Luận văn: Xây dựng đạo đức mới cho phụ nữ qua thực tế tỉnh Vĩnh Phúc

Luận văn thạc sĩ triết học nghiên cứu phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng chuẩn mực đạo đức mới cho phụ nữ Việt Nam qua thực tế Vĩnh Phúc.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
86
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan nghiên cứu phát huy giá trị đạo đức phụ nữ tại Vĩnh Phúc

Đề tài luận văn thạc sĩ triết học tập trung làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về đạo đức người phụ nữ. Giá trị đạo đức truyền thống là di sản tinh thần quý báu của dân tộc Việt Nam. Những chuẩn mực như lòng yêu nước, đức hy sinh, lòng nhân ái và sự cần cù tạo nên cốt cách phụ nữ qua nhiều thế hệ lịch sử. Bối cảnh đổi mới và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo ra nhiều chuyển biến sâu sắc. Quá trình hội nhập quốc tế mở rộng cơ hội phát triển cá nhân nhưng cũng đặt ra thách thức lớn. Việc giữ gìn bản sắc văn hóa gắn liền với yêu cầu xây dựng hệ giá trị đạo đức tiến bộ. Đề tài kế thừa công trình nghiên cứu của giáo sư Trần Văn Giàu, giáo sư Nguyễn Hồng Phong và giáo sư Trần Quốc Vượng. Các công trình này xác lập nền tảng lý luận vững chắc về bản sắc và tính cách dân tộc. Việc vận dụng triết học Mác - Lênin giúp giải thích quy luật kế thừa đạo đức. Nghiên cứu thực tế tại tỉnh Vĩnh Phúc cung cấp cứ liệu khoa học sinh động và xác thực.

1.1. Giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam

Đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam đúc kết từ lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời. Lòng yêu nước nồng nàn thể hiện qua tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm. Phụ nữ luôn giữ vai trò hậu phương vững chắc và trực tiếp tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Phẩm chất cần cù, chịu thương chịu khó gắn liền với nền văn minh lúa nước và kinh tế tiểu nông. Tinh thần vị tha, đức hy sinh và lòng nhân ái tạo nên sự gắn kết bền vững trong gia đình và cộng đồng làng xã. Những chuẩn mực công, dung, ngôn, hạnh truyền thống khẳng định vị thế và phẩm giá cao quý của người phụ nữ.

1.2. Tính cấp thiết xây dựng chuẩn mực đạo đức mới hiện nay

Thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa mở ra nhiều thời cơ lớn cho phụ nữ phát triển toàn diện. Phụ nữ ngày nay tham gia sâu rộng vào hoạt động kinh tế, chính trị và quản lý xã hội. Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường đang gây xói mòn nhiều giá trị đạo đức tốt đẹp. Lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân và tệ nạn xã hội có nguy cơ xâm nhập vào đời sống gia đình. Việc xây dựng đạo đức mới giúp người phụ nữ dung hòa giữa bổn phận gia đình và trách nhiệm xã hội. Quá trình này đòi hỏi sự tiếp thu tinh hoa văn hóa tiến bộ nhưng vẫn kiên định bảo tồn cốt cách dân tộc.

II. Thực trạng phát huy đạo đức truyền thống của phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc

Khảo sát thực tiễn tại tỉnh Vĩnh Phúc phản ánh bức tranh toàn diện về đời sống đạo đức của phụ nữ địa phương. Trong những năm đổi mới, phụ nữ Vĩnh Phúc phát huy mạnh mẽ truyền thống yêu nước và tinh thần tự lực vươn lên. Tỷ lệ phụ nữ tham gia lao động sản xuất, khởi nghiệp kinh doanh và công tác quản lý không ngừng gia tăng. Tính năng động, độc lập và sáng tạo trong công việc được nâng cao rõ rệt. Đa số phụ nữ vẫn giữ vững chuẩn mực trung hậu, đảm đang và hết lòng chăm lo cho tổ ấm gia đình. Bên cạnh những mặt tích cực, thực trạng xã hội cũng bộc lộ nhiều điểm hạn chế đáng lo ngại. Kết quả điều tra xã hội học tại Vĩnh Phúc với 2.836 phiếu khảo sát chỉ ra các tồn tại phức tạp. Nạn bạo lực gia đình chiếm tỷ lệ 60,78% và hành vi xúc phạm danh dự phụ nữ chiếm tới 66,04%. Tình trạng thiếu trung thực và nói không đi đôi với làm vẫn xuất hiện ở mức đáng kể. Một bộ phận phụ nữ còn mang tâm lý mặc cảm, an phận và thiếu ý chí đấu tranh tự bảo vệ. Sự suy thoái lối sống ở một nhóm nhỏ đang làm lu mờ những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ địa phương.

