CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VIỆC GIÁM SÁT MÔI TRƯỜNG NƯỚC TRONG NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Chương này sẽ giới thiệu về tình hình ngành thủy sản trên thế giới và ở Việt Nam, những cơ hội, thách thức, cũng như những bất cập, hạn chế, các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường nước đặc biệt là vấn đề về ô nhiễm môi trường và dịch bệnh xảy ra trên tôm cá , từ đó xác định được việc cần thiết là giám sát và xử lý môi trường nước, để tiêu trừ được dịch bệnh xảy ra, đó chính là mục tiêu và những nội dung cần được thực hiện trong luận văn này. Tổng quan về ngành thủy sản 1.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản trong nước Năm 2015, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt 6,7 tỷ USD, trong đó xuất khẩu tôm đạt 3 tỷ USD (sản lượng 660. Ngành thủy sản Việt Nam đã xuất khẩu đạt kim ngạch từ 2,4 tỉ USD năm 2004 đến 7,84 tỉ USD năm 2014 (gấp 3,26 lần). Việt Nam đang là nước có sản lượng nuôi trồng thủy sản đứng thứ 3 thế giới sau Trung Quốc và Ấn Độ Hình 1: Biểu đồ xuất khẩu thủy sản từ 2000 đến 2015.
1 Tieu luan Trong năm 2016, sản lượng khai thác thủy sản đạt được những kết quả khả quan. Ước tính cả năm 2016 sản lượng khai thác thủy sản đạt 3.076 ngàn tấn, tăng 3% so với năm 2015, trong đó: khai thác biển đạt 2.876 ngàn tấn, tăng 2,21 % so với năm 2015; khai thác nội địa đạt 200 ngàn tấn, giảm 1% so với năm 2015. Sản lượng nuôi trồng thủy sản cả năm đạt 3.650 ngàn tấn, tăng 1,9% so với năm 2015. Riêng đối với ngành nuôi tôm, năm 2016 mặc dù tình hình hạn mặn và dịch bệnh làm ảnh hưởng nhiều tới nuôi tôm nước lợ trong 9 tháng đầu năm.
Tuy nhiên, mưa nhiều trong những tháng cuối năm, độ mặn giảm cùng với sự chỉ đaọ của các cấp trong việc kiểm soát dịch bệnh nên sản lượng thu hoạch tăng vào những tháng cuối năm. Sản lượng tôm nước lợ cả nước ước đạt 650 nghìn tấn (+3,2%). Tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, diện tích tôm sú đạt 569. Diện tích tôm thẻ chân trắng đạt 64.440 ha, tăng 11,5% so với năm 2015, sản lượng đạt 253.
Kết quả sản xuất thủy sản năm 2016 KẾT QUẢ SẢN XUẤT THUỶ SẢN NĂM 2016 Đơn vị tính: Sản lượng 1000 Tấn: Diện tích: 1.000 ha TT Chỉ tiêu Kế hoạch Thực hiện So với 2015 (%) 2016 2016 I Tổng sản lượng 6.726 2,5 1 Sản lượng khai thác 2.1 Khai thác biển 2.2 Khai thác nội địa 185 200 0 2 Sản lượng nuôi trồng 3.650 1,9 Tôm nước lợ 680 650 3,2 Cá tra 1.150 -5,6 II Diện tích nuôi 1.300 4,0 Tôm nước lợ 695 700 1,5 Cá tra 5,1 5,05 -1 2 Tieu luan 1.Cơ hội của ngành thủy sản ở Việt Nam Nhu cầu thủy sản của thế giới đang ngày càng gia tăng. Đến năm 2020, nhiều khả năng nguồn cung tôm trên thị trường thế giới vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu. Cơ hội phát triển nuôi trồng để đáp ứng sự thiếu hụt của thế giới khoảng 2 triệu tấn hàng năm, nghĩa là gấp 3 lần tổng sản lượng tôm xuất khẩu hiện nay của Việt Nam Thủy sản là một trong ba ngành có cơ hội phát triển lớn khi Việt Nam gia nhập TPP. Ngoài ra Việt Nam còn ký kết các hiệp định thương mại với các quốc gia như FTA Việt Nam với Hàn Quốc, FTA Việt Nam với Liên minh kinh tế Á - Âu.
