Luận văn triết học về giá trị đạo đức truyền thống phụ nữ Kiên Giang

Luận văn thạc sĩ triết học nghiên cứu sự kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
94
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kế thừa giá trị đạo đức của phụ nữ Việt Nam

Đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam là một hệ thống các giá trị nhân văn sâu sắc. Hệ giá trị này được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Các phẩm chất tiêu biểu bao gồm lòng yêu nước nồng nàn, đức hy sinh, sự thủy chung và đức tính cần cù sáng tạo. Phụ nữ Việt Nam luôn giữ vai trò trụ cột trong việc chăm sóc gia đình và xây dựng cộng đồng. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, việc nghiên cứu đề tài này dưới góc độ triết học có ý nghĩa lý luận cấp thiết. Nhận thức đúng đắn về sự kế thừa giúp định hướng hành vi cho thế hệ trẻ. Giá trị đạo đức không phải là bất biến. Chúng luôn vận động cùng sự biến đổi của các quan hệ sản xuất và đời sống xã hội. Kế thừa có tính quy luật nhằm lọc bỏ các yếu tố lạc hậu và phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc. Tám chữ vàng 'Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang' vẫn là nền tảng tinh thần vững chắc. Sự kết hợp giữa đạo đức truyền thống và chuẩn mực mới tạo nên bản lĩnh vững vàng cho người phụ nữ trong bối cảnh công nghiệp hóa.

1.1. Khái niệm và đặc trưng giá trị đạo đức truyền thống

Giá trị đạo đức truyền thống là hệ thống những chuẩn mực hành vi được cộng đồng thừa nhận và duy trì qua nhiều thế hệ. Đối với phụ nữ Việt Nam, hệ giá trị này mang tính cố kết cộng đồng và tinh thần nhân ái cao cả. Lòng yêu nước gắn liền với ý thức bảo vệ nòi giống và cội nguồn dân tộc. Đức hy sinh và lòng vị tha thể hiện qua sự chăm lo gia đình không vụ lợi. Tinh thần cần cù, chịu thương chịu khó giúp người phụ nữ vượt qua mọi gian khó lịch sử. Những đặc trưng này tạo nên căn cước văn hóa độc đáo của người phụ nữ Việt Nam qua mọi thời đại.

1.2. Cơ sở triết học của sự kế thừa và phát triển đạo đức

Dưới góc nhìn triết học Mác - Lênin, đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Sự phát triển của đạo đức tuân theo quy luật phủ định của phủ định. Kế thừa đạo đức không phải là sự sao chép máy móc những khuôn mẫu phong kiến xưa cũ. Đó là quá trình chọn lọc biện chứng nhằm giữ lại hạt nhân hợp lý và gạt bỏ yếu tố tiêu cực. Quá trình này giúp nâng cao ý thức cá nhân phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường. Sự tiếp nối liên tục giữa quá khứ và hiện tại bảo đảm tính bền vững cho văn hóa dân tộc.

II. Thực trạng đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam hiện nay

Nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa mang lại nhiều chuyển biến sâu sắc đối với lối sống phụ nữ. Đa số phụ nữ Việt Nam vẫn giữ vững phẩm chất tốt đẹp và tích cực tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị. Nhiều tấm gương phụ nữ thành đạt khẳng định năng lực trí tuệ và sự độc lập trong công việc. Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường cũng gây ra những tác động tiêu cực đáng lo ngại. Một bộ phận phụ nữ có biểu hiện suy thoái đạo đức và phai nhạt các giá trị nhân văn. Lối sống thực dụng, đề cao đồng tiền và chủ nghĩa cá nhân vị kỷ xuất hiện ngày càng nhiều. Tình trạng xem nhẹ mối quan hệ gia đình dẫn đến sự gia tăng các vụ ly hôn và rạn nứt tình cảm. Sự du nhập của các trào lưu văn hóa ngoại lai không qua chọn lọc làm xói mòn nét đẹp truyền thống. Nhiều giá trị cốt lõi như lòng chung thủy và đức hy sinh bị hiểu sai lệch hoặc đánh mất. Tình hình này đặt ra yêu cầu cấp bách phải đánh giá khách quan thực trạng đạo đức để có biện pháp điều chỉnh kịp thời.

