MỞ ĐẦU Hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn là một trong những hệ thống sông lớn nhất miền Trung, với diện tích lƣu vực là 10. Hệ thống sông này đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của miền Trung nói chung và tỉnh Quảng Nam, TP. Hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn đƣợc hợp lƣu từ 2 con sông lớn là sông Vu Gia và sông Thu Bồn. Sông Vu Gia có chiều dài 204 km, bắt nguồn từ dãy Trƣờng Sơn, chảy qua địa phận của các huyện Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Đại Lộc, Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam) và huyện Hoà Vang (TP.
Sông đƣợc tạo thành bởi nhiều nhánh sông nhƣ: Sông Đăk Mi (sông Cái), sông Bung, sông A Vƣơng và sông Côn [41]. Sông Thu Bồn có chiều dài 198 km, bắt nguồn từ sƣờn đông nam dãy Ngọc Linh với độ cao trên 2.000m, đoạn đầu gọi là sông Tranh hay sông Tỉnh Gia. Sông chảy theo hƣớng Bắc Nam qua các huyện Trà My, Tiên Phƣớc, Hiệp Đức, Quế Sơn và Đại Lộc, sau đó chảy qua vùng đồng bằng của các huyện Duy Xuyên, Điện Bàn và TP. Hạ lƣu sông Thu Bồn là vùng đất ngập nƣớc rộng lớn, nhất là khu vực xã Cẩm Thanh, Cẩm Kim và vùng phụ cận với hơn 500ha diện tích mặt nƣớc.
Các nhánh sông là: sông Ba Chƣơm, sông Cổ Cò, sông Đình, sông Đò nối với sông Thu Bồn tạo thành nhiều cồn, gò nhƣ cồn Thuận Tình, cồn Tiến, gò Hí, gò Già…, với các HST điển hình vùng nhiệt đới nhƣ RNM và cỏ biển [41]. Trong đó, đáng chú ý là rừng dừa nƣớc dọc bờ các kênh rạch tạo cho vùng đất ngập nƣớc hạ lƣu sông Thu Bồn một HST vùng cửa sông đa dạng và phong phú. Hàng năm, phần hạ lƣu sông này đã và đang cung cấp một lƣợng nƣớc lớn phục vụ các hoạt động KT-XH của tỉnh Quảng Nam nói chung và vùng phụ cận nói riêng, trong đó quan trọng là khu phố cổ Hội An đƣợc UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 1999. ĐVKXS ở nƣớc là nhóm sinh vật rất phong phú và đóng vai trò rất quan trọng trong các HST và trong đời sống của con ngƣời.
Tại các thủy vực, ĐVKXS tham gia vào các quá trình chuyển hóa vật chất và năng lƣợng, là mắt 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xích quan trọng trong mạng lƣới thức ăn của thủy vực và tạo sự cân bằng cho các thủy vực. Ngoài ra, nhiều loài còn là sinh vật chỉ thị để đánh giá chất lƣợng nƣớc ở các thủy vực. Trong đời sống sinh hoạt, từ xa xƣa, con ngƣời đã biết sử dụng ĐVKXS để làm thực phẩm, làm đồ trang trí. Ngày nay, nhờ có các nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm của mình, con ngƣời đã thuần hoá và nuôi trồng đƣợc rất nhiều loài ĐVKXS ở nƣớc có giá trị kinh tế cao.
Do điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng hiện hữu, nƣớc biển dâng và thời tiết cực đoan dẫn đến các chế độ thủy triều và cùng với nó là tính chất thủy lý hóa học nƣớc biến đổi do đó thành phần loài ĐVKXS ở nƣớc cũng sẽ có những thay đổi nhất là vị trí nhạy cảm nhƣ cửa sông, ven biển. Chính vì vậy, để cập nhật về ĐDSH ở vùng hạ lƣu sông Thu Bồn chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đa dạng sinh học động vật không xương sống ở nước tại sông Thu Bồn (đoạn từ cầu Câu Lâu đến cửa Đại), tỉnh Quảng Nam” nhằm mục đích: - Bƣớc đầu đánh giá hiện trạng ĐDSH ĐVKXS tại sông Thu Bồn (Đoạn từ cầu Câu Lâu đến cửa Đại). - Cung cấp các dẫn liệu về thành phần loài và số lƣợng ĐVKXS ở thủy vực theo điểm nghiên cứu. - Xác định các loài có nguồn gốc biển, loài có giá trị kinh tế.
