Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm và thuật ngữ liên quan 1. Nông nghiệp Đất nước ta đang phát triển, hiện nay tỷ trọng trong thu nhập quốc dân của chung ta đã có nhiều thay đổi, xong nông nghiệp vẫn là một trong những ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế nhằm cung cấp lương thực và các sản phẩm thiết yếu cho con người và xã hội. Là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp, không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật, bởi vì cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi.
Sản xuất nông nghiệp ở đây theo nghĩa rộng thì nó bao hàm các ngành Chăn nuôi, nông, Lâm; Thủy sản. ở một tỉnh miền núi phía bắc như Yên Bái thì để phát triển nông nghiệp cần phải có sự kết hợp giữa các lĩnh vực nông nghiệp để có sự tương trợ lẫn nhau và điều quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thoả đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng hơn. Hiện nay hầu hết các nước đang phát triển đến những nước còn khó khăn quan tâm đến ngành nông nghiệp và thu nhập từ nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực và an sinh xã hộ. Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm như Nhật, Mỹ,.
Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được. Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hộ gia đình, nông hộ và thu nhập của nông hộ Khái niệm hộ gia đình: Trong tiếng Việt, “hộ” là một danh từ được dùng để chỉ gia đình - được coi như một đơn vị xã hội trong các quan hệ với chính quyền, có liên quan đến tài sản, tư liệu lao động, nhân khẩu. Chính vì vậy mà người ta thường gộp chung hộ và gia đình.
Tiêu biểu là cách sử dụng thuật ngữ kép "hộ gia đình" trong khẩu ngữ. Tuy vậy, giữa hộ và gia đình có điểm phân biệt cụ thể: Gia đình là một nhóm người có quan hệ hôn nhân hoặc cùng huyết thống. Nó cũng là một loại hộ cơ bản và chứa đựng nhiều yếu tố để hình thành hộ. Song điều mà chúng ta chó ý là mối quan hệ giữa các thành viên của hộ không đơn thuần chỉ là huyết thống.
Trên thế giới và ở nước ta đã có nhiều quan niệm về hộ. Theo Liên Hợp quốc (UN), "Hộ là những người cùng chung sống một mái nhà cùng ăn chung và có chung ngân quỹ". Quan niệm này nhấn mạnh đến các tiêu thức: cơ sở kinh tế và sinh sống. Tiếp cận khái niệm hộ từ góc độ vai trò và đặc thù của hộ, tại Hội thảo quốc tế lần thứ 4 về quản lý nông trại (Hà Lan, 1980), nhiều đại biểu có đồng quan điểm: "Hộ là đơn vị kinh tế cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất tiêu dùng và các loại hoạt động xã hội khác".
Hộ trong nông nghiệp, nông thôn chủ yếu là hộ nông dân, gắn liền với canh tác nông nghiệp. Nhà khoa học Nga, AV.Traianôp (1889- 1939), cho rằng "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định", "Hộ nông dân là phương tiện tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển sản xuất nông nghiệp". Còn hai nhà khoa học Mats Lundahl và Thommy Svensson thì nhấn mạnh: "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất cơ bản"[3] Từ một số quan niệm tiêu biểu của các nhà khoa học nước ngoài, ta thấy họ cùng chung những quan điểm sau: Hộ là một đơn vị kinh tế - xã hội cơ bản, sự tồn tại của kinh tế hộ là một khách quan, nó có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội. 7 Các nhà khoa học nước ta cũng đã đưa ra nhiều quan niệm về hộ.
Có tác giả cho rằng: "Hộ là một nhóm người cùng huyết thống hay không cùng huyết thống, cùng chung sống hay không cùng chung trong một mái nhà. Họ có cùng nguồn thu nhập, cùng ăn chung, cùng tiến hành sản xuất chung" Một tác giả khác nhấn mạnh tới các tiêu thức: "Hộ nông dân là đơn vị kinh tế mà các thành viên của nó sống chung với nhau trong một mái nhà, liên hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống, có chung thu nhập, trong đó có thu nhập từ nông nghiệp do lao động sử dụng đất đai đem lại. Trong nền kinh tế hàng hóa, Hộ nông dân (HND) là một đơn vị kinh tế độc lập - tù chủ,. trong mọi loại hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp".
Có tác giả nhấn mạnh đến hoạt động kinh tế cho rằng, "HND là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường". Một tác giả khác xuất phát từ các tổng kết về mặt lịch sử cũng như thực tiễn, lại cho rằng: "Quan điểm coi HND là đơn vị sản xuất tự chủ là hoàn toàn đúng đắn về lý luận cũng như thực tiễn",. Để có nhận thức đầy đủ về hộ và kinh tế HND ở nước ta hiện nay, cần tìm hiểu những đặc điểm của kinh tế HND ở các nước kinh tế đang phát triển. Chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng, ngoại trừ một số nước phát triển, các HND ở khu vực các nước đang phát triển "có mức thu nhập thấp nhất so với các nhóm hộ khác trong xã hội".