2.1. Những biến đổi tích cực trong phẩm chất phụ nữ thời kỳ mới

Phụ nữ hiện đại thể hiện tinh thần tự chủ, năng động và sáng tạo trong lao động sản xuất. Trình độ học vấn và chuyên môn của lao động nữ không ngừng được nâng cao qua từng năm. Phụ nữ chủ động tham gia công tác quản lý nhà nước và lãnh đạo doanh nghiệp. Đức tính đảm đang truyền thống được phát triển thành khả năng cân bằng giữa công việc xã hội và việc gia đình. Tinh thần tương thân tương ái được thể hiện qua nhiều phong trào thiện nguyện lan tỏa sâu rộng. Những yếu tố mới này làm phong phú thêm diện mạo đạo đức của phụ nữ trong thời đại số.

2.2. Nguy cơ xói mòn giá trị đạo đức do mặt trái kinh tế thị trường

Cơ chế thị trường kích thích lối sống hưởng thụ và tâm lý sùng bái vật chất ở một bộ phận nữ giới. Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình trở nên lỏng lẻo do thiếu sự quan tâm chăm sóc. Trách nhiệm nuôi dạy con cái đôi khi bị phó mặc hoàn toàn cho nhà trường và xã hội. Tệ nạn xã hội và tội phạm trong giới nữ có xu hướng gia tăng về mức độ phức tạp. Việc tiếp thu thiếu chọn lọc văn hóa mạng dẫn đến lối sống buông thả, đánh mất lòng tự trọng. Đây là hồi chuông cảnh báo về sự suy giảm nền tảng đạo đức gia đình.

III. Giải pháp phát huy giá trị đạo đức truyền thống phụ nữ Việt Nam

Để phát huy hiệu quả giá trị đạo đức truyền thống, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp mang tính chiến lược. Trước hết, công tác giáo dục tư tưởng và tuyên truyền chuẩn mực đạo đức cần được đổi mới toàn diện. Nội dung giáo dục phải kết hợp chặt chẽ giữa truyền thống dân tộc và yêu cầu hiện đại hóa. Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống chính sách bảo đảm bình đẳng giới và hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế. Môi trường gia đình phải được củng cố như một pháo đài gìn giữ các giá trị văn hóa tốt đẹp. Các tổ chức đoàn thể, đặc biệt là Hội Liên hiệp Phụ nữ, giữ vai trò nòng cốt trong việc tổ chức phong trào thi đua. Việc biểu dương các tấm gương phụ nữ tiêu biểu tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng. Bên cạnh đó, việc ngăn chặn các sản phẩm văn hóa độc hại trên không gian mạng là vô cùng cấp thiết. Xây dựng môi trường xã hội lành mạnh tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ hoàn thiện nhân cách. Sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội là chìa khóa then chốt.

3.1. Đổi mới công tác giáo dục và tuyên truyền trong cộng đồng

Giáo dục đạo đức cần được tiến hành thường xuyên với phương pháp trực quan và sinh động. Các phương tiện truyền thông đại chúng và mạng xã hội cần đẩy mạnh tuyên truyền gương người tốt việc tốt. Nội dung bài giảng trong nhà trường cần lồng ghép các bài học về giá trị nhân ái, trung hậu và trách nhiệm công dân. Cần tổ chức các diễn đàn văn hóa để phụ nữ trao đổi kinh nghiệm ứng xử trong gia đình hiện đại. Việc giáo dục tự giác rèn luyện giúp mỗi cá nhân nâng cao sức đề kháng trước các cám dỗ vật chất. Nâng cao nhận thức xã hội là tiền đề xây dựng chuẩn mực đạo đức mới.

