Đặt vấn đề Trong nhƣ̃ng năm gầ n đây nghề nuôi tôm đang trên đà phát triển mạnh trên thế giới cũng nhƣ ở các nƣớc ở Châu Á nhƣ Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan. Hiện nay diện tích và quy mô nuôi tôm ở Việt Nam cũng không ngừng tăng lên nhanh chóng, tôm thẻ chân trắng là đối tƣợng đang đƣợc chú ý và có triển vọng. Đây là loài có nhiều ƣu điểm nhƣ thịt thơm ngon và chắc, có giá trị kinh tế cao, lớn nhanh có thể nuôi 1 -3 vụ trong một năm, có khả năng thích nghi với biên độ dao động của nhiệt độ và độ mặn cao, có sức đề kháng với bệnh tật tốt. Chất lƣợng nƣớc là yếu tố cực kì quan trọng trong nuôi thủy sản; nhƣng khó dự đoán và kiểm soát đƣợc.
Chất lƣợng nƣớc quyết định đƣợc hiệu quả của thức ăn, tốc độ sinh trƣởng và tỉ lệ sống của con nuôi. Con nuôi chết, bệnh, chậm lớn hay thức ăn kém chủ yếu là do ảnh hƣởng từ chất lƣợng nƣớc. Các nhà nuôi tôm thƣờng nói: “Nuôi tôm nghĩa là nuôi nước”. Để con nuôi phát triển bình thƣờng thì nguồn nƣớc phải sạch không bị ô nhiễm.
Chất lƣợng nƣớc phụ thuộc vào nguồn cấp nƣớc, chất đất, chế độ cho ăn thời tiết và chế độ quản lí của đầm nuôi. Chất lƣợng nƣớc đƣợc đáng giá bằng các thông số sinh, lý, hóa khác nhau; cần đƣợc kiểm tra liên tục để có thể bảo vệ đƣợc con nuôi. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về chất lƣợng nƣớc nhƣng vì tính chất phức tạp do những thông số trong môi trƣờng nƣớc gây nên. Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất trên cơ sở thừa kế kết quả của các tác giả trong và ngoài nƣớc, em tiến hành nghiên cứu chuyên đề : “Quản lí chất lượng nước, bệnh của tôm thẻ chân trắng trong hệ thống ao nuôi tôm công nghiệp tại công ty Cổ phần thực phẩm BIM, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh ”.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu nghiên cứu đề tài Điề u tra chất lƣợng nƣớc trong đầm nuôi tôm thẻ chân trắng tại công ty Thực phẩm BIM, Quảng Yên Quảng Ninh. c 2 Khuyế n cáo với ngƣời nu ôi tôm về sự biến động chất lƣợng nƣớc trong quá trình nuôi. Điều tra tình hình bệnh diễn biến trên tôm trong quá trình nuôi Kế t quả của đề tài là cơ sở cho ngƣơnuôi ̀ i tôm quản lí tốt đƣợc ao nuôi tôm hơn 1.
Yêu cầu của đề tài Theo dõi tình hình biến đổi chất lƣợng nƣớc trong vụ nuôi tôm. Theo dõi tình hình mắc bệnh trên tôm trong quá trình nuôi Nắm đƣợc các thông số trong môi trƣờng nƣớc ảnh hƣởng đến quá trình nuôi tôm. Đƣa ra đƣợc các đề xuất quản lý đƣợc khu nuôi tốt hơn. c 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Điều kiện cơ sở thực tập 2. Giới thiệu về khu nuôi Minh Thành Với định hƣớng xây dựng công ty lấy nguồn nhân lực làm trọng tâm, chiến lƣợc nhân sự đã đƣợc Ban giám đốc xem xét nghiêm túc nhƣ một trong những yếu tố quyết định sự thành công của công ty. Với hơn 3000 cán bộ công nhân viên giàu kinh nghiệm, trải khắp đất nƣớc Việt Nam, tập đoàn BIM đƣợc dẫn dắt bởi 3 thành phần chủ chốt là ông Đoàn Quốc Việt – Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị kiêm Tổng Giám Đốc tập đoàn BIM, Ông Đoàn Quốc Huy – Phó Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị kiêm Phó tổng giám đốc tập đoàn BIM, Bà Khổng Thị Hiền – Phó tổng giám đốc tập đoàn BIM. Công ty cổ phần thực phẩm BIM là một thành viên của tập đoàn BIM Việt Nam, đƣợc thành lập từ năm 1994 với tiền thân là Công ty mẹ Công ty đầu tƣ phát triển và sản xuất Hạ Long.
