có tuổi đời còn rất trẻ.

Nó chỉ đƣợc hình thành vào cuối những năm 50, đầu những năm 60 của thế kỷ trƣớc, với mục tiêu ban đầu là để giải các bài toán xử lý ảnh trong khi mô hình hoá các hệ thống thu ảnh ở giai đoạn thiết kế, chế tạo và mã hoá tín hiệu hình ảnh [72]. Đến cuối những năm 1960, với sự phát triển của kỹ thuật tính toán, khả năng sử dụng máy tính để giải quyết những nhiệm vụ khác của xử lý ảnh nhƣ hiệu chỉnh, điều chế, hay đo đạc, khai thác thông tin từ ảnh đã trở nên rất rõ ràng. Nhu cầu hiển thị thông tin bằng hình ảnh trên máy tính đã dẫn tới sự ra đời của chuyên ngành đồ hoạ điện toán (computer graphics). Từ giữa những năm 1970 bắt đầu xuất hiện các hệ xử lý ảnh chuyên dụng dựa trên các máy tính mini.

Đến những năm 1990, khi mà các máy tính cá nhân đã ngày một hoàn thiện, cũng là lúc xuất hiện hàng loạt các chƣơng trình xử lý ảnh đƣợc viết cho các loại máy này. Ngày nay, xử lý ảnh số đã tìm đƣợc những ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau từ viễn thám trái đất, khí tƣợng, thiên văn đến y tế, công nghiệp cũng nhƣ trong an ninh quốc phòng hay khoa học hình sự v. Đƣợc định nghĩa nhƣ các kỹ thuật xử lý tín hiệu hình ảnh bằng công cụ toán học, xử lý ảnh số có các chức năng cơ bản sau: 20 z  Hiệu chỉnh ảnh;  Điều chế ảnh;  Hiển thị thông tin;  Triết suất thông tin từ ảnh;  Mã hoá ảnh;  Mô hình hoá các hệ thống thu ảnh. Trong đó, hiệu chỉnh ảnh là các kỹ thuật nhằm đƣa ảnh về một ảnh lý tƣởng, đƣợc định nghĩa nhƣ một ảnh hoàn toàn đồng nhất với đối tƣợng mà nó thể hiện.

Thuộc nhóm này có thể kể đến các kỹ thuật định chuẩn ảnh, sửa lỗi, loại nhiễu, nắn chỉnh hình học v. Một ảnh gọi là lý tƣởng không phải bao giờ cũng phù hợp tối đa cho mỗi nhiệm vụ phân tích ảnh nhất định, bởi yêu cầu về một ảnh lý tƣởng trên thực tế là sự dung hoà giữa yêu cầu của nhiều nhiệm vụ khác nhau. Đối với từng ứng dụng cụ thể, thƣờng đòi hỏi phải có những biến đổi bổ sung, chẳng hạn nhằm làm nổi rõ những chi tiết nhất định trên cơ sở loại bỏ những chi tiết không đáng quan tâm, thay đổi tƣơng quan không gian, đo đạc và biểu diễn các đặc tính định lƣợng v. Những biến đổi nhƣ vậy đƣợc gọi chung là phép điều chế ảnh.

Thuộc nhóm này có thể kể tới các kỹ thuật tăng cƣờng độ tƣơng phản, phân ngƣỡng, vẽ các đƣờng đẳng, khoanh vẽ các đƣờng biên hay các phép quy chuyển không gian của ảnh đa phổ v. Hiển thị thông tin không chỉ đơn thuần là hiển thị ảnh mà cần đƣợc hiểu là mọi phép xử lý tín hiệu để biểu diễn chúng dƣới dạng hình ảnh. Ví dụ đơn giản nhất là xác định một đại lƣợng dƣới dạng hàm của một đại lƣợng khác và xây dựng đồ thị biểu diễn mối tƣơng quan đó. Chiết xuất thông tin từ ảnh bao gồm các quá trình tự động phát hiện, phân loại đối tƣợng, đo đạc kích thƣớc, phân bố không gian của đối tƣợng v.

