PHẦN MỞ ĐẦU Tên đề tài: “Tổng hợp chất hoạt động bề mặt sucrose ester của các acid béo C8, C10, C12 và của dầu dừa”. Chủ nhiệm đề tài: TS. Phan Thanh Thảo Cơ quan chủ trì: Viện Công Nghệ Hóa Học Thời gian thực hiện: 12/2010 – 12/2012 Kinh phí được duyệt: 3 00. Kinh phí cấp đợt 1: 200.000 đồng theo TB số 127 TB-SKHCN ngày 21/ 12/ 2010 Kính phí cấp đợt 2: 70.000 đồng Báo cáo giám định: 06/2012 Mục tiêu : - Tổng hợp sucrose ester từ các acid béo C 8, C10, C12, dầu dừa.
- Đưa ra quy trình sản xuất sucrose ester tại Việt Nam và thử nghiệm trên thiết bị phản ứng pilot dung tích 2kg/mẻ với nguồn nguyên liệu đầu vào là dầu dừa. Nội dung: - Tổng hợp Methyl ester với độ sạch 99%. - Tổng hợp sucrose ester có mức độ ester hóa khác nhau: - Xác định độ tinh sạch của mẫu sản phẩm sucrose ester - Xây dựng quy trình thích hợp điều chế sucrose ester tại Việt Nam với năng suất 2kg/mẻ. TỔNG QUAN SUCROSE ESTER 1.1 Giới thiệu về Sucrose ester Sucrose ester là những hợp chất có thể tìm thấy trong tự nhiên khi phân tích lá cây thuộc họ Nicotiana Cavicola.
Tuy nhiên, hàm lượng các sucrose ester trong lá cây này không nhiều và không đáp ứng được nhu cầu thị trường. Sucrose ester được thương mại hóa bằng con đường tổng hợp hóa học. Theo đó, sucrose ester là những chất không độc hại được sản xuất từ nguồn nguyên liệu tái sinh, rẻ tiền và sẵn có trong nguồn tự nhiên. Những nhóm chức rượu của phân tử sucrose sẽ tác dụng với những nhóm chức acid béo hay acid của vòng thơm đ ể tạo ra sucrose ester.
Không như những chất hoạt động bề mặt khác, sucrose ester có khả năng phân hủy sinh học hoàn toàn cả trong điều kiện hiếu khí hoặc kỵ khí. Chúng thân thiện với môi trường, không độc hại, không gây dị ứng da, không mùi và không vị. Sucrose ester là những chất nhũ hóa rất tốt, và đồng thời cũng là những chấy tẩy rửa tốt, cả khi sử dụng một mình hay kết hợp với những chất hoạt động bề mặt anionic khác và có thể tổng hợp thành những sản phẩm tẩy rửa tạo bọt ít hoặc nhiều. Vì vậy, chúng được sử dụng rộng rãi trong các sản phẩm tẩy rửa công nghiệp hay trong gia đình, hoặc trong một số ứng dụng đặc biệt khác như phụ gia trong thực phẩm, thức ăn gia súc, mỹ phẩm, dược phẩm và các hóa chất nông nghiệp.
Việc sản xuất sucrose ester thì gặp nhiều khó khăn do phân tử sucrose không bền với nhiệt độ cao, và vì những nhóm chức cao của nó (8 nhóm hydroxyl), tính chọn lọc của phản ứng ester hóa từng phần rất khó đạt được. Những cách tổng hợp sucrose ester bao gồm ester hóa trực tiếp với acid béo hay thực hiện phản ứng chuyển đổi ester với một ester mạch thấp hơn và tạo thành những hỗn hợp sản phẩm phức tạp điển hình bao gồm mono, di, tri, tetra, penta ester. Những sản phẩm ester bậc cao khá kỵ nước và ít được sử dụng, trừ một số nhu cầu nhũ hóa đặc biệt. Lịch sử phát triển [23, 36, 39, 45, 49] Là những sản phẩm đ ược sản xuất từ nguyên liệu tái sinh – những nguồn nguyên liệu có nguồn gốc từ nông nghiệp hoặc tái sinh, dễ tìm kiếm, dồi dào, không đắt tiền, có nguồn gốc từ tự nhiên.
