phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án có kết cấu gồm 3 chƣơng 9 tiết. 6 Chƣơng 1 VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ PHÁP MÔN NIỆM PHẬT TAM MUỘI VÀ KINH HOA NGHIÊM 1. PHÁP MÔN NIỆM PHẬT TAM MUỘI 1. Quan niệm của Phật giáo Đại thừa về Tịnh Độ Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn của thế giới và có một quá trình lịch sử phát triển lâu dài: thời kỳ Phật giáo nguyên thủy, thời kỳ phân chia phái bộ thành Thƣợng tọa bộ và Đại chúng bộ, tiếp đến là sự phân chia thành Tiểu thừa và Đại thừa.
Theo biểu tƣợng giản đơn thì quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo đƣợc ví nhƣ cây, gốc của nó là Phật giáo nguyên thủy, thân của nó là Tiểu thừa và phần ngọn là Đại thừa. Đại thừa (Mahayana) là cỗ xe lớn không chỉ giản đơn đƣợc dùng làm phƣơng tiện vận tải, mà còn đƣợc dùng để chỉ giáo pháp khiến ngƣời tu đƣợc mở mang Nhất thiết trí. Trong Phẩm Thí dụ, Kinh Pháp Hoa viết rằng: “Nếu có chúng sinh nào theo đức Phật Thế tôn, nghe pháp tín thụ siêng tu tinh tiến, cầu Nhất thiết trí, Phật trí, Vô sƣ trí, cầu Tri kiến, Lực, Vô sở úy của Nhƣ lai, xót thƣơng làm cho vô lƣợng chúng sinh đƣợc an lạc, làm lợi ihcs cho Trời, Ngƣời, độ thoát hết thảy thì đó gọi là MaHaTat”. Nhƣ vậy, Đại thừa hiểu một cách giản đơn, trong sự đối lập với Tiểu thừa, là cỗ xe lớn chở đƣợc nhiều ngƣời đến đích giải thoát.
Khái niệm Đại thừa còn đƣợc dùng để chỉ giáo pháp (Đại thừa giáo), tức pháp môn tu hành viên mãn lục độ để thành Phật; dƣới tên gọi Đại thừa tông dùng để chỉ tông phái, theo đó những tông cầu chứng ngộ thành La Hán thì gọi là Tiểu thừa tông, những tông cầu thành Phật (Bồ Tát) gọi là Đại thừa tông. Trong lời giới thiệu bộ sách của Kimura Taiken “Nguyên Thủy, Tiểu Thừa, Đại Thừa Phật giáo tƣ tƣởng luận”, dịch giả Hòa thƣợng Thích Quảng Độ viết rằng: “Phật pháp chỉ có một vị, đó là vị giải thoát. Nhƣng phƣơng 7 pháp để đạt đến giải thoát thì có rất nhiều, và phƣơng pháp nào – dù là Đại Thừa hay Tiểu Thừa cũng đều nhằm đạt đến mục đích nhất vị kể trên” [7, tr. Khác với các phái Tiểu Thừa, đặc trƣng căn bản nhất của đạo Bồ Tát là sự nghiệp giải thoát cho bản thân và cho ngƣời khác (tự lợi, lợi tha).
Đúng nhƣ nhận định của Kimura Taiken: “…nếu tự mình muốn đạt đến lý tƣởng giới thì tất phải đƣa ngƣời khác cũng đạt nhƣ mình; và đƣa ngƣời khác đạt đến lý tƣởng giới tức là chính mình đạt đến vậy. Đƣơng nhiên, nói một cách thực tế, trƣớc phải tự cứu mình rồi sau mới cứu ngƣời đƣợc, đó là lẽ thƣờng, thế nhƣng đứng về mặt thệ nguyện mà nói, thì thay vì, vì mình, trƣớc hết phải vì ngƣời: đó là tâm từ bi và hạnh từ bi của Bồ Tát” [7, tr. Điều này làm chúng ta liên tƣởng đến tƣ tƣởng trung thứ đƣợc trình bày trong cuốn Luận ngữ của Khổng Tử (551-479 TCN), cho rằng “điều mình muốn thành đạt thì cũng nên giúp ngƣời khác thành đạt”. Tuy nhiên, quan điểm của Khổng Tử chỉ dùng lại ở chỗ “nên giúp ngƣời khác thành đạt” mà chƣa nói rõ đƣợc bằng cách nào, mức độ nào, trong khi đó đạo Bồ Tát cho rằng, mỗi cá nhân trên con đƣờng hoàn thiện bản thân, nếu chỉ hoàn thành cái nhỏ nhoi của riêng mình mà không hoàn thành cho kẻ khác thì sự hoàn thành đó chƣa thể gọi là trọn vẹn.