2.1. Những biến đổi tích cực trong lối sống phụ nữ Vĩnh Phúc

Kinh tế thị trường thúc đẩy sự chuyển biến nhận thức mạnh mẽ của phụ nữ Vĩnh Phúc. Tinh thần dám nghĩ dám làm giúp nhiều cá nhân vượt khó thoát nghèo và làm giàu chính đáng. Phụ nữ tích cực học tập, nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng tay nghề. Lối sống tự chủ, tự tin và trách nhiệm với cộng đồng dần hình thành rõ nét. Mối quan hệ bình đẳng giới trong gia đình được cải thiện đáng kể. Người phụ nữ vừa chủ động đóng góp tài chính vừa xây dựng nếp sống văn minh và giữ gìn hạnh phúc gia đình.

2.2. Hạn chế và thách thức từ mặt trái kinh tế thị trường

Sự phân hóa giàu nghèo và áp lực mưu sinh tạo ra nhiều hệ lụy xã hội phức tạp. Tư tưởng trọng nam khinh nữ và định kiến giới cổ hủ vẫn tồn tại dai dẳng tại nhiều vùng nông thôn Vĩnh Phúc. Tình trạng bạo lực gia đình và hành vi xâm hại nhân phẩm người phụ nữ diễn biến phức tạp. Tâm lý cam chịu, thiếu kiến thức pháp luật khiến nhiều nạn nhân không dám lên tiếng đấu tranh. Bên cạnh đó, lối sống chạy theo đồng tiền làm phai nhạt tình nghĩa gia đình truyền thống. Một số đối tượng lợi dụng mê tín dị đoan làm xáo trộn đời sống tinh thần của phụ nữ.

III. Giải pháp xây dựng đạo đức mới cho phụ nữ từ góc độ triết học

Xây dựng đạo đức mới đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ và căn cơ dưới góc nhìn triết học duy vật biện chứng. Đạo đức không tự nhiên sinh ra mà bắt nguồn từ tồn tại xã hội và điều kiện kinh tế. Việc nâng cao đời sống vật chất và tạo việc làm ổn định là tiền đề quyết định giải phóng phụ nữ. Cần đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới. Các tổ chức Hội Phụ nữ tại Vĩnh Phúc giữ vai trò nòng cốt trong việc định hướng giá trị nhân văn. Việc giáo dục đạo đức phải kết hợp hài hòa giữa truyền thống tốt đẹp và chuẩn mực văn minh hiện đại. Cần kiên quyết đấu tranh loại bỏ những hủ tục lạc hậu, thói gia trưởng và bạo lực gia đình. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh tại cơ sở giúp bồi dưỡng nhân cách và lối sống tự chủ. Mỗi cá nhân phụ nữ cần nâng cao tinh thần tự học, tự rèn luyện và bồi đắp tri thức. Tinh thần thông minh, sáng tạo trong lao động là thước đo cốt lõi của đạo đức mới.

3.1. Nâng cao nhận thức triết học và trình độ học vấn cho phụ nữ

Giáo dục tri thức là giải pháp then chốt để xóa bỏ mặc cảm và tự ti ở phụ nữ. Việc trang bị thế giới quan khoa học giúp phụ nữ nhận thức đúng về quyền lợi và vị thế của bản thân. Các cấp chính quyền cần mở rộng các lớp đào tạo nghề, phổ cập kiến thức pháp luật và kỹ năng số. Nâng cao trình độ học vấn tạo nền tảng vững chắc để phụ nữ làm chủ công nghệ và tự tin hội nhập. Khi có tri thức, người phụ nữ sẽ chủ động tham gia quyết định các vấn đề hệ trọng trong gia đình và xã hội.

