Nghiên cứu đa dạng sinh học bộ giáp xác mười chân tại sông Trường Giang, Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích nghiên cứu đa dạng sinh học bộ giáp xác mười chân crustacea decapoda ở sông trường giang tỉnh quảng, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Thủy sinh vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2019

114
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIÁP XÁC MƯỜI CHÂN TRÊN THẾ GIỚI

MỞ ĐẦU

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu đa dạng sinh học giáp xác mười chân

Nghiên cứu về đa dạng sinh học của bộ giáp xác mười chân (Decapoda) là một lĩnh vực quan trọng trong sinh thái học và bảo tồn. Bộ giáp xác này bao gồm nhiều loài có giá trị kinh tế và sinh thái cao. Tại Việt Nam, nghiên cứu về giáp xác mười chân còn hạn chế, đặc biệt là ở các khu vực như sông Trường Giang. Việc tìm hiểu về sự đa dạng và phân bố của chúng không chỉ giúp bảo tồn mà còn hỗ trợ phát triển bền vững ngành thủy sản.

1.1. Đặc điểm sinh thái của giáp xác mười chân

Giáp xác mười chân thường sống trong các môi trường nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Chúng đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn và cân bằng sinh thái. Các loài này có khả năng thích nghi cao với điều kiện môi trường khác nhau, từ độ mặn đến nhiệt độ.

1.2. Vai trò của giáp xác mười chân trong hệ sinh thái

Giáp xác mười chân không chỉ là nguồn thực phẩm cho nhiều loài động vật khác mà còn tham gia vào quá trình phân hủy và tái chế chất dinh dưỡng trong môi trường nước. Chúng giúp duy trì sự cân bằng sinh thái và là chỉ số quan trọng để đánh giá sức khỏe của hệ sinh thái.

II. Thách thức trong nghiên cứu đa dạng sinh học giáp xác mười chân

Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng nghiên cứu về giáp xác mười chân tại Việt Nam gặp phải nhiều thách thức. Thiếu dữ liệu và tài nguyên nghiên cứu là một trong những vấn đề lớn. Ngoài ra, sự thay đổi môi trường do hoạt động của con người cũng ảnh hưởng đến sự đa dạng của các loài này.

2.1. Thiếu dữ liệu và tài nguyên nghiên cứu

Nhiều khu vực chưa được nghiên cứu đầy đủ, dẫn đến việc thiếu thông tin về sự phân bố và đa dạng của các loài giáp xác. Điều này gây khó khăn trong việc xây dựng các chiến lược bảo tồn hiệu quả.

2.2. Tác động của con người đến môi trường sống

Hoạt động khai thác thủy sản, ô nhiễm và biến đổi khí hậu đang làm suy giảm môi trường sống của giáp xác mười chân. Những tác động này không chỉ ảnh hưởng đến sự tồn tại của các loài mà còn làm giảm tính đa dạng sinh học trong khu vực.

III. Phương pháp nghiên cứu giáp xác mười chân hiệu quả

Để nghiên cứu đa dạng sinh học của giáp xác mười chân, cần áp dụng các phương pháp khoa học hiện đại. Việc thu thập mẫu và phân tích số liệu là rất quan trọng để hiểu rõ hơn về sự phân bố và đặc điểm sinh học của chúng.

3.1. Phương pháp thu thập mẫu giáp xác

Sử dụng các công cụ như lưới và bẫy để thu thập mẫu giáp xác từ các môi trường khác nhau. Việc này giúp đảm bảo có được mẫu đại diện cho sự đa dạng của các loài trong khu vực nghiên cứu.

3.2. Phân tích số liệu và đánh giá đa dạng

Sau khi thu thập mẫu, các phương pháp phân tích thống kê sẽ được áp dụng để đánh giá sự đa dạng và phân bố của các loài giáp xác. Điều này giúp xác định các loài có giá trị bảo tồn và phát triển bền vững.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu về giáp xác mười chân tại sông Trường Giang đã chỉ ra sự đa dạng phong phú của các loài. Những phát hiện này không chỉ có giá trị khoa học mà còn có thể áp dụng vào thực tiễn trong việc bảo tồn và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản.