Vì vậy, một tiêu ngữ rất nổi tiếng của đạo Bồ Tát xuất phát từ điều kiện tiên quyết để thực hiện lý tƣởng giải thoát mang tính tối hậu là phải cùng với tất cả chúng sinh cùng tiến tới giải thoát khỏi mọi phiền muộn, khổ đau, đó là: “Thƣợng cầu Bồ Đề, hạ hóa chúng sinh” (Trên cầu đạo giác ngộ, dƣới hóa độ chúng sinh). Theo Kimura Taiken, “Đạo Bồ Tát nếu muốn thực hiện lý tƣởng tối cao, tất phải cùng với chúng sinh cùng tiến, cho nên ở đây tất nhiên cần phải nói đến Tịnh Độ, hoặc Phật Độ, tức là lý tƣởng đó đã trở thành xã hội hóa” [7, tr. Vậy Tịnh Độ là gì? 8 Tịnh độ (Buddha ksetra) nguyên chữ phạn là Phật độ, cõi Phật, cõi thanh tịnh. Trong truyền thống Đại thừa, ngƣời ta hiểu mỗi cõi Tịnh Độ thuộc về một vị Phật, và do có vô số chƣ Phật nên cũng có vô số Tịnh Độ.
Tịnh Độ đƣợc nhắc đến nhiều nhất là cõi Cực Lạc (Sukha-Vati) của Phật ADiĐà (Amitàbha) nơi Tây phƣơng cự lạc. Tịnh Độ phía Đông là cõi Phật Dƣợc sƣ (Bhaisajyaguru-Buddha), có khi cõi đó gọi là Diệu hỷ quốc (Abhirati) của Phật Bất Động (Aksobhya), phía Nam là cõi Phật Bảo Sinh (Ratna- sambhava), phía Bắc là cõi Phật Cổ Âm (Đunubhi svara) Đức Phật tƣơng lai DiLặc (Maitreya) là vị đang giáo háo ở cõi trời Đâu Suất (Tusita) sẽ tạo một Tịnh Độ mới. Tịnh Độ đƣợc xem là “hóa thân” của thế giới là cõi xứ mà ở đó ngƣời tu hành muốn đạt tới. Muốn đạt đƣợc cõi này hành giả không phải chỉ trau dồi thiện nghiệp, mà còn phải nguyện cầu các Đức Phật của các cõi đó để đƣợc cứu độ.
Trong nhân gian, ngƣời ta thƣờng hiểu Tịnh Độ là một nơi, có vị trí địa lý nhất định, nhƣng thật ra Tịnh Độ là một dạng của tâm thức giác ngộ không bị nhiễm ô và các phƣơng hƣớng Đông – Tây – Nam – Bắc chỉ có tính chất hình tƣợng. Tịnh Độ không phải là mục đích cuối cùng trên con đƣờng tu tập – chỉ là nơi đƣợc xem là cõi cuối cùng mà hành giả phải đạt tới tái sinh để sau đó đạt tới đích giải thoát viên mãn là cõi Niết bàn. Đúng thế, cảnh giới Tịnh Độ không phải ở một nơi nào đó xa xôi mà ở tại trong tâm thức của mỗi chúng sinh. Nếu nhƣ chúng sinh xa lìa đƣợc vô minh phiền não, sáng suốt giác ngộ chân lý, và sống đúng chân lý thì chúng sinh mang tâm Phật, mà tâm Phật ở đâu thì quốc độ nơi đó tự trang nghiêm thanh tịnh.
Kimura Taiken còn chia Tịnh Độ quan của Phật giáo thành ba loại, gồm Quán Chiếu Tịnh Độ; Tha phƣơng Tịnh Độ và Tịnh Độ trong tƣơng lai ở ngay cõi này. 9 Quán Chiếu Tịnh Độ là một phƣơng pháp dựa vào tâm thanh tịnh mà cải tạo hiện thực thành một loại Tịnh Độ. Theo Kimura Taiken, “nếu lấy dục làm tiêu chuẩn thì thế gian này là một cảnh giới bất mãn thƣờng xuyên, là một vũ đài của khổ não. Trái lại, nếu bỏ đƣợc lòng dục, dựa vào tâm thanh tịnh mà cải tạo thế giới, thì trong đó sẽ mở ra một thế giới khác, nếu có thể thì đó là sự triển khai một thế giới tốt đẹp.
