CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về tinh dầu Chùa dù 1. Nguồn gốc nguyên liệu Tinh dầu Chùa dù được chiết xuất từ loài Elsholtzia penduliflora W. W Smith (đồng nghĩa: Aphanochilus penduliflorus (w.
Smith), thường được gọi là Chùa dù hay Kinh giới rủ, thuộc chi Elsholtzia Willd, họ Bạc hà Lamiaceae[10]. Chùa dù là cây cỏ mọc đứng, cao 100 - 200 cm. Mùa hoa từ tháng 9 - 11 và mùa quả từ tháng 11 - 12 [10]. Cây ưa sáng và ẩm, ở độ cao từ 1000 m trở lên, phân bố ở một số nước châu Á là Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam.
Ở Việt Nam, loài này có ở Lai Châu (Sìn Hồ, Tả Sử Chồ), Lào Cai (Sapa, Bát Xát), Hà Giang (Đồng Văn, Quản Bạ), Nghệ An (Kỳ Sơn) [10], [52],[57]. Thành phần tinh dầu Chùa dù 1. Tinh dầu Chùa dù Cho đến nay, các nghiên cứu về thành phần hoá học của Chùa dù còn khiêm tốn, chủ yếu là nghiên cứu về tinh dầu. Các công bố về thành phần hóa học cho thấy, Chùa dù có chứa tinh dầu, flavonoid, phenolic, sterol, triterpenoid và một số hợp chất khác [3].
Theo các nghiên cứu của tác giả trên thế giới cho thấy, trong tinh dầu Chùa dù ở Trung Quốc có khoảng hơn 40 hợp chất được xác định, trong đó chủ yếu là các hợp chất: 1,8-cineol (71,71%), P-pinen (7,3%), a-pinen (3,9%), sabinen (2,8%), limonen (2,4%), linalol, thymol, camphen, y-terpinen, 4-phenylbuten-1, myrcen, naphthalen, elemen, trans-caryophyllen, humulen, B-cubeben, B-dehydro elsholizion, a-terpineol, carvacrol, 1-octen-3-ol, benzaldehyd. Tại Việt Nam, công ty CP SapaNapro đã công bố tinh dầu dầu Chùa dù thu hái tại xã Tả Phìn, Sa Pa, Lào Cai có 23 hợp chất khác nhau trong tinh dầu Chùa dù, trong đó các thành phần chính bao gồm 1,8-cineol với hàm lượng 63,80%, Cymene 5,49%, Terpinene(g-) 3,98%, Sabinene 2,76%, Thujene 2,66%, Myrcene 1,73%, Terpinene (a- ) 1,53% và nhiều thành phần có hàm lượng dưới 1% (trong phụ lục 1 đính kèm). 1,8-cineol Trong tinh dầu Chùa dù, 1,8-cineol là thành phần chính và có hàm lượng cao nhất [51], [56]. 1,8-Cineol, còn được gọi là Eucalyptol, là một hợp chất hữu cơ tự nhiên thường được tìm thấy trong nhiều loại tinh dầu, bao gồm[28], [37], [53]: + Tinh dầu tràm gió (Melaleuca cajuputi).
+ Tinh dầu bạch đàn (Eucalyptus globulus). + Tinh dầu sả chanh (Cymbopogon citratus). + Tinh dầu hương thảo (Rosmarinus officinalis). + Tinh dầu húng quế (Ocimum basilicum).
2 Với nhiều đặc tính: kháng khuẩn, kháng viêm, chống oxy hóa, long đờm,…Nổi trội nhất là đặc tính chống viêm theo những cơ chế [28], [37], [53]: + Ức chế các chất trung gian gây viêm: Cineol có thể ức chế sự sản xuất và hoạt động của các chất trung gian gây viêm như prostaglandin và leukotriene. + Giảm hoạt động của các tế bào miễn dịch: Cineol có thể ức chế hoạt động của các tế bào miễn dịch gây viêm như đại thực bào và tế bào mast. + Tăng cường sản xuất các chất chống viêm: Cineol có thể kích thích sản xuất các chất chống viêm như interleukin-10. Công dụng tinh dầu Chùa dù 1.
Theo y học cổ truyền - Tính vị và công năng: Chùa dù có vị cay đắng, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng như phong tán hàn, giải nhiệt, chỉ thống. - Công dụng trong y học cổ truyền: Theo tài liệu thu thập được, Chùa dù được tìm thấy ở một vài nước châu Á là Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam [10], [51], [52]. Loài này được sử dụng với nhiều công dụng khác nhau, tuy nhiên chủ yếu được dùng để chữa cảm cúm và các chứng viêm. Toàn bộ cây thường được sử dụng để tán phong, tán hàn, thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, giảm đau, giảm ho.