3.2. Hoàn thiện chính sách pháp luật và nâng cao vai trò của hội phụ nữ

Hệ thống pháp luật cần bảo đảm quyền lợi chính đáng cho phụ nữ trên mọi lĩnh vực đời sống. Cần tăng cường các chính sách hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, tiếp cận vốn và nâng cao trình độ nghề nghiệp. Hội Liên hiệp Phụ nữ cần đổi mới phương thức hoạt động hướng mạnh về cơ sở. Các phong trào 'Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc' cần được cụ thể hóa theo từng địa bàn. Cần chủ động bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trước bạo lực gia đình và phân biệt đối xử. Sự hỗ trợ từ thể chế tạo bệ đỡ vững chắc cho phụ nữ tỏa sáng.

IV. Ý nghĩa triết học và ứng dụng đạo đức phụ nữ Việt Nam hiện nay

Nghiên cứu sự kế thừa giá trị đạo đức truyền thống mang ý nghĩa triết học sâu sắc trong công cuộc xây dựng nền văn hóa mới. Đạo đức phụ nữ không chỉ điều chỉnh hành vi cá nhân mà còn định hình chuẩn mực đạo đức xã hội. Việc bảo tồn các giá trị cốt lõi giúp giữ vững bản sắc dân tộc trước làn sóng hội nhập toàn cầu. Đồng thời, sự bổ sung các giá trị mới như tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang đáp ứng yêu cầu của thời đại công nghiệp hóa. Quá trình này góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại. Phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế to lớn trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Giá trị đạo đức trở thành nguồn lực nội sinh thúc đẩy tiến bộ xã hội bền vững. Kết quả nghiên cứu luận văn thạc sĩ triết học cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phụ nữ tại các địa phương. Việc hiện thực hóa các chuẩn mực đạo đức vào đời sống là nhiệm vụ thường xuyên của toàn xã hội.

4.1. Giá trị định hướng cho việc xây dựng gia đình no ấm hạnh phúc

Gia đình là tế bào của xã hội và là cái nôi nuôi dưỡng nhân cách con người. Phẩm chất đạo đức của người phụ nữ quyết định trực tiếp đến sự êm ấm và hòa thuận của gia đình. Lòng thủy chung và đức hy sinh giúp giữ gìn hạnh phúc lứa đôi trước những biến động đời sống. Tinh thần nhân ái của người mẹ truyền dạy cho con cái lối sống có trách nhiệm và tình thương yêu. Xây dựng gia đình văn hóa tiến bộ tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định trật tự xã hội. Đây là minh chứng rõ nét cho giá trị trường tồn của đạo đức truyền thống.

4.2. Khẳng định vị thế người phụ nữ trong công cuộc hiện đại hóa đất nước

Phát huy phẩm chất đạo đức truyền thống tạo động lực to lớn giúp phụ nữ khẳng định bản thân trong sự nghiệp đổi mới. Phụ nữ không còn bó hẹp trong không gian gia đình mà vươn ra chiếm lĩnh tri thức và công nghệ. Sự kết hợp giữa lòng yêu nước và tinh thần tự cường thôi thúc phụ nữ cống hiến cho đất nước. Bình đẳng giới được thúc đẩy thực chất thông qua sự đóng góp to lớn của nữ giới trên mọi mặt trận. Người phụ nữ hiện đại trở thành nhân tố quan trọng xây dựng một xã hội Việt Nam văn minh, giàu mạnh và phồn vinh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths triết học kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ việt nam trong tình hình hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM VÀ YÊU CẦU KẾ THỪA, PHÁT HUY CHÚNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1. GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM 1. Truyền thống đạo đức dân tộc Trong truyền thống của dân tộc có những truyền thống tốt và những truyền thống không tốt. Những truyền thống tốt phù hợp với sự phát triển của lịch sử dân tộc được gọi là những giá trị truyền thống.

Trong đó những giá trị đạo đức truyền thống (GTĐĐTT) đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Giá trị có thể được hiểu là: "Những thành tựu của con người góp vào sự phát triển đi lên của lịch sử xã hội, phục vụ cho lợi ích và hạnh phúc của 4 con người xã hội. Giá trị vì thế được xác định bởi sự đánh giá đúng đắn của con người, xuất phát từ thực tiễn và được kiểm nghiệm qua thực tiễn" [25, 16]. Giá trị đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của con người.