Trong Tịnh Độ quan của Phật giáo, cách tƣởng tƣợng đó gọi là Quán Chiếu Tịnh Độ” [7, tr. Khi đề cập đến Tha phƣơng Tịnh Độ là ý muốn nói đến một điều là ngoài thế giới của cái đẹp đƣợc tâm thanh tịnh triển khai về mặt nghệ thuật, “chúng ta còn phải sống trong thế giới đạo đức, thế giới lợi hại, cho nên không thể nói tất cả đều cùng một duộc – có ngƣời lƣơng thiện, cũng có những kẻ sát nhân và trộm cƣớp, tất cả đều sống trong thế giới hiện thực… Đứng về mặt toàn thể mà nói, nếu chỉ có Quán Chiếu Tịnh Độ thì chƣa đủ; theo điểm này, đem quan niệm lợi hại đối chiếu với những sự xuất hiện xƣa nay thì quyết không phải ở thế giới này mà muốn sản sinh một loại thế giới hoàn toàn viên mãn sau khi chết: tức là lý tƣởng Tha Phƣơng Tịnh Độ” [7, tr. Hai Tịnh Độ quan nêu trên đều khẳng định ngƣời nào nhất tâm tín niệm Phật ADiĐà đều có thể cảm ứng đƣợc Cực Lạc Tĩnh Độ. Tuy nhiên, sự nhất tâm niệm Phật ADiĐà để đƣợc đến với Cực Lạc Tĩnh Độ mà “bỏ rơi” thế giới thực tại bởi quan niệm cho thế giới này là nhơ nhớp là điều bất cập.
Chính vì vậy, đối với thế giới bên này, tại sao chúng ta không nỗ lực thƣờng xuyên cải tạo nó, thanh tịnh hóa nó, biến nó thành một nơi sạch sẽ trang nghiêm, hay nói cách khác, làm cho nó trở thành Tịnh Độ Tƣơng Lai trên cõi này? Ngƣời ta gọi loại Tịnh Độ này là Di Lặc Tịnh Độ. Kimura Taiken cho rằng, “nếu ngƣời đã chí nguyện kiến thiết Tịnh Độ Di Lặc thì cái thời gian luân hồi sinh tử vô cùng tự nó đã là giải thoát rồi, bởi thế nếu đi tìm cầu giải thoát sinh tử ở bên 10 ngoài thì không thể có đƣợc. Chúng ta do tạo nghiệp mà phải lƣu chuyển trong dòng sinh tử tuy đó là khổ, nhƣng chúng ta đã tự nguyện lăn lộn trong dòng sinh tử vô hạn để kiến thiết Tịnh Độ Di Lặc thì sinh tử tự nó biến thành hoạt dụng của đạo Bồ Tát” [7, tr. 554] Tuy nhiên, để đạt tới cảnh giới của các loại Tịnh Độ, ngƣời tu hành phải dùng phƣơng pháp nào? Trong các kinh Phật chúng ta thƣờng gặp luận điểm “Nhất thiết duy tâm tạo”, chứng tỏ mọi khổ đau hay an lạc đều do tâm quyết định.
Cũng trên tinh thần này trong Kinh Duy Ma có nói: “Tuy kỳ tâm tịnh tắc Phật Độ tịnh” (Hễ tâm ngƣời thanh tịnh thì có cõi Phật thanh tịnh). Lại nói: “Cõi Phật của Đức Thích Ca vẫn trang nghiêm thanh tịnh không thua kém gì cõi nƣớc của chƣ Phật trong mƣời phƣơng, thế mà Ngài Xá Lợi Phất lại thấy không thanh tịnh chẳng trang nghiêm”. Điều đó cho thấy mƣời phƣơng quốc độ đều là Tịnh Độ, thế mà chúng ta có khác gì nhƣ ngƣời mù đứng dƣới nắng ban mai trƣớc cảnh trăm hoa nở mà không hề cảm nhận đƣợc một chút hƣơng vị nào. Tịnh Độ không chỉ là thế giới của ngƣời niệm Phật vãng sinh, mà còn là thế giới của mọi tông phái thuộc Đại thừa Phật giáo.
Trong quá trình tu tập để thành tựu Pháp thân, Tịnh Độ là điều cần yếu cho mỗi hành giả Đại thừa. Do đó, sự vãng sinh về thế giới Cực Lạc Tịnh Độ của Phật ADiĐà là một phƣơng tiện tối cần thiết, không chỉ dành riêng cho ngƣời tu tông Tịnh Độ, mà còn là khuôn mẫu chung không thể thiếu của mỗi hành giả Đại thừa. Chính vì vậy mà “Tịnh Độ tƣ tƣởng tuy phổ biến rất rộng và rất mạnh, nhƣng nếu lại tiến đến lĩnh vực luân lý của đạo Bồ Tát thì không những có thể vãng sinh Tịnh Độ, mà tiến lên bậc nữa tự mình có thể thành Phạt, do đó có thể cấu tạo thành Tịnh Độ mới.