Chương 1: Tổng quan Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Thiết kế hệ thống Chương 4: Kết quả Chương 5: Kết luận và hướng phát triển ĐỎ ÁN TỐT NGHIỆP CHUONG 2: CO SO LY THUYET 2.1 Giới thiệu về ngành nuôi tôm 2.1 Tổng quan Với một năm không quá nhiều chuyên biến ngoạn mục nhưng lại Ổn định như 2017 sẽ là bước đệm tốt để ngành tôm bứt phá vào năm 2018 và vươn lên mức sản lượng 4,88 triệu tấn vào năm 2019. Nhiều năm qua, con đường phát triển của ngành tôm vẫn còn nhiều gập ghềnh. Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia và Mexico bắt đầu dấu hiệu lao dốc từ năm 2013 mà nguyên nhân là do bùng phát dịch bệnh tôm chết sớm (EMS) xuất hiện lần đầu tiên tại Trung Quốc vào năm 2009. Cùng đó, giá tôm trên thị trường quốc tế tăng vọt suốt năm 2013 trong khi sản lượng tụt giảm liên tục.
Những tín hiệu phục hồi của ngành tôm trong năm 2016 quá mờ nhạt khiến ngành tôm năm 2017 không có đà đi lên. Tuy nhiên, các chuyên gia của GOAL vẫn lạc quan tin tưởng sự ôn định của ngành tôm 2017 sẽ là tiền đề tốt để tạo sự bút phát mạnh mẽ vào những năm sau. Tuy nhiên, phải đến năm 2016, ngành tôm châu Á mới thực sự hồi phục, dẫn đầu là Ấn Độ, Việt Nam và Indonesia. Sản lượng tôm Trung quốc khi đó chỉ đạt 1,35 triệu tắn và được dự báo là khó vượt được mức này đến hết năm 2019.8 = 06 E 04 202 * 00 Trung Quốc Thai Lan Việt Nam Indonesia M2012 #2013 82014 W§2015 #2016 #2017 2018 #2019 g (triệu tân) Nguén: GOAL 2017 Hình 2.1: San lượng tôm tại một số Quốc gia ở châu Á.
Tôm sú Tôm sú (Penaeus monodon) là một trong những đối tượng nuôi biển có giá trị kinh tế cao và được nuôi phổ biến ở hơn 22 quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, nghề nuôi tôm sú phát triển mạnh mẽ từ Bắc tới Nam, với trên 600.000 ha diện tích nuôi, sản lượng tôm sú mỗi năm đạt trên 300. Ở Việt Nam, tôm sú đẻ trứng vào hai thời kì là tháng (4 — 5) và cuối tháng 6 đến tháng 9. Hậu ấu trùng và tôm con sinh sống ở vùng ven bờ, xuất hiện nhiều vào tháng (4 — 6) va thang (9 — 11) ở các bãi sú vẹt, các đầm, phá, nơi có đáy bùn và bùn cát.
Khi trưởng thành di chuyên dần ra xa bờ, đến độ sâu tới 50m để giao vĩ và sinh sản. Là đối tượng kinh tế quan trọng, có giá trị xuất khâu lớn của Việt Nam. Đã sản xuất được tôm sú giống bằng công nghệ cho đẻ nhân tạo và được phát triển nuôi rộng Tãi. ĐỎ ÁN TỐT NGHIỆP %% Tôm thẻ chân trắng Tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) xuất hiện lần đầu tiên ở bang Florida, Mỹ vào năm 1973.
Sau đó, được các nhà khoa học đưa vào nuôi thử nghiệm cách ly để phục vụ công tác nghiên cứu. Trên thế giới, tôm thẻ chân trắng được nuôi nhiều ở các nước Nam Mỹ và Nam Trung Mỹ. Từ những thập niên 1980, ở châu Á, tôm thẻ chân trắng đã được thử nghiệm và nuôi thành công ở Trung Quốc, Đài Loan, nhưng mãi cho đến năm 1996 mới thực sự đưa vào nuôi trồng sản xuất đại trà. Tôm thẻ chân trắng chính thức di nhập vào Việt Nam từ năm 2001.