3.2. Kết hợp chuẩn mực hiện đại với đạo đức truyền thống tốt đẹp

Quá trình xây dựng đạo đức mới phải dựa trên nguyên tắc kế thừa có chọn lọc. Các giá trị cốt lõi như lòng yêu nước, lòng nhân ái và tính cần cù cần được phát huy mạnh mẽ. Đồng thời, cần bổ sung những chuẩn mực hiện đại như tính độc lập, tư duy sáng tạo và ý thức thượng tôn pháp luật. Gia đình văn hóa là môi trường hạt nhân để bảo tồn và lan tỏa các chuẩn mực tốt đẹp. Sự kết hợp giữa đạo đức truyền thống và tiến bộ xã hội tạo nên hình tượng người phụ nữ Việt Nam tự tin, tự trọng, trung hậu và đảm đang.

IV. Kết luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài triết học tại Vĩnh Phúc

Đề tài luận văn thạc sĩ triết học khẳng định giá trị bền vững của đạo đức truyền thống trong đời sống tinh thần dân tộc. Việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống để xây dựng chuẩn mực đạo đức mới cho người phụ nữ là quy luật phát triển tất yếu. Nghiên cứu thực tiễn tại Vĩnh Phúc đã chứng minh tính biện chứng giữa sự kế thừa di sản văn hóa và đổi mới tư duy xã hội. Xây dựng đạo đức mới không đồng nghĩa với việc phủ định quá khứ mà là sự phát triển nâng cao trên nền tảng truyền thống. Phụ nữ Vĩnh Phúc ngày nay tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột trong gia đình và lực lượng xung kích ngoài xã hội. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho công tác hoạch định chính sách của địa phương. Việc triển khai các giải pháp giáo dục đạo đức đồng bộ sẽ góp phần thúc đẩy bình đẳng giới thực chất. Công trình đóng góp thiết thực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững của quê hương Vĩnh Phúc.

4.1. Đóng góp lý luận về đạo đức học và triết học văn hóa

Luận văn góp phần bổ sung và làm phong phú hệ thống lý luận về đạo đức học Mác - Lênin trong giai đoạn mới. Đề tài làm rõ quy luật vận động của ý thức xã hội trong thời kỳ chuyển đổi mô hình kinh tế thị trường. Nghiên cứu khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa tính kế thừa truyền thống và yêu cầu hiện đại hóa chuẩn mực đạo đức. Kết quả nghiên cứu cung cấp khung phân tích khoa học để nhận diện sự biến đổi giá trị nhân cách. Đây là nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu chuyên sâu về triết học văn hóa và lý luận giới tại Việt Nam.

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong công tác phụ nữ tại địa phương

Các giải pháp trong luận văn có khả năng ứng dụng trực tiếp vào công tác phụ nữ tại tỉnh Vĩnh Phúc. Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp có thể xây dựng các phong trào thi đua gắn liền với chuẩn mực đạo đức mới. Địa phương cần lồng ghép nội dung giáo dục đạo đức vào chương trình xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư. Công tác bảo vệ quyền lợi hợp pháp và phòng chống bạo lực gia đình cần được triển khai quyết liệt hơn. Đề tài mở ra định hướng thực tiễn nhằm phát huy tối đa tiềm năng của phụ nữ trong phát triển kinh tế và xã hội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths triết học phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới cho người phụ nữ việt nam hiện nay qua thực tế tỉnh vĩnh phúc

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay 1. Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc và giá trị đạo đức truyền thống phụ nữ 1. Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Giá trị là khái niệm trung tâm của giá trị học với tính cách là một khoa học và được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học nhân văn như triết học, tâm lý học, đạo đức học, xã hội học, kinh tế học. với những nội dung rộng hẹp, cụ thể khác nhau.