4.1. Đánh giá thành phần loài giáp xác

Nghiên cứu đã xác định được nhiều loài giáp xác mười chân có giá trị kinh tế cao, đồng thời cũng chỉ ra những loài cần được bảo tồn. Việc này giúp định hướng cho các chính sách bảo tồn và phát triển thủy sản.

4.2. Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển

Cần xây dựng các chương trình bảo tồn và phát triển bền vững cho giáp xác mười chân. Các giải pháp này bao gồm việc quản lý khai thác hợp lý và bảo vệ môi trường sống của chúng.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về đa dạng sinh học giáp xác mười chân tại sông Trường Giang đã mở ra nhiều cơ hội cho việc bảo tồn và phát triển bền vững. Tương lai của nghiên cứu này phụ thuộc vào sự hợp tác giữa các nhà khoa học, chính quyền và cộng đồng địa phương.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu trong bảo tồn

Nghiên cứu không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sự đa dạng sinh học mà còn góp phần vào việc bảo tồn các loài giáp xác mười chân. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái.

5.2. Hướng đi mới cho nghiên cứu và phát triển

Cần tiếp tục đầu tư vào nghiên cứu và phát triển các phương pháp bảo tồn mới. Sự kết hợp giữa khoa học và thực tiễn sẽ giúp nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát triển bền vững cho giáp xác mười chân.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Sông Trƣờng Giang với chiều dài 67 km, thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam, ngăn cách với biển bởi cồn cát rộng lớn, phía Bắc nhập với hạ lƣu hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn rồi đổ ra biển qua cửa Đại (Hội An), phía Nam nhập với hạ lƣu sông Tam Kỳ rồi đổ ra biển qua cửa Lở và cửa An Hòa. Nguồn nƣớc của sông Trƣờng Giang đƣợc thu nhận từ hai hệ thống sông này và từ nguồn thủy triều lên xuống ở hai cửa sông. Bởi vậy, sông Trƣờng Giang không có thƣợng lƣu, hạ lƣu nên cũng không có hữu và tả ngạn. Đây là dòng sông đặc biệt và có vai trò quan trọng về kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam.

Các nghiên cứu liên quan đến sông Trƣờng Giang còn rất ít và tản mạn, chủ yếu tập trung vào các vấn đề tiêu thoát lũ, nạo vét, gia cố bờ… Các vấn đề về đa dạng sinh học, nuôi trồng thủy sản, bảo vệ môi trƣờng, phát triển bền vững… chƣa đƣợc nghiên cứu một cách đầy đủ. Các loài Giáp xác mƣời chân (Decapoda) là nhóm sinh vật phong phú và đóng vai trò rất quan trọng trong các hệ sinh thái và trong đời sống của con ngƣời. Tại các thủy vực, Giáp xác mƣời chân tham gia vào các quá trình chuyển hóa vật chất và năng lƣợng, là mắt xích quan trọng trong mạng lƣới thức ăn của thủy vực và tạo sự cân bằng cho các thủy vực. Đối với đời sống con ngƣời, Giáp xác mƣời chân là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dƣỡng cao.

Việc điều tra, nghiên cứu, khai thác và sử dụng hợp lý nhằm mục đích bảo tồn và phát triển bền vững nguồn lợi Giáp xác mƣời chân ở các thủy vực là vấn đề có ý nghĩa chiến lƣợc đối với ngành thủy sản. Từ những lý do nêu trên, việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đa dạng sinh học bộ Giáp xác mƣời chân (Crustacea: Decapoda) ở sông Trƣờng Giang, tỉnh Quảng Nam” là việc làm cần thiết để có thể đƣa ra định hƣớng sử dụng, khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản tại sông Trƣờng Giang. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định thành phần loài, phân bố của bộ Giáp xác mƣời chân (Crustacea: Decapoda) ở sông Trƣờng Giang, tỉnh Quảng Nam. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nội dung nghiên cứu: - Nghiên cứu đa dạng về loài của bộ Giáp xác mƣời chân (Crustacea: Decapoda) ở sông Trƣờng Giang, tỉnh Quảng Nam; - Nghiên cứu đặc điểm phân bố của bộ Giáp xác mƣời chân (Crustacea: Decapoda); - Đề xuất định hƣớng bảo tồn và phát triển bền vững động vật Giáp xác mƣời chân (Crustacea: Decapoda) tại khu vực nghiên cứu.

