MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Ở nước ta, hai loài ngao là ngao dầu (Meretrix meretrix) và ngao trắng (Meretrix lyrata) thuộc giống ngao (Meretrix) là đối tượng quan trọng, được nuôi phổ biến, chiếm 75 - 80 % tổng sản lượng động vật thân mềm. Ngao được nuôi ở hầu hết các tỉnh ven biển Đồng Bằng Sông Hồng và Đồng Bằng Sông Cửu Long, tạo ra lượng sản phẩm lớn phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, đồng thời cũng đã tạo nhiều việc làm và tăng cao thu nhập cho hàng triệu cư dân ven biển [58]. Vùng ven biển huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định với xu thế bồi tụ mạnh, hàng năm lấn ra biển trung bình 32,8m/năm đã hình thành nên vùng triều rất rộng [40], [131], tạo điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh nghề nuôi ngao.
Nghề nuôi ngao được hình thành khi nhu cầu về nguồn thực phẩm từ thịt ngao trong xã hội tăng lên. Ngư dân vùng triều ven biển đã chuyển từ việc khai thác tự nhiên sang dùng cọc, lưới polyetylen khoanh vây ngao giống ngoài bãi triều, quản lý theo dõi và tiến hành thu hoạch khi ngao đạt cỡ thương phẩm. Thời gian đầu hình thành nghề nuôi ngao, đối tượng nuôi là loài ngao dầu (Meretrix meretrix) bản địa, được lấy giống ngoài tự nhiên để nuôi. Do việc nuôi ngao mang lại lợi nhuận cao, nên diện tích nuôi không ngừng được mở rộng mang tính tự phát, nguồn giống bị khai thác quá mức, làm cho nguồn lợi ngao tự nhiên ngày một suy giảm.
Nhằm đáp ứng nhu cầu con giống cho việc nuôi ngao ngày càng gia tăng, người dân đã di nhập loài ngao (Meretrix lyrata) còn gọi là ngao trắng (nghêu Bến Tre) từ các tỉnh Nam Bộ ra vùng này để nuôi. Loài ngao trắng đã thích nghi với điều kiện môi trường, nhanh chóng chiếm được ưu thế về số lượng và trở thành đối tượng nuôi chính tại vùng triều ven biển huyện Giao Thủy [66]. Những năm gần đây, trong khi đối tượng ngao dầu bản địa tại vùng triều ven biển huyện Giao Thuỷ chưa được quan tâm đưa vào phát triển nuôi đại trà vì không có con giống, thì đối tượng ngao trắng di nhập đã được tập trung đầu tư phát triển sản xuất do chúng dễ thích nghi, dễ nuôi hơn, nhiều nguồn cung cấp giống có thể chủ động cho việc nuôi. Hoạt động nuôi ngao tự phát, diện tích vùng triều được khai thác tối đa vào nuôi ngao bằng hệ thống vây lưới rất gần nhau ở khu vực ven bờ, đang có nguy cơ phá vỡ hệ sinh thái vùng triều, môi trường có dấu hiệu ngày càng ô nhiễm, hiện tượng thoái hóa của loài ngao trắng đang nuôi đã xuất hiện.
Hoạt động khai thác ngao giống tự nhiên để 1 làm giống nuôi được thực hiện tùy tiện, thiếu kiểm soát. Vùng phân bố ngao bố mẹ, ngao giống tự nhiên bị thu hẹp, làm giảm khả năng phục hồi nguồn lợi, dẫn đến nguồn lợi có nguy cơ ngày càng cạn kiệt, nhất là đối với loài ngao bản địa (Meretrix meretrix) ngày càng trở nên hiếm dần, có nguy cơ mất hẳn. Một số cơ chế chính sách, cơ chế quản lý, nhận thức của người nuôi ngao không còn phù hợp dẫn đến dịch bệnh ngày càng gia tăng, tiêu thụ sản phẩm không ổn định, tình trạng nghề sản xuất ngao ngày càng giảm sút. Những thông tin khoa học về nguồn lợi, đặc điểm của loài nuôi, biến động điều kiện tự nhiên và môi trường còn thiếu nên việc thực hiện quy hoạch, phân vùng chức năng và xây dựng các mô hình quản lý, đảm bảo phát triển bền vững chưa được triển khai một cách đồng bộ làm cho việc quản lý nghề sản xuất ngao gặp phải những khó khăn [66].
Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự đồng ý của Hội đồng khoa học và Đào tạo - Viện nghiên cứu Hải sản, đề tài luận án “ Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ nuôi, bảo tồn và phát triển nguồn lợi hai loài ngao (Meretrix meretrix Linnaeus, 1758 và Meretrix lyrata Sowerby, 1851) tại vùng ven biển tỉnh Nam Định” đã được thực hiện. Đề tài luận án tập trung vào: 1). Nghiên cứu, phân tích các cơ sở khoa học chủ yếu về sự biến động điều kiện tự nhiên, tài nguyên môi trường, kinh tế xã hội vùng sản xuất. Xác định phân bố, biến động nguồn lợi, các yếu tố chính tác động và các đặc điểm cơ bản của hai loài ngao là ngao dầu (loài bản địa) và ngao trắng (loài di nhập) đang được nuôi tại Giao Thủy; 2).
Thực hiện mô hình nuôi hai loài ngao và mô hình giám sát nguồn lợi ngao dầu ngoài tự nhiên để kiểm chứng và khẳng định các cơ sở khoa học đã được nghiên cứu; 3) Đề xuất định hướng và giải pháp phát triển nuôi, bảo tồn và phát triển nguồn lợi ngao. Trong đó chú trọng đến giải pháp quy hoạch để phát triển nuôi, phát triển nguồn lợi ngao trắng (Meretrix lyrata) một cách hợp lý, có kiểm soát và bảo tồn loài ngao dầu bản địa (Meretrix meretrix) đang có nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cần thiết cho việc phát triển nuôi, khai thác, bảo vệ nguồn lợi ngao. Đồng thời nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn và phát triển nguồn lợi ngao bản địa vì mục tiêu phát triển nghề sản xuất ngao bền vững, sử dụng khôn khéo, lâu dài nguồn tài nguyên vô giá của vùng đất ngập nước mà thiên nhiên đã ban tặng cho địa phương.
Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của luận án 2. Mục tiêu chính của luận án Xác định được cơ sở khoa học và đề xuất phương hướng, các giải pháp nuôi, bảo tồn và phát triển nguồn lợi ngao tại vùng triều ven biển Giao Thủy, Nam Định. Nội dung nghiên cứu của luận án. - Cơ sở khoa học phục vụ nuôi, bảo tồn và phát triển nguồn lợi ngao (Meretrix).
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nuôi và phát triển nguồn lợi ngao. - Đề xuất định hướng, giải pháp bảo tồn ngao bản địa (Meretrix meretrix). Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án Luận án đã cung cấp thông tin một cách có hệ thống về biến động nguồn lợi, sự phân bố các bãi đẻ và bãi giống ngao tự nhiên, cũng như mùa vụ sinh sản, sức sinh sản, kích thước thành thục sinh dục của hai loài ngao kinh tế phân bố và được nuôi tại Giao Thủy, Nam Định. Luận án cũng cung cấp các thông tin về ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến sinh trưởng và phát triển của ngao, dựa trên kết quả thí nghiệm và triển khai thực hiện các mô hình nuôi, mô hình giám sát nguồn lợi ngao tại Giao Thủy.
Những kết quả nghiên cứu là căn cứ, cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng phục vụ việc định hướng, lập kế hoạch sản xuất, lập quy hoạch, phát triển bền vững nguồn lợi hai loài ngao và kế hoạch bảo tồn loài ngao bản địa. Luận án cung cấp các thông tin về những định hướng và giải pháp phát triển nguồn lợi và bảo tồn ngao dầu, nhằm bảo tồn nguồn gen bản địa quý hiện nay, là tiền đề cho các nghiên cứu triển khai tiếp theo về để nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo, nuôi thương phẩm, biện pháp phát triển nguồn lợi hai loài ngao và biện pháp bảo tồn loài Ngao dầu (Meretrix meretrix ) ở Việt Nam. Các cơ quan quản lý chuyên ngành (Sở NN&PTNT Nam Định, Chi cục Thủy sản, phòng NN&PTNT huyện Giao Thủy), các doanh nghiệp, cộng đồng ngư dân tham gia sản xuất giống, nuôi ngao thương phẩm, khai thác nguồn lợi tự nhiên ở địa phương sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu luận án để áp dụng vào thực công tác quản lý, sản xuất của địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và sản xuất. 3 Luận án là tài liệu tham khảo tốt cho các nghiên cứu tiếp theo về nguồn lợi và sử dụng hợp lý nguồn lợi sinh vật biển.