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển ĐDSH tại khu vực nghiên cứu. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. Những nghiên cứu về động vật không xƣơng sống vùng cửa sông, ven biển trên thế giới Các nghiên cứu đầu tiên về khu hệ thuỷ sinh vật biển phát triển mạnh với việc sử dụng lƣới vớt sinh vật nổi và lƣới kéo sinh vật đáy (1750). Các tác giả đầu tiên của giai đoạn này là Audonin và Edwards (1832), Sars (1835), Forbes (1844) đã công bố những dẫn liệu đầu tiên.
Tiếp đến là thời kỳ nghiên cứu sinh thái học, tiêu biểu là Loren (1863), Walther (1893 - 1984), Zernov (1912),… Giai đoạn nghiên cứu định lƣợng nhƣ nghiên cứu định lƣợng sinh vật nổi của Hensen (1877) và gầu định lƣợng sinh vật đáy của Petersen (1908) (Theo Đặng Ngọc Thanh, 1974) [32]. Ở các hệ sinh thái trên cạn, số lƣợng các loài nhiều hơn ở biển, do đó tính ĐDSH cũng cao hơn nhƣng các loài sinh vật biển lại có khuynh hƣớng tăng khả năng biến dị hơn nên tính đa dạng về di truyền cũng lớn hơn. Trong các HST cửa sông, số lƣợng các loài lại không nhiều so với các vùng biển lân cận nhƣng do tính không đồng nhất về các điều kiện sống, những biến dị của các cá thể của loài càng trở nên phong phú nhờ đó chúng có thể tồn tại và thích ứng đƣợc với những thay đổi của các điều kiện môi trƣờng. Ngay trong một HST cửa sông, nơi sống của các loài và các quần thể của loài, cũng phân hoá mạnh, tạo nên các ổ sinh thái khác nhau nhất là khu vực RNM.
Ví dụ nhƣ trong các HST RNM có thể bắt gặp 2-4 loài còng thuộc giống Uca, tuy nhiên mỗi loài này xuất hiện thƣờng phụ thuộc vào cấu tạo của nền đáy. Ngoài ra, các cửa sông phân bố ở các vị trí địa lý khác nhau cũng có sự cách ly tƣơng đối, vì vậy ngoài những loài chung, mỗi nơi còn có các loài sinh vật đáy đại diện cho mỗi sinh cảnh của mình nhƣ Polychaeta, Mollusca,. Về ĐVN, Thompson (1830) và Muler (1845) là những ngƣời đầu tiên nghiên cứu về ĐVN trong khi dùng lƣới mắt nhỏ để vớt ấu trùng sao biển đã tình cờ phát hiện ra sự đa dạng phong phú của các loài sinh vật bé nhỏ trong nƣớc biển (Theo Nguyễn Huy Chiến, 2007) [4]. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong giai đoạn tiếp theo đã có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm hình thái, thành phần loài và ảnh hƣởng của các yếu tố môi trƣờng đến số lƣợng và sự phân bố ĐVN, ngoài ra một số vấn đề mới đƣợc các nhà khoa học biển lƣu tâm là tính ĐDSH, bảo vệ môi trƣờng và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên [56].
Các công trình đã nghiên cứu về biến động theo mùa và sự di nhập của các loài ĐVN, qua đó cho thấy đƣợc những loài cửa sông có nguồn gốc biển ven bờ rộng muối đã di nhập và thích nghi với sự dao động của độ muối điển hình nhƣ các loài Giáp xác bơi nghiêng (Gammarus, Hydrobia, Sphaeroma, Corophium) và thân tơ (Balanus),… [54, 55, 64, 71]. Nghiên cứu về sinh thái học và ĐDSH ĐVN là lĩnh vực đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu trong việc sử dụng là sinh vật chỉ thị đánh giá chất lƣợng môi trƣờng nƣớc,. Ngoài ra còn nhiều nghiên cứu sinh vật lƣợng ĐVN và vai trò của chúng trong chuỗi thức ăn, đảm bảo cân bằng sinh thái, làm thức ăn cho các động vật thuỷ sản, đặc biệt là vai trò duy trì sản lƣợng cá. [51, 66, 74] Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định tính đa dạng của ĐVĐ liên quan chặt chẽ với tính đa dạng của sinh cảnh.