Một trong những tập đoàn kinh tế tƣ nhân lớn nhất Việt Nam hoạt đông đã lĩnh vực bao gồm: Bất động sản, Y Tế, Du Lịch, Hàng Không và đặc biệt là Nuôi Trồng Thủy Sản. Hiện nay Công ty đang sở hữu 1,700 ha diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng tại Quảng Ninh, Kiên Giang và Ninh Thuận ngoài ra BIM còn sở hữu sản xuất tôm giống tại dảo Phú Quốc với diện tích 50 ha. c 4 Khu nuôi tôm Minh Thành có tổng diện tích trên 251 ha nằm tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Đƣợc chính thức đƣa vào hoạt động từ năm 2001, đến nay khu nuôi tôm luôn cho năng xuất ổn định với tổng sản lƣợng trung bình đạt 2000 tấn/năm.
Trong đó theo tài liệu cung cấp của khu nuôi thì cho đến năm 2015 thì đã sử dụng làm mặt nƣớc nuôi trồng là 220 ha, đƣợc chia thành 3 khu (khu 1, khu 2, khu 3). Trong mỗi khu lại đƣợc quy hoạch để chia ao và xây dựng ao, xung quanh mỗi khu đều có kênh mƣơng bao bọc xung quanh để thuận tiện cho quá trình cấp nƣớc, hệ thống điện lƣới đƣợc bố trí đến từng ao rất quy mô. Trong mỗi khu lại phân ra nhiều tổ nhỏ và đứng đầu mỗi tổ để hƣớng dẫn là tổ trƣởng.Văn phòng làm việc của ban giám đốc và các nhân viên của công ty đƣợc đặt trụ sở tại khu 1. Toàn bộ khu bao gồm: + Khu hành chính – nhân sự.
+ Khu nhà 3 tầng (dành cho CBCNV ở xa và sinh viên thực tập đƣợc ở nội trú). + Phòng kế toán. + Phòng thí nghiệm. + Trại tôm giống (bao gồm 34 nhà cấp 1 và 24 nhà cấp 2).
+ Đầm nuôi tôm (khu I, khu II, khu III). Vị trí địa lí kinh tế xã hội của địa phương Với khu đầm ven biển, diện tích rộng, bằng phẳng, mực nƣớc biển điều hòa, có nguồn nƣớc mặn, lợ dồi dào, khu nuôi nằm ven biển có các dãy núi chạy dọc ra biển rất thuận lợi cho việc chắn gió bão. + BIM là một tập đoàn đa lĩnh vực, trong đó thủy sản là 1 mảng đầu tƣ đƣợc chú trọng của BIM nên có vốn đầu tƣ mạnh. + Về phía tỉnh Quảng Ninh cũng có những chính sách thu hút vốn đầu tƣ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển.
+ Đội ngủ nhân viên lành nghề. + Khu nuôi gần biển, có hệ thống giao thông thuận lợi, giáp ranh với Trung Quốc là 1 thị trƣờng tiêu thụ tôm lớn. + Điều kiện tự nhiên ở miền bắc nói chung và Quảng Ninh nói riêng có sự thay đổi trong năm với tính chất không ổn định. Mùa hè nóng nóng nhiệt độ cao và mƣa nhiều, mùa đông thì lạnh khô hanh.
Nhƣ vậy ở Quảng Ninh chỉ có thể nuôi tôm thẻ chân trăng một vụ chính từ tháng 3-10. Đây cũng là khó khăn trong việc sản xuất khi chỉ nuôi chính đƣợc một vụ, và vụ còn lại do thời tiết quá lạnh nên tôm không thể sinh trƣởng và phát triển. + Thị trƣờng tiêu thụ còn rất hạn chế chủ yếu xuất khẩu qua các nƣớc nhỏ lẽ. giá cả rất bấp bênh, mặc dù đây là sản phẩm của tập đoàn lớn nhƣng các sản phẩm bán ra cho các lái buôn với giá bán thất thƣờng và bị ép giá rất nhiều.