Nó là cái con người dựa vào để xác định mục đích, phương hướng cho hoạt động của mình, là cái mà con người mong muốn được theo đuổi. Giá trị là cơ sở đánh giá thái độ, hành vi đúng, sai, nên có và không nên có của con người. Giá trị là cơ sở của các chuẩn mực, quy tắc xác định cách thức hành động của con người. Cách thức và hành động xã hội được chỉ đạo bởi các giá trị - Người ta dựa vào giá trị được xã hội chấp nhận để lựa chọn cách thức suy nghĩ và hành động phù hợp nhất.

Các giá trị, nhất là các giá trị chung, phổ biến được coi như phương tiện cơ bản để tạo nên sự liên kết, hợp tác mọi thành viên trong nhóm, cộng đồng. Bất kỳ một chế độ xã hội nào cũng được tổ chức trên cơ sở những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định. Trong việc nghiên cứu giá trị, do những mục đích cụ thể khác nhau người ta thường phân loại giá trị theo cách khác nhau. Ở cấp độ chung nhất, người ta phân biệt: giá trị vật chất và giá trị tinh thần.

Giá trị tinh thần được chia thành các loại giá trị cơ bản như: giá trị khoa học, giá trị đạo đức (GTĐĐ), giá trị thẩm mỹ, giá trị chính trị. Trong đó GTĐĐ gắn với nhu cầu điều chỉnh quan hệ giữa cá nhân và xã hội theo hướng tạo nên sự thống nhất hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Có thể nói: "Giá trị đạo đức là những thái độ và hành vi được con người lựa chọn, được đánh giá là có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội, được lương tâm đồng tình và dư luận biểu dương. GTĐĐ vì thế có ý nghĩa thiết yếu đối với đời sống xã hội" [25, 51].

Mỗi dân tộc đều có truyền thống của mình do lịch sử để lại. Truyền thống là điều kiện để duy trì và phát triển cuộc sống. Nó là sản phẩm của quá trình phát triển lịch sử của mỗi dân tộc. Từng dân tộc khác nhau có truyền thống khác nhau, cùng một dân tộc qua từng giai đoạn lịch sử khác nhau 5 truyền thống cũng biểu hiện và có cách lý giải khác nhau.

Nói đến GTĐĐTT của dân tộc ta là nói đến đặc thù của đạo đức Việt Nam với những phẩm chất tốt đẹp đã hình thành và được bảo tồn cho đến thời điểm hiện đại. Đó là các giá trị nhân văn mang tính cộng đồng, tính ổn định tương đối, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thể hiện trong các chuẩn mực mang tính phổ biến có tác dụng điều chỉnh hành vi cá nhân, giữa cá nhân và xã hội. GTĐĐTT là bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc ta. Trong hệ giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam, các GTĐĐ chiếm vị trí nổi bật, tạo nên cốt lõi của nó.

Khi bàn về giá trị truyền thống giáo sư Trần Văn Giàu định nghĩa: "Giá trị truyền thống của một dân tộc là những nguyên lý đạo đức lớn (người trích nhấn mạnh) mà con người trong nước thuộc các thời đại, các giai đoạn lịch sử đều dựa vào để phân biệt phải trái để nhận định nên chăng nhằm xây dựng độc lập, tự do và tiến bộ của dân tộc đó. Cũng là những nguyên lý đạo đức sâu xa của mỗi người trong nước khiến họ tự nhiên phản ứng đúng với lẽ phải; đúng với quyền lợi và danh dự dân tộc khi phải đụng chạm đến một sự cố nào đấy" [14, 61]. Và ông cho rằng, GTĐĐTT của dân tộc Việt Nam bao gồm: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa [14, 108]. Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng: Trong những truyền thống quý báu của dân tộc, nổi bật nhất là truyền thống đạo đức (Người trích nhấn mạnh) và khẳng định truyền thống đạo đức cao đẹp của dân tộc ta bao gồm: lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù và sáng tạo; tinh thần nhân đạo, lòng yêu thương và quý trọng con người, trong đó yêu nước là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc [14, 74-86].