21 z Mã hoá thông tin là quá trình biến đổi tín hiệu hình ảnh về dạng số để lƣu giữ và phát chuyển trên các kênh viễn thông. Cuối cùng, mô hình hoá các hệ thống thu ảnh là nhóm những bài toán xử lý ảnh cần giải khi nghiên cứu chế tạo các hệ thống thu ảnh mới. Tính riêng trong lĩnh vực viễn thám, mặc dù xuất hiện muộn hơn rất nhiều nhƣng xử lý ảnh số hiện đang đóng một vai trò không thể thay thế. Viễn thám đã không thể đạt tới trình độ phát triển nhƣ ngày nay nếu thiếu những công cụ cho phép thu thập, xử lý, chuyển tải nhanh và lƣu giữ một khối lƣợng thông tin khổng lồ mà các vệ tinh hiện đang cung cấp.

Từ góc độ của ngƣời ứng dụng trong xử lý, phân tích ảnh viễn thám, không ai có thể phủ nhận những ƣu thế nổi trội của kỹ thuật xử lý ảnh số trong việc điều chế, cải thiện chất lƣợng hình ảnh, bởi những khả năng phong phú, tính mềm dẻo, linh hoạt, dễ điều khiển, dễ lặp lại của kỹ thuật này so với các phƣơng pháp analog truyền thống. Ngƣợc lại, cũng không thể phủ nhận một thực tế là các kỹ thuật chiết xuất thông tin tự động, mà cụ thể hơn, trong trƣờng hợp ảnh viễn thám, là các phƣơng pháp phân loại ảnh vẫn chƣa mang lại độ tin cậy nhƣ mong muốn. Vì vậy, vấn đề nâng cao độ tin cậy của kết quả phân loại ảnh viễn thám vẫn đã và đang nhận đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và đây cũng chính là một trong những mục tiêu cơ bản của luận án này.3 Tình hình nghiên cứu, ứng dụng viễn thám và xử lý ảnh số trong viễn thám ở Việt Nam Ở nƣớc ta, sự phát triển của viễn thám cũng không nằm ngoài xu thế chung, đó là ngành Trắc địa - Bản đồ cũng là nơi đi tiên phong với việc sử dụng ảnh máy bay cho mục đích thành lập bản đồ địa hình. Tiếp đó, trong những năm 1970, ảnh máy bay cũng đã đƣợc Viện Điều tra Quy hoạch rừng 22 z (Bộ Lâm nghiệp) sử dụng cho mục đích hiệu chỉnh và thành lập bản đồ rừng.

Nhƣng có thể nói viễn thám ở Việt Nam chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ vào cuối những năm 1970 đầu những năm 1980, với sự ra đời của Uỷ ban nghiên cứu vũ trụ Việt Nam, tập hợp nhiều đại biểu từ các Bộ, Ngành và việc Việt Nam gia nhập Tổ chức nghiên cứu vũ trụ Intercosmos của các nƣớc xã hội chủ nghĩa trƣớc đây. Vào cùng thời gian đó, Viện Khoa học Việt Nam cũng nhận đƣợc các dự án VIE/79/001 và VIE/83/04 do UNDP/FAO tài trợ nhằm xây dựng tiềm lực về viễn thám, qua đó một số khoá học đầu tiên về viễn thám do các chuyên gia của Liên Hiệp Quốc giảng dạy đã đƣợc tổ chức cho các cán bộ từ nhiều Bộ, Ngành và địa phƣơng trong cả nƣớc. Đồng thời nhiều cán bộ Việt Nam cũng đã đƣợc cử đi đào tạo ngắn hạn ở nƣớc ngoài. Kể từ đó hàng loạt các cơ sở viễn thám của các bộ, các viện nghiên cứu và các trƣờng đại học, ở nhiều nơi trên cả nƣớc đã lần lƣợt ra đời.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tên "Luận án tiến sĩ về phương pháp xử lý ảnh số theo dõi biến động tài nguyên thiên nhiên vùng sông Đà" của tác giả Lại Anh Khôi, được thực hiện tại Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2007, tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển các phương pháp xử lý ảnh số nhằm theo dõi và đánh giá biến động tài nguyên thiên nhiên tại khu vực sông Đà. Bài luận án không chỉ cung cấp những kiến thức chuyên sâu về công nghệ xử lý ảnh mà còn mở ra hướng đi mới trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, từ đó giúp nâng cao hiệu quả trong công tác nghiên cứu và bảo tồn môi trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau:

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề môi trường và tài nguyên thiên nhiên, từ đó nâng cao hiểu biết và khả năng áp dụng các phương pháp nghiên cứu trong thực tiễn.