Chùa dù kết hợp với các loại thuốc thảo mộc khác có tác dụng chống viêm đặc biệt tốt [56]. Ngoài ra, Chùa dù còn được dùng làm thuốc điều trị bệnh đường hô hấp, chống vi khuẩn, virus, bệnh than, nhiễm trùng vết thương, viêm họng, viêm amidan, viêm màng não chứa dịch, sốt rét và dùng trong các trường hợp dự phòng và điều trị cúm, viêm nhiễm, viêm phổi, viêm vú, viêm phế quản [55]. Y học cổ truyền Trung Quốc sử dụng loài Chùa dù trong các bài thuốc chữa cúm, cảm mạo, trị các vết thương bị nhiễm trùng, chữa các bệnh viêm màng não, viêm họng, viêm amidan, viêm phổi, viêm phế quản, sốt rét. Ngoài ra, Chùa dù ở Trung Quốc còn dùng trị bệnh nhiệt thán và ngoại thương cảm nhiễm.
Liều dùng 12-15g, dạng thuốc sắc, dùng ngoài giã cây tươi đắp, bôi [18], [2], [47], [3]. Ở Việt Nam, dược liệu Chùa dù được dùng để chữa cảm cúm, sốt, ho, tiểu tiện khó do bị viêm, tiểu tiện ra máu. Ngày dùng 10 - 15 g cây khô, dùng dưới dạng thuốc sắc hay hãm. Cây tươi để xông chữa cảm cúm, hoặc dùng cây tươi giã nát, đắp hay xoa bóp chỗ đau khi trẻ em họ hay sốt.
Tinh dầu của loài này dùng uống hay xoa bóp, có thể được dùng thay thế tinh dầu khuynh diệp và tinh dầu tràm trong một số công thức dầu xoa, cao xoa. Tinh dầu Chùa dù còn có tác dụng điều trị các chứng đau và tiêu chảy, hoặc dùng pha loãng rồi xoa bóp chữa tê thấp, đau mình mẩy. Rễ Chùa dù được dùng để trị sốt rét, mỗi ngày dùng 8 - 10 g dưới dạng thuốc sắc [2], [3]. Ngoài ra, Chùa dù còn được người Dao đỏ ở Sapa, Lào Cai sử dụng làm một trong các thành phần của bài thuốc tắm, có tác dụng phục hồi sức khỏe cho phụ nữ sau khi sinh, người mới ốm dậy, cơ thể và sức đề kháng còn yếu, người lao động vất vả trong thời gian dài [5].
Theo y học hiện đại Hiện nay, có rất ít công trình nghiên cứu về tác dụng sinh học của loài Chùa dù đã được công bố. Năm 2010, Zhang và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu khả năng ức chế virus gây bệnh Newcastle của tinh dầu Chùa dù trên phôi gà nuôi cấy SPF. Kết quả cho thấy, tinh dầu của loài này không gây tác dụng phụ đối với phôi gà SPF và có tác dụng ức chế hoàn toàn sự sinh sản của virus gây bệnh Newcastle trong phôi gà SPF [50]. Năm 2022, Tiến sĩ Hoàng Thị Diệu Hương công bố về tác dụng chông viêm của tinh dầu Chùa dù trong Tài luận Tiến sĩ tại Viện Dược Liệu[8].
Sản xuất tinh dầu Chùa dù Chùa dù được trồng chủ yếu ở các xã Tả Phìn và Ngũ Chỉ Sơn của thị xã Sa Pa với tổng diện tích trồng khoảng 50 ha. Cây có đặc tính dễ trồng, không cần nhiều công chăm sóc, có thể trồng trên đất dốc, khả năng chịu lạnh tốt, sau 10 đến 12 tháng trồng cho thu hoạch, sau đó chặt sát gốc, cây sẽ mọc lại. Đất đai ở đây cũng phù hợp, cây trồng 1 lần nhưng có thể thu hoạch từ 7 đến 8 năm nên chi phí đầu tư không nhiều. 1 ha trồng cây chùa dù thu được trên 13 tấn nguyên liệu, giá bán trung bình 4.000 đồng/cây tươi thu về khoảng 52 triệu/ha.