Các HND là các nhà sản xuất nhỏ, quy mô ruộng đất của nhiều hộ chỉ cho phép sản xuất ra một lượng sản phẩm đủ nuôi sống các thành viên, tỷ trọng nông phẩm là hàng hóa còn thấp. Các HND có số thu lợi nhuận thấp, phần lớn sản phẩm của họ làm ra khi bán ra chỉ vừa đủ để trang trải chi phí sản xuất. Vì vậy mức độ tích lũy để mở rộng sản xuất hầu như không đáng kể. Các HND thường sản xuất độc canh trên diện tích sản xuất nhỏ, thời gian lao động của họ chưa được tận dụng tối đa, không có thu nhập thêm nếu không tạo ra được việc làm tại chỗ.
Cơ cấu kinh tế HND khá đa dạng theo nhiều nghề khác nhau. Tổ chức phân công lao động trong hộ có khả năng linh hoạt, vừa chuyên môn lại vừa 8 có khả năng theo hướng kinh doanh tổng hợp. Kinh tế HND có tính ổn định tương đối cao và có khả năng điều chỉnh linh hoạt phương hướng sản xuất theo mùa vụ, ngành nghề cho phù hợp với thời tiết và nhu cầu của xã hội. Mặt khác, tính khép kín chu trình sản xuất (từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ) lại cho phép HND có tính ổn định tương đối trước những diễn biến bất thường của mùa vụ hay thị trường.
Tính độc lập của kinh tế HND tương đối cao, quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ bé, vốn liếng hạn hẹp, trình độ sản xuất còn thấp cũng là những nhân tố khiến cho HND gặp nhiều khó khăn trong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ nên không có khả năng chuyển hướng sản xuất trước những tác động của thiên tai hay biến động của thị trường. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự PHGN của đối tượng HND mà ở các nhóm xã hội khác không có. Gắn với nông nghiệp và nông thôn, kinh tế HND còn mang trong nó nhiều đặc điểm kinh tế - xã hội, văn hóa của cộng đồng nông thôn được hình thành trong lịch sử. Với nhiều quốc gia, trong đó có nước ta, những đặc điểm này vừa mang lại những thuận lợi (chẳng hạn, làng nghề truyền thống, văn hóa truyền thống, những tục lệ tốt đẹp trong kinh doanh,.), và cũng gây ra không ít những trở ngại trên con đường phát triển kinh tế hộ (chẳng hạn, tính chất cô lập của phường hội, những hủ tục, quan niệm lạc hậu trong sản xuất,.
Khái niê ̣m sinh kế Hiện nay có rấ t nhiề u đinh ̣ nghiã khác nhau về sinh kế. Theo mô ̣t số tác giả, sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (gồm các nguồn lực vật chất và xã hội như: cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, mặt nước, đường xá, máy móc thiết bị phục vụ cho đời sống của người dân,…) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện để kiếm sống của con người (Scoones, 1998) [10]. Sinh kế của nông hộ là hoạt động kiếm sống của con người, được thể hiện qua hai lĩnh vực chin ́ h là nông nghiệp và phi nông nghiê ̣p. 9 Hoa ̣t đô ̣ng nông nghiê ̣p bao gồ m: Trồng trọt (Lúa, ngô, khoai, sắn, la ̣c, cây ăn quả, rau màu,…); chăn nuôi(Lợn, gà, trâu, bò, cá,…) và Lâm nghiệp ( Trồng cây keo, bạch đàn, mỡ, rừng,…) Hoa ̣t đô ̣ng phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yế u bao gồ m các dịch vụ, buôn bán và các ngành nghề khác.
Như vâ ̣y, trong pha ̣m vi báo cáo này, sinh kế của người dân nông thôn được hiểu là các hoa ̣t đô ̣ng sản xuất nông nghiê ̣p để nuôi số ng cho chính gia đình họ. Vì vâ ̣y, xây dựng kế hoa ̣ch chiế n lược cải thiê ̣n sinh kế chính là viê ̣c xây dựng các thí nghiệm trình diễn hiê ̣n trường để góp phầ n cải thiện sinh kế điạ phương. Qua đó góp phần phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Sự bền vững và khung sinh kế bề n vững Yếu tố được xem là bền vững khi mà nó có thể tiếp tục diễn ra trong tương lai, đối phó và phục hồi được sau các áp lực và sốc mà không làm huỷ hoại các nguồn lực tạo nên sự tồn tại của yếu tố này.
Các nguồn lực này có thể thuộc nguồn tự nhiên, xã hội, kinh tế hay thể chế. Điều này giải thích tại sao tính bền vững thường được phân tích theo 4 khía cạnh: Bền vững về kinh tế, về môi trường, về thể chế và xã hội [10]. Bền vững không có nghĩa là sẽ không có gì thay đổi, mà là có khả năng thích nghi theo thời gian. Tính bền vững là một trong những nguyên tắc cơ bản của phương pháp sinh kế bền vững.