Vùng triều có điều kiện môi trƣờng biến động hơn vùng đất ngập nƣớc, song nhờ có hệ thực vật RNM và cấu trúc đa dạng của nền đáy đã tạo nên nhiều sinh cảnh rất đặc trƣng cho những nhóm sinh vật khác nhau [76]. Nghiên cứu về sự di nhập của các loài sinh vật nƣớc ngọt, nƣớc mặn ít hay nhiều vào vùng cửa sông hoặc qua vùng cửa sông vào vùng nƣớc ngọt còn liên quan chặt chẽ đến lƣu lƣợng dòng chảy và sự lên xuống của thủy triều. Những loài cửa sông thực chất là những loài có nguồn gốc từ biển ven bờ, rộng muối, đã di nhập vào đây từ buổi đầu ra đời của vùng và thích nghi với điều kiện bất ổn định của nó, đặc biệt là sự dao động của độ muối. Những mối quan hệ về nguồn gốc đƣợc phản ánh trong nhiều “cặp sinh đôi” gặp trong vùng cửa sông và biển.
Chẳng hạn, loài Giáp xác bơi nghiêng (Gammarus zaddachi oceanicus) liên quan chặt chẽ với Gammarus zaddachi zaddachi cửa sông. Trong các giống Hydrobia, Sphaeroma, Corophilum, Balanus. có những 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com loài rất gần nhau, song loài thì sống ở cửa sông, loài thì sống ở nƣớc mặn [61, 71, 72]. Chỉ tính đến thập kỷ 80 thì theo Phạm Đình Trọng (1996) trên thế giới, số tài liệu đề cập về HST RNM đã vƣợt quá 7000 đầu sách, trong đó có hàng trăm công trình đề cập đến các quần xã động vật.
Xét riêng về ĐVKXS đáy cỡ lớn (Macrobenthos) đã có 110 công trình công bố [39]. Theo Vũ Trung Tạng (1994) cho thấy trong RNM ở Đông Nam Á, đã thống kê đƣợc gần 230 loài Giáp xác, 211 loài Thân mềm, 11 loài Giun nhiều tơ và 13 loài giun ít tơ (IUCN, 1983) [29]. Nghiên cứu về khu hệ, phân bố, sinh thái đã có nhiều công trình công bố về Macrobenthos ở vùng nƣớc lợ, nhƣ Aksornkoae (1995) nghiên cứu về tôm [48]; Li Ya-Fang và cs (2012) nghiên cứu về nhuyễn thể [68]; Edward (2014) nghiên cứu về thân mềm [58],… Nghiên cứu về ĐDSH ĐVĐ trên thế giới tiêu biểu nhƣ nhƣ Evink (1973) [59], Hutching và Saenger (1987) [63], Mathes và Kapetsky (1988) [69], Macintosh và Aksomkoae (1991) [70], Othman và Arshad. Các tác giả đã tập trung hƣớng nghiên cứu đi sâu vào xác định thành phần loài, biến động số lƣợng, sự phân bố của ĐVĐ và đã áp dụng các chỉ số H’, chỉ số D, chỉ số Simpson.
để đánh giá tính ĐDSH, đồng thời nghiên cứu ảnh hƣởng của các yếu tố sinh thái đối với các nhóm ĐVĐ vùng triều và RNM. Mathes và Kapetsky (1988) [69] đã thống kê đƣợc khoảng 630 loài Thân mềm và 240 loài Giáp xác có giá trị kinh tế trên toàn thế giới phân bố ở RNM và vùng cửa sông ven biển. Ngoài ra, Snedaker (1984) cũng đã đánh giá đƣợc vai trò, giá trị của HST RNM đối với vùng cửa sông [81]. Các công trình nghiên cứu của Othman và Arshad.
(1992) [73], Chanratchakool và cs. (1992) [79] đã chỉ ra đƣợc mối quan hệ sinh dƣỡng giữa ĐVĐ với nghề nuôi trồng thuỷ sản, qua đó các tác giả đã phân tích biến động các nguồn hữu cơ 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.