2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. Tình hình nghiên cứu về Giáp xác mƣời chân trên thế giới Bộ Giáp xác mƣời chân (Decapoda) đƣợc xem nhƣ là nhóm quan trọng đối với ngành thủy sản, kinh tế thƣơng mại. Nghiên cứu về Giáp xác mƣời chân đã đƣợc bắt đầu từ thế kỷ thứ XVIII. Tỷ lệ các loài Giáp xác mƣời chân đƣợc định tên tăng đều với khoảng 100 loài mỗi năm kể từ cuối thế kỷ XIX.

Những công trình nghiên cứu có hệ thống đầu tiên trong định loại các loài Giáp xác mƣời chân bao gồm các nghiên cứu của Edwards (1834-1837) và De Haan (1833-1850); Dana (1852); Stimpson (1860, 1871); Milne-Edwards (1872, 1880); Glassell, Rathbun và Schmitt trong thập kỷ 1930; Glassell (1935 - 1938); Rathbun (1925, 1930, 1933, 1937); Schmitt (1935) đã nối tiếp và hoàn thiện các nghiên cứu trƣớc đó.905 loài Giáp xác mƣời chân đã đƣợc định tên trên thế giới [66]. Trong bộ Giáp xác mƣời chân (Decapoda), riêng nhóm cua (Brachyura) đƣợc nghiên cứu độc lập vì đây là nhóm có nhiều loài kích thƣớc lớn. Chúng cũng đƣợc xem là nhóm phổ biến nhất và có giá trị thƣơng mại cao. Những công trình có hệ thống đầu tiên về nhóm cua có thể kể đến các nghiên cứu của De Haan (1833 - 1850), Edwards (1834 - 1837), Dana (1852), Stimpson (1871), Milne-Edwards (1872) và Rathbun.

Riêng Rathbun (1906) là tác giả đã đóng góp rất lớn trong phân loại và sắp xếp hệ thống nhóm cua.452 loài trong nhóm cua (Brachyura) đã đƣợc định tên trên toàn thế giới và 4.453 loài thuộc nhóm tôm (các nhóm phân loại còn lại của bộ Decapoda trừ thứ bộ Brachyura), thì tổng số loài thuộc nhóm tôm cao hơn số loài thuộc nhóm cua đã đƣợc định tên. Đến năm 2014, trên thế giới đã ghi nhận 14.756 loài Giáp xác mƣời chân thuộc 2. Trong đó, nhóm cua (Brachyura) có 6. Đối với môi trƣờng nƣớc ngọt, nghiên cứu của Martin và Davis (2001) đã thống kê hơn 1.

Đây là những loài sống hoàn toàn ở nƣớc ngọt hoặc một phần trên cạn. Những loài cua nƣớc ngọt thuộc 8 họ Pseudothelphusidae và Trichodactylidae (Mê-xi-cô, Trung và Nam Mỹ), Potamonautidae (Châu Phi và 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quần đảo Ma-đa-gát-ca), Deckeniidae và Platythelphusidae (Đông Phi), Potamidae (Bắc Phi, miền nam Châu Âu, Châu Á), Gecarcinucidae (quần đảo Sy-che-ly thuộc Châu Á) và Parathelphusidae (Châu Á, Châu Úc) [65]. Nghiên cứu của Yeo và cộng sự (2008) cũng đã thống kê đƣợc 1.476 loài cua nƣớc ngọt, thuộc 14 họ trên thế giới (trừ khu vực Nam Cực).306 loài sống trong môi trƣờng nƣớc ngọt thuộc 8 họ là Pseudothelphusidae, Trichodactylidae, Potamonautidae, Deckeniidae, Platythelphusidae, Potamidae, Gecarcinucidae và Parathelphusidae [84]. Nghiên cứu của De Grave và cộng sự (2008) đã thống kê có 655 loài tôm nƣớc ngọt.