Giá trị là ý nghĩa của những hiện tượng vật chất hay tinh thần có khả năng thỏa mãn nhu cầu tích cực của con người, là những thành tựu góp phần vào sự phát triển xã hội, phục vụ cho lợi ích và hạnh phúc của con người. Giá trị có vai trò quan trọng trong cuộc sống con người. Nó là cơ sở để con người căn cứ vào đó mà xác định mục đích, phương hướng sống cho hoạt động của mình. Vì vậy, "nói đến giá trị tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện, nghĩa là đã bao hàm cả quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp, là nói đến cái có khả năng thôi thúc con người hành động và nỗ lực vươn tới" [7, tr.

Như vậy, có những giá trị chung toàn nhân loại, cũng có giá trị lâu bền được kế thừa qua nhiều thời đại và được nâng cao lên, nhưng cũng có những giá trị có phạm vi ảnh hưởng và thời gian tồn tại ít hơn. Có những giá trị sẽ mất đi hoặc mờ nhạt dần khi hoàn cảnh lịch sử thay đổi và có những giá trị mới được hình thành. Những giá trị chung, phổ biến được coi như phương tiện cơ bản tạo nên sự liên kết các thành viên trong cộng đồng. Trong việc nghiên cứu giá trị, ở cấp độ chung nhất giá trị được chia thành giá trị vật chất và giá trị tinh thần.

Giá trị tinh thần được chia thành các loại giá trị cơ bản như: giá trị khoa học, giá trị đạo đức, giá trị chính trị, giá trị thẩm mỹ. Giá trị đạo đức được hình thành từ trong lịch sử và trường tồn đến 7 hiện đại, tạo thành giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. Mỗi dân tộc đều có truyền thống của mình do lịch sử để lại. Truyền thống dân tộc là những đức tính, những lề thói, phong tục đã trở nên ổn định được đông đảo thừa nhận và đã ăn sâu vào tâm lý, tập quán xã hội, được nối dài theo nhiều thế hệ, qua nhiều đời của dân tộc.

Từng dân tộc khác nhau có truyền thống khác nhau, "giá trị truyền thống dân tộc được cô đúc nên trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của dân tộc. cho nên có thể nói, giá trị truyền thống là cái thể hiện bản chất nhất, đặc trưng nhất cốt lõi văn hóa dân tộc" [39, tr. Dân tộc Việt Nam với các điều kiện địa lý, môi trường, lịch sử và xã hội đã hình thành nên những nét giá trị truyền thống riêng. Giá trị đạo đức truyền thống là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam, nó là một dòng chảy liên tục nảy sinh, phát triển trong suốt tiến trình dựng nước, giữ nước của cha ông ta, và được tích lũy, lưu truyền, chắt lọc, chuyển giao, tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ đời này qua đời khác.

Giá trị đạo đức truyền thống là cái tồn tại mãi mãi với dân tộc "sau tất cả những gì đã mất đi trong quá trình vận động" [46, tr. Từ trước tới nay, việc nghiên cứu để xác định các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc đã được nhiều người, nhiều nhà khoa học quan tâm. GS Trần Văn Giàu cho rằng, giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam bao gồm: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa [25, tr. GS Vũ Khiêu đưa ra quan điểm, trong những truyền thống quý báu của dân tộc, nổi bật nhất là truyền thống đạo đức và khẳng định, truyền thống đạo đức của dân tộc ta bao gồm: lòng yêu nước; truyền thống đoàn kết; lao động cần cù và sáng tạo; tinh thần nhân đạo lòng yêu thương và quý trọng con người, trong đó yêu nước là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc [42, tr.

8 Kết quả nghiên cứu của Chương trình Khoa học công nghệ cấp Nhà nước: "Con người Việt Nam - và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội" (KX-07) cũng khẳng định: cốt lõi của các giá trị truyền thống là đạo đức, phẩm chất, nhân cách con người Việt Nam bao gồm: tinh thần yêu nước, vì nghĩa, lòng thương người [8, tr. Những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cũng được đề cập đến trong một số Văn kiện của Đảng và các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay khẳng định: "Những giá trị văn hóa truyền thống vững bền của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc. Đạo lý "thương người như thể thương thân", đức tính cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao động" [14, tr.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, có viết: Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái; khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử; tính giản dị trong lối sống. Từ cách tiếp cận về giá trị, giá trị đạo đức truyền thống và từ quan điểm của Đảng ta cũng như của các nhà khoa học, có thể khẳng định các giá trị đạo đức truyền thống cơ bản của dân tộc ta bao gồm: - Chủ nghĩa yêu nước. - Lòng thương người.

- Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng sâu sắc. - Cần cù, tiết kiệm. 9 Trong hệ thống các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, chủ nghĩa yêu nước là "động lực tình cảm lớn nhất của đời sống dân tộc, đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc ta" [42, tr. Chủ nghĩa yêu nước là tình yêu đối với đất nước, lòng trung thành với Tổ quốc biểu hiện ở khát vọng và hành động tích cực để phục vụ và đem lại lợi ích cho Tổ quốc và nhân dân.

Nó trở thành một giá trị, một động lực tinh thần vô cùng mạnh mẽ thúc đẩy biết bao thế hệ kiên cường, anh dũng hy sinh để giành lại và giữ gìn nền độc lập Tổ quốc, bảo vệ những phẩm giá của chính con người. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không chỉ là một giá trị mà nó còn là cội nguồn, là cơ sở của các giá trị khác, nhất là các giá trị văn hóa. Yêu nước là giá trị hàng đầu của mỗi con người Việt Nam, nó là thước đo giá trị nhân phẩm của con người, chi phối mỗi người trong suy nghĩ và hành động. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước.

Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước [60, tr. Lịch sử Việt Nam là lịch sử dựng nước và giữ nước. Vì vậy, yêu nước đối với nhân dân ta trước hết là chăm lo xây dựng đất nước về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa để tạo sức mạnh bên trong bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của dân tộc.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được thể hiện cụ thể ở lòng dũng cảm và ý chí bất khuất, đó là chủ nghĩa anh hùng. Là những người hết mực yêu hòa bình, yêu tự do, nên khi bờ cõi bị xâm chiếm, nhân dân bị nô lệ, người Việt Nam "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" [59, tr. Chủ nghĩa yêu nước là "sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại" [25, tr. 100], nó trở thành đạo lý và lẽ sống của mỗi người được sinh ra và lớn lên trên đất nước Việt Nam.

10 Truyền thống yêu nước của người Việt Nam luôn gắn bó chặt chẽ với lòng thương yêu và quý trọng con người, nhất là người lao động. Lòng thương người của dân tộc ta thấm đượm trong các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, trong làng xóm và trong cả cộng đồng dân tộc. Người Việt coi trọng tình nghĩa hơn lễ nghĩa. Tình ở đây là tình cảm sâu sắc "máu chảy ruột mềm", thương nhau giữa những người trong một nước.

Nghĩa ở đây là trách nhiệm của mỗi người trước sự sống còn của đất nước, tình nghĩa ở đây cũng là thái độ thủy chung trong tình yêu, tình bạn. Vì vậy, mà trong lịch sử dân tộc, những tấm gương vì nghĩa được ngợi ca, còn những hiện tượng "vô nhân đạo", "phụ tình bạc nghĩa" thường bị dư luận xã hội lên án phản đối. Cũng với tình nghĩa ấy, dân tộc ta còn có thái độ nhân đạo khoan dung đối với cả quân thù, khi chúng đã hạ súng, bại trận thì "cấp ngựa cấp thuyền" cho lui về nước. Tinh thần nhân ái trong truyền thống của dân tộc ta cũng không hoàn toàn giống với nội dung "nhân", "nghĩa" của Nho giáo, chữ "nhân", "nghĩa" đó thông qua lăng kính nhân sinh quan của người Việt đã mang một nội dung mới, nó không còn giữ nguyên nghĩa như quan niệm của Khổng giáo; nó cũng khác với quan niệm "từ ", "bi" của Phật giáo hướng con người đi tu hành để mong giải thoát khỏi "bể khổ" nơi trần thế.

Lòng thương người là một trong những truyền thống rất đáng tự hào của dân tộc ta, truyền thống này đã được Đảng ta khẳng định: Người Việt Nam vẫn có lòng yêu nước thiết tha, có tinh thần dân chủ bình đẳng trong quan hệ giữa người với người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