Bên cạnh đó, FTA Việt Nam với EU. Thủy sản xuất khẩu được hưởng thuế suất theo cam kết trong EVFTA thay vì thuế GSP như trước sẽ mang lại nhiều lợi íc bởi thuế suất trong EVFTA dành cho đại đa số các sản phẩm xuất khẩu trong khi GSP chỉ dành cho một vài loại sản phẩm nhất định. Thuế GSP là ưu đãi đơn phương EU dành cho Việt Nam và có thể rút lại bất cứ lúc nào còn cam kết thuế quan trọng EVFTA là cam kết song phương, ổn định, bền vững mà hai bên bắt buộc phải thực hện, không có quyền tự ý đơn phương hủy bỏ nghĩa vụ này Với EVFTA, ngành thủy sản Việt Nam cũng có cơ hội lớn trong việc chuyển nguồn nguyên liệu thủy sản trong nước đã sụt giảm đáng kể và Việt Nam đang phải dựa nhiều hơn vào nguồn nguyên lệu từ các nước EU có năng lực kha thác tốt với giá rẻ hơn ( do thuế nhập khẩu giảm). Thêm đó, với năng lực chế biến thuộc nhóm hàng đầu thế giớ, DN thủy sản Việt Nam có thể ga tăng nhập khẩu nguyên liệu từ các nước không thuộc khối EU như Indonesia và một số nước ASEAN khác có ký hiệp định song phương vớ EU và vẫn được tận hưởng ưu đã về thuế nhờ quy tắc xuất sứ cộng gộp, từ đó gia tăng xuất khẩu vào thị trường EU Nhờ những tác động tích cực từ các Hiệp định thương mại kinh tế, giá trị xuất khẩu (XK) nhiều mặt hàng thủy sản của Việt Nam được dự báo sẽ tăng cao ngay trong năm 2016 và các năm tiếp theo Thủy sản được xem là một trong những mặt hàng có thế mạnh trong hoạt động xuất khẩu của nước ta.
Điểm đáng chú ý, tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng xuất khẩu thủy sản vẫn đạt nhiều kết quả tích cực, trong đó có nhiều nước tham gia Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) 3 Tieu luan Mặc dù tình hình thời tiết trong nước có những diễn biến bất thường như hạn hán và xâm nhập mặn, đã làm chậm tiến độ thả nuôi thủy sản của người dân. Tuy sản lượng thủy sản trong 6 tháng đầu năm 2016 chỉ tăng nhẹ so với cùng thời kỳ 2015, nhưng XK thủy sản vẫn có bước tăng trưởng. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thông trong 6 tháng đầu năm 2016, giá trị xuất khẩu thủy sản ước tính đạt 3,07 tỷ USD, tăng 3,8% so với cùng kỳ đầu năm 2015. Trong 4 thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc ( chiếm 52,81% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản), thì xuất khẩu của Việt nam tăng mạnh nhất, với 10,9%.
Điều này phần nào cho thấy khi tham gia TPP, sẽ mang lại nhiều cơ hội cho xuất khẩu thủy sản của nước ta Ngoài hiệp đinh TPP, trong năm 2016 Hiệp định thương mại tự do Việt nam- Hàn Quốc được ký kết cũng giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam so với Trung Quốc, Thái Lan, Ecuador. Hàn Quốc đã cam kết cấp hạn ngạch thuế quan 10.000 cho tôm Việt Nam trong năm đầu tiên và đạt 15.000 tấn sau 5 năm với thuế suất nhập khẩu 0%. Tương tự, khi Hiệp định thương mại tự do giữa Việt nam và Liên minh Hải quân ( gồm Nga, Belarus và Kazakhstan) đi vào thực thi, thủy sản sẽ là nhóm hàng được hưởng ưu đãi thuế ngay. Hầu hết các sản phẩm thủy sản đều được bỏ thuế ngay khi hiệp định có hiệu lực Khi tham gia TPP, ngành thủy sản Việt Nam có cơ hội thêm tái cấu trúc lại nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững.