Trong số các họ tôm nƣớc ngọt, hai họ Tôm riu (Atyidae) có số loài nhiều nhất với 359 loài. Họ Tôm càng (Palaemonidae) có các giống phổ biến nhƣ Macrobrachium, Palaemon, Exopalaemon, Palaemonetes [53]. Đối với môi trƣờng nƣớc lợ, mặn, nghiên cứu của De Grave và cộng sự (2008) đã thống kê có khoảng 1.800 loài tôm thuộc thứ bộ Caridea thuộc 31 họ [53]. Nghiên cứu của Dorji (2014) ƣớc tính trên thế giới có khoảng và 5.500 loài cua (Brachyura) với 7.200 loài thuộc nhóm tôm (các nhóm phân loại còn lại của bộ Decapoda trừ thứ bộ Brachyura) [56].

Một số nghiên cứu về bộ Giáp xác mƣời chân (Decapoda) tại một số vùng trên thế giới có thể kể đến nghiên cứu của Abele và Kim (1986) đã xác định tại vùng biển Flo-ri-da có 724 loài. Trong đó, nhóm tôm ghi nhận 377 loài thuộc 39 họ; nhóm cua (Brachyura) ghi nhận 347 loài thuộc 24 họ [38]. Nghiên cứu của Chan (2010) về nhóm tôm bò (Macrura Reptantia) đã thống kê đƣợc 248 loài (với 4 phân loài) thuộc 55 giống, 6 họ thuộc các nhóm Astacidea, Glypheidea, Achelata và Polychelida [47]. Nghiên cứu của Boschi (2000) đã thống kê ở khu vực biển ven bờ Châu Mỹ có 1.086 loài, thuộc 311 giống, 40 họ.

Kết quả nghiên cứu về phân bố số lƣợng loài của nhóm cua (Brachyura) tại khu vực nghiên cứu cho thấy tính đa dạng cao hơn trong vùng nhiệt đới và giảm dần về phía vùng vĩ độ cao [42]. Nghiên cứu về hệ thống phân loại, đối với bậc phân loại cao hơn của Decapoda, hiện tại vẫn tồn tại hai quan điểm. Thứ nhất là quan điểm cho rằng Crustacea ở bậc taxon lớp (Class) nhƣ các nghiên cứu của Taylor (1982), Jose và 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cộng sự (2013) [61, 76]. Thứ hai là quan điểm về hệ thống học đã xếp Crustacea ở taxon phân ngành (Sub Phylum Crustacea) của ngành Chân khớp (Arthropoda) nhƣ các nghiên cứu của Thorp and Covich (1991), Martin và Davis (2001), Anyong và cộng sự (2011) [39, 65, 78].

Theo đánh giá của các nghiên cứu thì xu thế hiện nay là đƣa Crustacea ở mức phân ngành (Sub Phylum Crustacea) có xu hƣớng đƣợc sử dụng trong các nghiên cứu về phân loại học và hệ thống học nhiều hơn. Đối với hệ thống phân loại học dƣới bộ Decapoda, theo hệ thống phân loại trƣớc đây, Boas (1880) đã chia bộ Giáp xác mƣời chân (Decapoda) thành hai phân bộ (Suborder) Natantia (tôm) và Reptantia (cua). Hệ thống này đƣợc hầu hết các tác giả thừa nhận sau đó, chỉ thay đổi ít nhiều về các thành phần của nhóm Natantia. Năm 1963, Burkenroad chia lại bộ Giáp xác mƣời chân thành 2 phân bộ mới: Dendrobranchiata (= Penaeidea) và Pleocyemata là nhóm bao gồm các loài còn lại bộ Decapoda.