Tính mới của luận án - Luận án đã đánh giá được biến động nguồn lợi hai loài ngao (Meretrix meretrix và Meretrix lyrata) một cách cụ thể, tách biệt và đã đánh giá được hiện trạng nuôi, bảo vệ nguồn lợi ngao tại vùng triều ven biển Giao Thủy, Nam Định. - Lần đầu các dẫn liệu về mùa vụ sinh sản, kích thước thành thục sinh dục lần đầu, cơ cấu giới tính, sức sinh sản, đặc điểm độ béo của loài ngao dầu (loài bản địa) và ngao trắng (loài di nhập) tại vùng ven biển Giao Thủy, Nam Định được công bố. Đây là cơ sở khoa học rất quan trọng phục vụ sản xuất giống, nuôi thương phẩm, phát triển nguồn lợi hai loài ngao và bảo tồn loài ngao bản địa (Meretrix meretrix) đang bị suy giảm nghiêm trọng. - Luận án đã xác định được các mối liên quan cơ bản giữa môi trường đến phân bố, sinh trưởng, sinh sản và yếu tố chính gây chết ngao ngoài tự nhiên.
- Các định hướng nuôi, phát triển nguồn lợi ngao trắng và bảo tồn ngao dầu được đề xuất dựa trên các cơ sở lý luận vững chắc phù hợp với thực tiễn tại Giao Thủy, Nam Định. Vùng bảo tồn ngao dầu bản địa ngoài tự nhiên lần đầu tiên được đề xuất thông qua bản quy hoạch với quy mô 3090 ha tại Giao Thủy, Nam Định với các phân vùng riêng biệt đã được địa phương xem xét áp dụng vào thực tiễn. Sơ lược một vài thông tin cơ bản về hai loài ngao nghiên cứu 1. Vị trí phân loại học Theo Hylleberg, 2003 [95], ngao dầu và ngao trắng thuộc: Ngành: Mollusca Lớp: Bivalvia Lớp phụ: Heterodonta Bộ: Venerida Họ: Veneridae Giống: Meretrix Loài: Meretrix meretrix (Linnaeus, 1758) Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) Loài Meretrix meretrix (Linnaeus, 1758), có tên tiếng Việt là ngao dầu, vạng; tên tiếng Anh là Asiatic hard clam [15], [54].
Loài Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) có tên tiếng Việt là ngao trắng, ngao Bến Tre (nghêu Bến Tre) tên tiếng Anh là Lyrate Asiatic hard clam [15], [54]. Hình thái cấu tạo ngoài Các loài thuộc họ ngao đều có cấu tạo vỏ dày, chắc, hai vỏ bằng nhau, mặt vỏ có hoa vân, vòng đồng tâm hay tia phóng xạ biến đổi rất lớn. Khớp bản lề có 3 răng giữa và 2 răng bên. Ngao dầu (Meretrix meretrix) Ngao trắng (Meretrix lyrata) Hình 1.
Hình dạng ngoài của hai loài ngao nghiên cứu 5 Ngao có cấu tạo ngoài rất đa dạng với những biến đổi về hình dạng, kích thước, bề dày, màu sắc. Ngao được cấu tạo bởi hai vỏ đều nhau. Vỏ chủ yếu được tạo thành từ ba lớp, với thành phần chính là canxi cacbonat. trong cùng là lớp xà cừ, ở giữa là có hình lăng trụ, tán sắc, là thành phần chính cấu tạo nên vỏ, ngoài cùng là lớp sừng, lớp áo thường xuyên bị biến mất do bị bào mòn hoặc thời tiết [90], [91], [121].