Trong đó, một lượng nhỏ chùa dù (10-15%) được đưa vào nấu thuốc tắm lá tươi, phục vụ khách du lịch tại chỗ của các đơn vị. Lượng dược liệu tươi còn lại được đem đi chiết xuất tinh dầu. Tinh dầu Chùa dù sau khi chiết xuất và tinh chế sẽ được sử dụng để pha chế một số sản phẩm chứa tinh dầu (cao tắm, tinh dầu treo xe,…) hoặc đóng chai/can. Các sản phẩm sau đó được phân phối theo nhiều kênh thị trường khác nhau, bao gồm cả xuất khẩu (tuy nhiên kênh thị trường này chưa bền vững).
Giá bán tinh dầu hiện tại do công ty SapaNapro cung cấp: 150.000VNĐ/lọ 10ml, 2,5 triệuVNĐ/1L. Dưới đây là chuỗi giá trị Chùa dù trong hình 1. Chuỗi giá trị của Chùa dù tại Lào Cai Chuỗi giá trị của Chùa dù tại Lào Cai được hình thành dựa trên sự gắn kết giữa các nhóm tác nhân: người trồng, các cơ sở chế biến, sản xuất, và các đại lý phân phối, bán hàng. Tất cả các hoạt động sản xuất sơ cấp và thứ cấp diễn ra trên địa bàn tỉnh Lào Cai, tuy nhiên có ít sản phẩm đầu ra và giá trị gia tăng chưa cao.
Giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị có mối quy tắc ràng buộc khá bền vững thông qua hợp đồng hoặc có ghi chép tài chính minh bạch, trong đó hai đơn vị là HTX Dao và Công ty CP SapaNapro có vai trò trung tâm trong chuỗi giá trị. Ngoài ra, còn có sự hiện diện của các tác nhân có chức năng hỗ trợ, cung cấp các hàng hóa đầu vào, dịch vụ khoa học công nghệ, thông tin thị trường và tổ chức sản xuất như: các cơ quan xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, hệ thống chương trình OCOP, hệ thống ngân hàng thương mại, hệ thống cơ quan quản lý và dịch vụ nông nghiệp, các tổ chức khoa học công nghệ và tổ chức phi chính phủ. Một số sản phẩm từ cây Chùa dù Cây Chùa dù được dùng làm thuốc chữa cảm cúm, sốt, ho, tiểu tiện khó do bị viêm, tiểu tiện ra máu thường được bán ra dưới dạng cây khô, sử dụng cho việc sắc hoặc hãm. Với sản phẩm là cây tươi để xông chữa cảm cúm, hoặc dùng cây tươi giã nát đắp hay xoa bóp chỗ đau khi trẻ em ho hay sốt.
Còn rễ được bán ra để sử dụng trong việc chữa sốt rét. Phổ biến nhất hiện nay là dạng tinh dầu sau khi đã được chưng cất, sử dụng trong việc đốt, xông để làm căng thẳng, lo âu hoặc dùng massage /tắm trị viêm khớp, thấp khớp, chữa buồn nôn, cảm lạnh và cảm cúm, hết đau nhức cơ bắp, hỗ trợ máu lưu thông và tiêu hóa kém. Ngoài ra, Chùa dù cũng là thành phần chính trong bài thuốc lá tắm người Dao. Một số sản phẩm có chứa tinh dầu Chùa dù 1.
Tổng quan về viêm 1. Khái niệm Viêm là một quá trình quan trọng trong hệ miễn dịch của cơ thể, nhằm loại bỏ hoặc sửa chữa các mô bị tổn thương và vô hiệu hóa tác nhân có hại, sau đó khôi phục 5 lại cân bằng nội môi. Viêm không phải là một bệnh cụ thể mà là một quá trình bệnh lý chung, rất phổ biến và gặp ở nhiều bệnh khác nhau. Viêm vừa là một phản ứng bảo vệ cơ thể chống lại yếu tố gây bệnh, vừa là phản ứng bệnh lý, khi đáp ứng viêm không phù hợp hoặc có sự gia tăng quá mức, viêm sẽ trở thành có hại cho cơ thể như đau đớn, tổn thương mô lành, rối loạn các chức năng cơ quan.
ở mức độ rất nặng nề, nguy hiểm [21], [50]. Trong phản ứng viêm, các hợp chất trung gian hóa học gây viêm được giải phóng và gây ra các triệu chứng lâm sàng điển hình như sưng, nóng, đỏ và đau [46].