Theo Giáo sư Nguyễn Hồng Phong thì tính cách dân tộc gần như là tất cả nội dung của GTĐĐTT bao gồm: tính tập thể - cộng đồng; trọng đạo đức; cần kiệm, giản dị, thực tiễn; tinh thần yêu nước bất khuất và lòng yêu chuộng hòa bình, nhân đạo, lạc quan [62]. 6 Kết quả nghiên cứu của chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước: con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội (KX. 07) cũng đã khẳng định: cốt lõi của các giá trị truyền thống là đạo đức, phẩm chất, nhân cách con người Việt Nam bao gồm: tinh thần yêu nước, vì nghĩa, lòng thương người [58, 32-34]. Những GTĐĐ tinh thần truyền thống dân tộc được nói đến khá nhiều trong các văn kiện của Đảng.

Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về: "Một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay" ghi rõ: "Những giá trị văn hóa truyền thống bền vững của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý "thương người như thể thương thân", đức tính cần cù, vượt khó sáng tạo trong lao động" [57, 19]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã khẳng định: "Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống" [92, 56]. Qua các tư liệu nêu trên có thể rút ra một số nhận xét: - Trong hệ thống giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, GTĐĐ chiếm vị trí ưu trội so với các giá trị truyền thống dân tộc ta nói chung.

Dù có những kết luận khác nhau nhưng trong các GTĐĐTT, chủ nghĩa yêu nước được khẳng định là giá trị cốt lõi, giá định hướng các giá trị khác. - Một số phẩm chất đạo đức phổ biến của con người Việt Nam như: đức tính cần cù, thông minh sáng tạo, lòng nhân ái, tinh thần lạc quan, ý thức cộng đồng sâu sắc. đã được đề cập và coi đó là những GTĐĐTT quý báu của dân tộc ta. 7 Dựa vào cách tiếp cận giá trị, GTĐĐ và quan điểm của Đảng ta cũng như các nhà khoa học có thể khẳng định các GTĐĐTT cơ bản của dân tộc ta bao gồm:.

Chủ nghĩa yêu nước. Tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng sâu sắc. Cần cù và tiết kiệm. Tính khiêm tốn, trung thực, giản dị, lạc quan, thủy chung.

Trong những giá trị truyền thống ấy, chủ nghĩa yêu nước là "động lực tình cảm lớn nhất của đời sống dân tộc, đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ thống GTĐĐ của dân tộc ta" [25, 74]. Yêu nước là tình cảm thiêng liêng của nhân dân ta từ xưa đến nay. Truyền thống yêu nước được hình thành và phát triển trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc và thể hiện nổi bật trong đấu tranh giữ nước chống giặc ngoại xâm. Chính lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần dân tộc sâu sắc đã giúp nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước" [46, 171]. Chủ nghĩa yêu nước là "sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại".

Hình thành sớm, được thử thách và khẳng định qua bao thăng trầm của lịch sử, được bổ sung và phát triển qua từng thời kỳ, theo yêu cầu phát triển của dân tộc và thời đại, chủ nghĩa yêu nước là một trong những giá trị cao quý bền vững nhất của dân tộc ta. Truyền thống yêu nước của dân tộc ta bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với lòng thương yêu và quý trọng con người, nhất là người lao động. Lòng thương người của ông cha ta có nguồn gốc sâu xa từ trong sinh hoạt công xã, nông thôn, chế độ ruộng công, làng cùng họ từ đời cộng đồng 8 nguyên thủy và được củng cố, phát triển qua quá trình chung lưng khai phá giang sơn, giữ gìn đất nước. Lòng thương người là một trong những truyền thống quý báu của dân tộc ta.

Nó gắn liền với tinh thần chiến đấu anh dũng chống ngoại xâm cứu dân, cứu nước, chống lại mọi bất công, chà đạp lên cuộc sống con người. Nó thấm nhuần tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau giữa người và người trong sản xuất, chiến đấu, trong sinh hoạt thường ngày và lòng yêu chuộng hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc, lạc quan tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân và tiền đồ tươi sáng của dân tộc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