Pleocyemata đƣợc phân thành 2 thứ bộ (Infraorder) Natantia và Reptantia. Dựa trên các hệ thống cũ, Burkenroad (1981) phân chia lại bộ Giáp xác mƣời chân thành 4 phân bộ: Dendrobranchiata (= Penaeidea), Stenopodidea, Caridea và Reptantia. Cách phân chia khác là chia bộ Decapoda thành 3 phân bộ: Dendrobranchiata (= Penaeidea), Natantia (bao gồm các nhóm tôm khác ngoài Penaeidea) và Reptantia (Cua) [27]. Đến năm 2001, nghiên cứu của Martin và Davis đã đƣa ra cập nhật về phân loại học nhóm giáp xác dựa trên những phân loại học, hệ thống học trƣớc đó của các tác giả khác, đồng thời nghiên cứu xét đến vấn đề phân loại học dựa trên sinh học phân tử đã cho rằng bộ Giáp xác mƣời chân (Decapoda) đƣợc chia thành 2 phân bộ là Dendrobranchiata và Pleocyemata.

Nhƣ vậy, quan điểm của Martin và Davis (2001) trùng với quan điểm của Burkenroad (1963). Tuy nhiên, điểm khác là Pleocyemata đƣợc phân thành 7 thứ bộ (Infraorder) là Stenopodidea, Caridea, Astacidea, Thalassinidea, Palinura, Anomura, Brachyura [65]. Đến năm 2009, nghiên cứu của De Grave và cộng sự đã đƣa ra cập nhật về phân loại bộ Giáp xác mƣời chân (Decapoda), ƣớc tính bao gồm 14.756 loài còn sống và 2. Nghiên cứu này cũng căn cứ trên nghiên cứu của 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Martin và Davis (2001) nhƣng có bổ sung các loài mới đƣợc phát hiện và loài hóa thạch cũng nhƣ chi tiết hơn về phân loại.

Cụ thể, nghiên cứu này vẫn tuân thủ chia bộ Giáp xác mƣời chân (Decapoda) thành 2 phân bộ là Dendrobranchiata và Pleocyemata. Trong đó, phân bộ Pleocyemata có 10 thứ bộ (Infraorder) là Stenopodidea, Caridea, Astacidea, Glypheidea (một số loài hóa là hóa thạch), Axiidea, Gebiidea, Achelata, Polychelida (một số loài hóa là hóa thạch), Anomura, Brachyura [54]. Nhƣ vậy có thể thấy, các nghiên cứu về phân loại học, hệ thống học của bộ Giáp xác mƣời chân (Decapoda) vẫn chƣa thống nhất giữa các quan điểm khác nhau và vẫn tồn tại phƣơng pháp phân loại khác nhau. Nghiên cứu về địa động vật học, đặc tính phân bố thƣờng đƣợc áp dụng cho một khu vực cụ thể, có thể nhỏ nhƣ một con suối hoặc một khu vực rộng lớn hơn rất nhiều nhƣ vùng, vùng biển, châu lục và thƣờng đƣợc nghiên cứu đồng thời với đa dạng loài hay phân loại học.

Ví dụ, nghiên cứu của Sokolov (2006) tại khu vực biển Euro - Asiatic đã xác định tổng số 101 loài Giáp xác mƣời chân. Khu hệ Giáp xác mƣời chân tại đây bao gồm các loài cận nhiệt đới, ôn đới phía Bắc, hàn đới phía Bắc và các loài Bắc Cực. Tỷ lệ các loài Bắc cực trong khu hệ động vật Giáp xác mƣời chân tăng từ biển Na Uy đến biển Đông-Siberia. Cụ thể từ 9,7 đến 68,8% và sau đó giảm mạnh xuống 12,1% ở phần phía nam của Biển Chuc-chi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