Thông qua quá trình tái cấu trúc, sẽ loại bỏ được những doanh nghiệp có năng lực và khả năng cạnh tranh thấp. Đồng thời, khi tham gia TPP, các doanh nghiệp nước ta có thể tận dụng cơ hội trực tiếp tham gia các gối thầu cung cấp nguyên liệu. Điều này có thể coi là điều kiện thuận lợi để tăng cơ hội hợp tác, cải tiễn chuỗi sản xuất các mặt hàng thủy sản Sản lượng tôm sản xuất của Việt nam có sự gia tăng nhanh chóng trong khoảng thời gian từ 2001 đến nay và triển vọng trở thành một ngành kinh tế quan trọng không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn mang lại doanh thu xuất khẩu lớn. Năm 2015, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt 6,7 tỷ USD, trong đó xuất khẩu tôm đạt 3 tỷ USD (sản lượng 660.000 tấn), riêng Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đạt 2,55 tỷ USD.
Việt Nam đang đứng hàng thứ tư về nuôi tôm,cá trên thế giới với sản lượng tôm,cá nuôi tăng trưởng tốc độ cao 4 Tieu luan 1.Những bất cập còn hạn chế của ngành thủy sản Việt Nam - Chịu tác động nặng nề của ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu: Ngành thủy sản đang bị tác động mạnh của biến đổi khí hậu. Vào đầu năm 2016, do thời tiết nắng nóng và xâm nhập mặn, một số tỉnh như Trà Vinh, Kiên Giang, Bến Tre, Cà Mau, Bạc Liêu đã bị thiệt hại khoảng 2.000 ha Tình trạng các đập thủy điện ở thượng nguồn giữ và xả nước của dòng sông Mê Kông không theo quy luật cũng đang khiến chất lượng nước và độ mặn của nước biến động bất thường Khoảng 80% diện tích nuôi tôm ở ĐBSCL là tự phát, nuôi quy mô nhỏ. Thiếu quy hoạch nên đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và xã hội. lợi thủy sản cạn kiệt.
Kéo theo hàng loạt vấn đề xã hội như ô nhiễm nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất của cộng đồng, mâu thuẫn lợi ích trong việc chia sẻ các nguồn tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng đến sinh kế của người dân. - Dịch bệnh Vào năm 2012, cả nước có hơn 100.000 ha bị dịch bệnh (gần 15% diện tích nuôi tôm). Theo báo cáo của Cục Thú y, trong 11 tháng đầu năm 2015, tổng diện tích nuôi tôm nước lợ bị thiệt hại là 49.656,51 ha (bằng 104,7% so với cùng kỳ năm 2014), chiếm 7,66% tổng diện tích nuôi tôm của cả nước. Nguyên nhân do thời tiết biến đổi, nắng nóng kéo dài dẫn đến thiếu nước, nhiệt độ tăng và độ mặn cao làm tôm bị suy yếu, tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển và gây bệnh; mầm bệnh lưu hành rộng rãi; các yếu tố đầu vào như tôm giống, hóa chất dùng xử lý cải tạo môi trường, chế phẩm sinh học chất lượng không đảm bảo, … Theo báo cáo của Cục Thú y, 10 tháng đầu năm 2015, hơn 8.000 tấn thủy sản xuất khẩu của Việt Nam bị các nước trả về do vi phạm quy định nhập khẩu.
Việc không kiểm soát dịch bệnh từ gốc, không quyết liệt từ địa phương đã khiến ngành xuất khẩu lao đao. Dịch bệnh hoành hành, theo nhiều chuyên gia, do nhiều địa phương đã chủ quan cho rằng dịch bệnh đã được khống chế và điều đó có nghĩa dịch bệnh trên tôm đã được giải quyết. - Sử dụng kháng sinh tràn lan Trong hoạt động nuôi tôm, nguy cơ ô nhiễm môi trường, dư lượng hóa chất, kháng sinh chưa được kiểm soát tốt.