+ Chất lƣợng tôm thẻ chân trắng vẫn chƣa đƣợc tốt tôm còn mắc phải nhiều bệnh khi gần thu hoạch, đặc biệt là chết đáy, vàng mang, đen mang…khối lƣợng tôm không đồng đều nên giá tôm bị rớt giá nhiều. + Trong quá trình nuôi tuy thực hiện đúng với quy trình kỹ thuật chăm sóc quản lý nhƣng dịch bệnh vẫn xảy ra, bệnh ở tôm thƣờng là phòng trƣớc một khi đã phát hiện có dấu hiệu bên ngoài thì tôm đã bị bệnh nặng. c 6 + Một số thiết bị, máy móc đã xuống cấp, rất dễ dẫn đến hƣ hỏng trong quá trình hoạt động. Tiềm năng và cơ hội: + Trong tƣơng lai, BIM sẽ còn lớn mạnh, bay cao và bay xa.
+ Toàn bộ các ao đất đang dần đƣợc thay thế bằng các ao bạt. Minh Thành đang thay da đổi thịt. Đây cũng là một địa chỉ đáng tin cậy của sinh viên thủy sản có thể làm việc sau khi ra trƣờng. Cơ sở khoa học 2.
Đặc điểm sinh học của tôm thẻ chân trắng 2. Vị trí phân loại. Tên khoa học: Lipopenaeus vannamei. Tên tiếng Anh: white leg shrimp.
Tên tiếng Việt: Tôm he chân trắng, tôm thẻ chân trăng, tôm chân trắng. Tên khác: Penaeus vannamei. PHÂN LOẠI Ngành: Arthropoda Lớp: Malacostraca Bộ: Decapoda Họ: Penaeidae Giống: Litopenaeus Loài: Lipopenaeus vannamei 2. Đặc điểm nguồn gốc và phân bố Tôm Chân trắng (Litopenaeus vannamei) có nguồn gốc từ vùng biển xích đạo Ðông Thái Bình Dƣơng (biển phía Tây Mỹ La tinh), phân bố chủ yếu ở ven biển Tây Thái Bình Dƣơng, châu Mỹ, từ ven biển Mexico đến miền trung Pêru, nhiều nhất ở biển gần Ecuador, ở Tây Bán Cầu [2].
Tôm Chân trắng thích nghi với biên độ muối rộng từ 0 – 40‰, có thể sinh trƣởng đƣợc trong nƣớc ngọt, lợ và mặn. Dãy biến nhiệt của tôm Chân trắng khá rộng và phản ứng rất linh hoạt khi có những tác động cơ học. c 7 Hiện nay, do quá trình di nhập giống nên tôm Chân trắng đƣợc đƣa sang nuôi ở Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan và nhiều nƣớc khác (Tôn Thất Chất và cs, 2011)[2]. Đặc điểm hình thái và cấu tạo.
Hình thái ngoài của tôm Chân trắng (Tôn Thất Chất, 2010)[3]. Cơ thể tôm đƣợc chia làm hai phần: Phần đầu ngực (cephalo throrax): Gồm 13 đốt và 13 đôi phụ bộ dính liền thành một khối bên ngoài. Có một lớp vỏ bao bọc gọi là giáp đầu ngực (carapace), mép trứớc hình thành chủy đầu, gai trên dạ dày, gai gan, rảnh sau chủy đầu, gờ gan. + Hai đôi râu Anten 1 (A1) và Anten 2 (A2).
+ Ba đôi chân hàm: Một đôi chân hàm lớn, đôi hàm nhỏ và đôi hàm 2. Phần bụng có (Abdomen): Chia làm 7 đốt, mỗi vỏ (Segment), có 5 đôi chân bơi (Swimming feet), có 2 nhánh trong và ngoài. Đốt thứ 7 biến thành telson hợp với đôi chân đuôi phần nhánh tạo thành bánh lái giúp tôm di chuyển động lên xuống và búng nhảy, hai nhánh trong của chân bụng biến thành petesma và hai nhánh trong của đôi chân bụng 2 biến thành phụ bộ đực bên ngoài của tôm.Đặc điểm dinh dưỡng Tôm Chân trắng là loài ăn tạp thiên về động vật, phổ thức ăn rộng, cƣờng độ bắt mồi khỏe, tôm sử dụng nhiều loài thức ăn tự nhiên có kích cỡ phù hợp từ mùn bã hữu cơ đến các động vật thủy sinh. Tôm có thể ăn thịt lẫn nhau khi lột xác hoặc khi thiếu thức ăn (Tôn Thất Chất và cs, 2011)[2].
c 8 Protein là thành phần quan trọng nhất trong thức ăn của tôm. Nhu cầu protein trong khẩu phần ăn cho tôm Chân trắng khoảng 20-35%, thấp hơn so với các loại tôm nuôi cùng họ khác (36-42%) (Lê Tiến Dũng và cs, 2011)[4].