2 Gốc acid béo Gốc hydroxyl Hình 1.1 Công thức cấu tạo của sucrose ester Về phươn g diện lịch sử, một nghiên cứu thực hiện bởi Sugar Research Foundation đã đẩy mạnh công cuộc nghiên cứu sucrose ester, tạo ra những sản phẩm ưa nước hơn (nhiều mono và di -ester trong hỗn hợp sản phẩm hơn). Những chất này được đưa ra thị trường lần đầu tiên vào từ cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960 bởi Dai Nippon Manufacturing (hiện nay là công ty thực phẩm Mitsubishi – Kagaku) cho ngành công nghiệp thực phẩm dựa vào quy trình chuyển đổi ester trong dung môi như dimethylformamide (DMF) hay dimethyl sulfoxide (DMSO) với xúc tác kiềm như kali carbonate, đánh dấu sự ra đời của ester giữa sucrose và acid béo, thay thế cho chất HĐBM truyền thống. Tuy nhiên, ở giai đoạn này sucrose ester chưa được sử dụng phổ biến và rộng rãi. Amer đã đề ra quy trình chuyển đổi ester không sử dụng dung môi.
Tuy nhiên, nhiệt độ phản ứng phải được thực hiện ở nhiệt độ 170 0C – 1900C. Theo quy trình này hiệu suất phản ứng rất thấp vì sau một thời gian ngắn, sucrose bị nóng chảy và biến tính.Feuge và những đồng sự của ông đã đưa ra quy trình chuyển đổi ester giữa methyl ester của acid béo và sucrose sử dụng dung môi là nước, xúc tác dạng base. Nhưng quy trình này có nhược điểm như sau: nước có mặt trong phản ứng gây cản trở cho quá trình tiế p xúc pha giữa methyl ester và sucrose, đồng thời hiệu suất phản ứng kém và khó chiết tách. Năm 1977, công ty Sucrosechemistry đã sản xuất thương mại sản phẩm sucrose ester từ dầu palm theo phương pháp chuyển đổi ester sử dụng dung môi DMSO, DMF và sản phẩm được đăng ký bản quyền với tên thương mại CELINOLS.
và Klibanov đã khám phá ra phản ứng enzyme đầu tiên dùng để tổng hợp sucrose ester. Tuy nhiên, phản ứng này diễn ra trong dung môi hữu cơ độc hại (như pyridine) nên hạn chế ứng dụng t rong công nghiệp thực phẩm. Mijac và Timothy B. Guffey dưới sự bảo trợ của tậ p đoàn P&G đã khám phá ra một công thức dùng trong các loại bánh ngọt, bánh mì để làm tăng độ mềm và dai của bánh.
Công thức này sử dụng thay thế các chất béo t hông thường bằng hỗn hợp của sucrose ester có tối thiểu bốn nhóm ester hóa và một số thành phần chất béo khác. Năm 1994, Marshall & Bullerman đã nghiên cứu tính kháng khuẩn của các sản phẩm thuộc họ sucrose ester và ứng dụng thành công trong công nghiệp bả o quản thực phẩm.Corrigan đã phát triển các quy trình điều chế sucrose ester sử dụng chất phân tán thay thế dung môi, đây là một bước tiến trong quy trình điều chế sucrose ester đáp ứng được yêu cầu hoá học xanh, góp phần làm giảm ô nh iễm môi trường và hiệu ứng nhà kính. Năm 1999, Desai Natvarlal và Gruning Burghard khám phá ra cách tăng hiệu suất tổng hợp sucrose ester không sử dụng dung môi dựa trên hai bước: sau khi sucrose và methyl ester sẽ phản ứng dưới sự hiện diện của xúc tác ki ềm ở nhiệt độ cao và áp suất thấp, hỗn hợp phản ứng sẽ được bổ sung thêm một ít sucrose. Hiệu suất của phản ứng này cao, sản phẩm không chứa alkyl ester chưa phản ứng và có thể được ứng dụng trong ngành thực phẩm, mỹ phẩm.