Từ đó đến nay, nghề nuôi tôm thẻ tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ và chiếm lĩnh một phần không nhỏ thị trường xuất khẩu. Tôm thẻ chân trắng không cần thức ăn có lượng protein cao như tôm sú và lớn rất nhanh trong giai đoạn đầu, mỗi tuần có thể tăng trưởng 3 gram với mật độ 100 con/m2 (tại Hawali), sau khi đã đạt được 20 gram tôm bắt đầu lớn chậm lại, khoảng 1 gram/tuần, tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực. Đặc trưng của tôm thẻ là khả năng kháng bệnh khá cao, mức độ kháng chịu tốt với các thay đổi của điều kiện môi trường nuôi, sinh trưởng nhanh, có thể nuôi với mật độ từ 50-80 con/m2.3: Tôm thẻ chân trắng. ĐỎ ÁN TỐT NGHIỆP s* Tôm càng xanh Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii), còn gọi là tôm lớn nước ngọt hay tôm Malaysia (theo cách gọi của người Âu - Mỹ), là một loài tôm nước ngọt có nguồn gốc ở vùng Thái Bình Dương - Ấn Độ Duong và Bắc Australia.
Loài này (cũng như các loài khác thuộc chỉ Macrobrachium) có tầm quan trọng thương mại nhờ các giá trị dinh dưỡng của nó như là một nguồn thực phâm có giá trị. Trong khi loài này được coi như một loài động vật thân giáp nước ngọt thì giai đoạn ấu trùng của nó lại phụ thuộc vào độ lợ của nước. Khi nó chuyên qua giai đoạn như là sinh vật phù du và trưởng thành thì nó lại hoàn toàn sống trong nước ngọt. Việc nghiên cứu sản xuất giống tôm càng xanh ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1980, và từ năm 1999 đến nay thì sản xuất giống tôm này phát triển nhanh.
Hiện nay, ngoài tôm khai thác tự nhiên, tôm càng xanh đang là đối tượng nuôi phổ biến ở khắp cả nước, đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Các hình thức nuôi tôm càng xanh chủ yếu là nuôi tôm nhữ, nuôi tôm mương vườn, nuôi đăng quằng, nuôi tôm ruộng, nuôi tôm ruộng lúa (xen canh và luân canh) và nuôi tôm ao.4: Tôm càng xanh. ĐỎ ÁN TỐT NGHIỆP *, s* Tôm hùm Tôm hùm (Panulirus.spp) thuộc họ Palinuniade là loài tôm có giá trị kinh tế cao. Ở Việt Nam, tôm hùm phân bố tự nhiên và được nuôi nhiều ở các tỉnh ven biển miền Trung như Phú Yên, Bình Định, Khánh Hòa,.
Mùa khai thác con giống chủ yếu từ tháng I1 năm trước đến tháng 4, tháng 5 của năm sau. Ở Việt Nam có 7 loài tôm hùm gồm tôm hùm bông, tôm hùm đá, tôm hùm sỏi, tôm hùm đỏ, tôm hùm ma, tôm hùm sen và tôm hùm bùn. Trong đó, tôm hùm bông có kích thước lớn nhất, tăng trưởng nhanh nhất và có giá trị cao nhất. Tôm hum là loài ăn tạp, trong tự nhiên và cũng như nuôi thương phẩm.
Thức ăn chủ yếu là cá, giáp xác và nhuyễn thể. Môi trường sống của chúng thường là những nơi nước sạch, có hang hốc, san hô, chất đáy ở tầng đáy sạch, độ mặn cao (>30%o) va nhiét độ nước luôn ổn định trong khoảng (22 - 32°C). Cũng như những loài tôm khác, tôm hùm cũng lớn lên nhờ quá trình lột xác. Tuy nhiên, tôm hùm có chu kỳ lột xác dài hơn, do đó tốc độ tăng trưởng cũng chậm hơn.
Tôm hùm nuôi trong lồng sau thời gian từ 18 tháng trở đi mới đạt giá trị thương phẩm (> Ikg/con). Mặc dù có hiệu quả kinh tế cao nhưng khó khăn lớn nhất của nghề nuôi tôm hùm là chưa thể sản xuất giống nhân tạo. Người nuôi hiện nay chỉ dựa vào con giống khai thác từ tự nhiên.5: Tôm hàm bông.3 Điều kiện và môi trường sống Điều kiện và môi trường sống của tôm thay đổi rất nhiều tùy thuộc vào mùa, thời tiết, địa hình nên đây chỉ là bảng môi tường sống tương đối của tôm. Tùy vào địa phương và thời tiết mà ta cân chỉnh thông số giám sát cho thích hợp nhất để tôm có điều kiện môi trường tốt nhất phát triển.1: Môi trường sống của từng loại tôm.