Cũng trong năm 1999, Roden Allan và các đồng sự đã phát triển quy trình sản xuất bơ lỏng có calori thấp để tạo ra bơ không béo bằng cách sử dụng sucrose ester thay thế các chất béo thường dùng trong bơ. Cùng năm 1999, Wanatabe đã sản xuất các sản phẩm sucrose ester từ acid béo, sử dụng trong thực phẩm, mỹ phẩm, chất tẩy rửa và sản xuất dược liệu,… với sản lượng 4000 tấn/năm. 4 Năm 2001, Palat và Linhard, và năm 2002 Poul cùng các cộng sự của mình, đã tập trung nghiên cứu ứng dụng xúc tác sinh học trong điều chế sucrose ester: sử dụng enzyme chọn lọc họ lipases hoặc proteases. Năm 2003, Puterke và các thành viên trong Viện nghiên cứu dịch vụ Nông nghiệp Mỹ (ARS- Agricultural Research Service) đã từng bước nghiên cứu ứng dụng sucrose ester trong lĩnh vực sản xuất thuốc trừ sâu.
Đến năm 2005, A RS đã thương mại hóa sản phẩm thuốc trừ sâu ứng dụng trong lĩnh vực trồng hoa và nông sản, cây ăn quả từ sucrose octanoate. Cũng trong năm 2005, tập đoàn P&G – chi nhánh ở Trung Quốc, đã bắt đầu nghiên cứu thị trường và thay đổi một số thành phần trong sả n phẩm mỹ phẩm để đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn đối với da ngày càng cao, một trong những sự thay đổi đó là sử dụng sucrose ester làm chất hoạt động bề mặt của sản phẩm do không gây kích ứng da. Vào năm 2008, Paris Villalta, Fernandez Garcia và các đồn g nghiệp đã phát triển một loại sản phẩm có tính chất màng mỏng bao phủ bên ngoài các sản phẩm với mục đích bảo vệ thực phẩm dù sử dụng riêng rẽ hay kết hợp với các chất bảo quản khác. Hợp chất này được phát triển dựa trên sucrose ester của các acid palmit ic, dodecanoic, stearic và đã được dùng nhiều trong ngành thực phẩm mà đặc biệt là các sản phẩm phô mát.
Cũng trong năm 2008, Maja Habulin và các đồng sự đã thực hiện phản ứng enzyme để tổng hợp sucrose ester trong dung môi hữu cơ như 2 – methyl – 2 – butanol ở áp suất khí quyển và trong điều kiện carbon siêu tới hạn (SC CO 2) ở 10Mpa. Phản ứng này cho hiệu suất cao.3 Tình hình sản xuất và n hu cầu sử dụng trên thế giới Từ khi Dai Nippon Sugar Mfg. Co (một thành viên của Ryoto Co.) xây dựng nhà máy thương mại đầu tiên vào năm 1967 với năng suất là 1200 tấn/năm, nhu cầu sử dụng sucrose ester đã tăng từ 15 – 20% mỗi năm và đạt tổng lượng 1000 tấn/năm tại thị trường Nhật Bản, Châu Âu và Mỹ. Để đáp ứng nhu cầu được tiên đoán là sẽ tăng trưởng rất mạnh, Ryoto đã hoàn tất việc xây dựng nhà máy với năng suất 3000 tấn/ năm vào cuối năm 1974.
5 Các sucrose ester được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) cho phép sử dụng từ năm 1983 gồm có các loại ester saccharose, ester sorbitan và các alkylpolyglycoside: Ester saccharose (ester sucrose) Alkyl polyglucoside Sorbitan monoester Ở Trung Quốc hiện nay, hàng năm có khoảng 3000 tấn sucrose ester được sản xuất ra trong khi nhu cầu trong nước đã vượt quá sản lượng đó rất xa. Hơn thế nữa, ngày càng có nhiều ứng dụng mới của sucrose ester được khám phá ra và trở thành tâm điểm của những nghiên cứu. Vì vậy, tình hình cung cấp bắt đầu trở nên khó khăn hơn. Sucrose ester của acid béo đã trở thành đề tài cho nhiều nghiên cứu chuyên sâu trong nhiều thập kỷ qua, vì chúng đư ợc chuẩn bị từ những nguồn nguyên liệu có thể tái sinh và có sẵn như đường hay chất béo.
Cả hai loại chất này đều được biết đến như những chất có giá trị, ôn hòa, có thể hấp thụ vào cơ thể, có tính phụ gia phân hủy sinh học nên sucrose ester được dùng chủ yếu trong thực phẩm, mỹ phẩm và còn được sử dụng ngoài da để thay đổi hay tăng cường vẻ đẹp của da, móng, môi, tóc và mắt.