Thời gian thu Nhiệt độ Độ Ph Độ mặn Độ đục hoạch Tôm sú 25-30 7.5 10-22/1000 | 7-12NTU | 110-120 ngày Tôm thẻ , 27-30 7.5 10-20/1000 | 7-I2NTU 75-90 ngày chân trang Tôm càng 26-31 6.5 0-16/1000 | 15-22NTU 7-8 thang xanh Tôm him 26-30 6.5 30-35/1000 | 0-I6NTU 12-15 tháng 2.4 Các thông số ảnh hưởng đến sự phát triển của tôm Những yếu tố chính khiến cho tôm của bà con chăn nuôi ngày càng suy giảm, yếu kém: « _ Khí H2S sinh ra trong phân hủy các chất hữu cơ có chứa lưu huỳnh. Khí độc H2S sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của tôm và phụ thuộc vào pH của nước, nếu pH thấp thì H2S sẽ rất độc. « _ Thức ăn thừa của tôm chưa được phân hủy tích tụ dưới đáy ao. Nguyên nhân gây nguy hại cho hoạt động nuôi tôm.
ĐÔ ÁN TÓT NGHIỆP + _ Lớp bùn đáy chưa được nạo vét liên tục, mà trong lớp bùn này chứa nhiều chất độc như ammonia, nitrite. Nguyên nhân này làm cho môi trường nuôi tôm bị ô nhiễm. « _ Các nhóm vi khuẩn bat lợi sẽ thay thế các nhóm vi khuân có lợi. ° Nguồn nước nuôi tôm không sạch sẽ để tạo điều kiện cho tôm phát triển.
« _ Nhiệt độ nuôi tôm bị thay đổi do các yếu tổ môi trường tác động như mưa, thời tiết. « Môi trường ô nhiễm sẽ làm giảm chất lượng nước làm mật độ nuôi tôm giảm. « _ Chất lượng nước và đáy ao dơ bân sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tôm. Dẫn đến tôm luôn bị căng thẳng thê hiện qua việc kém ăn, mức tăng trưởng giảm và dễ bị mắc bệnh do vi khuân như Vibriosis.
Dần dần dẫn đến hiện tượng tôm chết hàng loạt, ảnh hưởng đến năng suất nuôi trồng thủy sản. « _ Các yếu tố gây bệnh không những ảnh hưởng đến môi trường nuôi tôm mà còn ảnh hưởng tới hệ thống sinh thái ven biển, các giá trị tài nguyên ven biển.2 Công nghệ IoT 2.1 Khảo sát tổng quan về công nghệ IoT 2.a Tot 1a gi IoT (Internet of Things) là một kịch bản của thế giới, khi mà mỗi đồ vật, con người được cung cấp một định danh của riêng mình, và tất cả có khả năng truyền tải, trao đổi thông tin, dữ liệu qua một mạng duy nhất mà không cần đến sự tương tác trực tiếp giữa người với người, hay người với máy tính. IoT đã phát triển từ sự hội tụ của công nghệ không dây, công nghệ vi cơ điện tử và Internet. Nói đơn giản là một tập hợp các thiết bị có khả năng kết nối với nhau, với Internet và với thế giới bên ngoai để thực hiện một công việc nào đó.
10 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP Hay hiểu một cách đơn giản IoT là tất cả các thiết bị có thê kết nối với nhau. Việc kết nỗi thì có thể thực hiện qua Wi-Fi, mạng viễn thông băng rộng (3G, 4G), Bluetooth, ZigBee, hồng ngoại,. Các thiết bị có thể là điện thoại thông minh, máy pha cafe, máy giặt, tai nghe, bóng đèn, và nhiều thiết bị khác. Cisco, nhà cung cấp giải pháp và thiết bị mạng hàng đầu hiện nay dự báo: Đến năm 2020, sẽ có khoảng 50 tỷ đồ vật kết nối vào Internet, thậm chí con số này còn gia tăng nhiều hơn nữa.
IoT sẽ là mạng khổng lồ kết nối tat cả mọi thứ, bao gồm cả con người và sẽ tồn tại các mối quan hệ giữa người và người, người và thiết bị, thiết bị và thiết bị.