Luận văn: Ảnh hưởng của đạo Cao Đài đến đời sống tinh thần ở Tây Ninh

Luận văn thạc sĩ triết học nghiên cứu ảnh hưởng của Đạo Cao Đài đối với đời sống tinh thần của nhân dân tỉnh Tây Ninh hiện nay.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
129
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan nghiên cứu ảnh hưởng của đạo Cao Đài ở Tây Ninh

Đạo Cao Đài ra đời năm 1926 tại vùng đất Nam Bộ. Tôn giáo này nhanh chóng phát triển và thu hút hàng triệu tín đồ. Tây Ninh là trung tâm tôn giáo lớn nhất của đạo Cao Đài với Tòa thánh Tây Ninh. Việc nghiên cứu ảnh hưởng của đạo Cao Đài đối với đời sống tinh thần tại địa phương mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đề tài luận văn thạc sĩ triết học tiếp cận hiện tượng này từ góc độ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Cơ sở lý luận dựa trên quan điểm Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo. Nghiên cứu làm rõ bối cảnh lịch sử, quá trình hình thành cùng các giai đoạn chuyển biến xã hội của giáo phái. Tôn giáo này sở hữu hệ thống giáo thuyết dung hợp Tam giáo đồng nguyên gồm Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Cơ cấu tổ chức hành chính đạo chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở. Tìm hiểu sự tác động của niềm tin tôn giáo giúp đánh giá toàn diện diện mạo văn hóa tinh thần tại Tây Ninh. Đây là nền tảng quan trọng phục vụ công tác quản lý xã hội hiện đại.

1.1. Bối cảnh lịch sử và sự hình thành đạo Cao Đài

Đạo Cao Đài xuất hiện vào đầu thế kỷ XX trong bối cảnh xã hội Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến. Khủng hoảng kinh tế và áp bức chính trị thúc đẩy quần chúng tìm kiếm chỗ dựa tinh thần. Giáo lý Cao Đài kết hợp tư tưởng Nho gia, triết lý từ bi Phật giáo và tư tưởng vô vi Đạo giáo. Tôn giáo này nhanh chóng phát triển mạnh mẽ khắp Nam Bộ nhờ tính chất bình dân và dung hợp. Tòa thánh Tây Ninh trở thành trung tâm chỉ đạo hoạt động hành đạo lớn nhất. Sự hình thành của đạo Cao Đài đáp ứng nhu cầu tâm linh cấp thiết của nông dân nghèo thời bấy giờ.

1.2. Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu triết học

Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích đối tượng. Tác giả kết hợp phương pháp phân tích logic với lịch sử để làm sáng tỏ các quy luật phát triển tôn giáo. Phương pháp điều tra xã hội học tôn giáo hỗ trợ thu thập số liệu thực chứng tại các họ đạo Tây Ninh. Nghiên cứu liên ngành tôn giáo học, dân tộc học và tâm lý học xã hội cung cấp góc nhìn đa chiều. Việc đối chiếu tài liệu lưu trữ giúp đánh giá khách quan các biến động chính trị xã hội. Phương pháp luận chặt chẽ bảo đảm tính khoa học và giá trị học thuật của công trình.

II. Phân tích ảnh hưởng của đạo Cao Đài tới đời sống tinh thần

Đạo Cao Đài tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống tinh thần của nhân dân Tây Ninh. Niềm tin tôn giáo chi phối thế giới quan, nhân sinh quan và hành vi ứng xử thường nhật. Biểu tượng Thiên Nhãn nhắc nhở tín đồ sống lương thiện, giữ gìn đạo đức và tuân thủ luật công bình. Lối sống ăn chay, giữ giới, thực hành bác ái lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng. Các nghi lễ cúng tế, tang ma, cưới hỏi theo nghi thức tôn giáo định hình nếp sinh hoạt văn hóa đặc thù. Mạng lưới họ đạo và thánh thất gắn kết chặt chẽ cư dân qua tinh thần tương thân tương ái. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng này cũng bộc lộ những mặt hạn chế nhất định. Tâm lý định mệnh luận còn khá nặng nề trong nhận thức của một bộ phận tín đồ. Xu hướng trông chờ vào sự an bài của đấng tối cao làm giảm tính chủ động sáng tạo trong lao động sản xuất. Những biến động lịch sử phức tạp từng để lại những tác động chính trị xã hội cần được giải quyết thỏa đáng.

2.1. Tác động tích cực đến đạo đức và lối sống cộng đồng

Đạo Cao Đài góp phần xây dựng chuẩn mực đạo đức hướng thiện cho người dân Tây Ninh. Giáo lý đề cao chữ hiếu, tình thương yêu vạn vật và tinh thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau. Nếp sống ăn chay thanh tịnh rèn luyện tính kiên nhẫn, lòng nhân ái và sự hòa hợp môi trường sống. Hệ thống nghi lễ trang nghiêm tạo nề nếp kỷ cương trong đời sống gia đình và thôn xóm. Các hoạt động cứu tế, chẩn tế xã hội do thánh thất tổ chức thường xuyên phát huy truyền thống tương trợ. Tín đồ chấp hành nghiêm túc giới luật đạo đức, góp phần giảm thiểu các tệ nạn xã hội.

2.2. Hạn chế về tâm lý định mệnh và sự thụ động xã hội

Bên cạnh giá trị tích cực, niềm tin tôn giáo Cao Đài cũng để lại một số hạn chế tâm lý. Quan niệm số mệnh tiền định khiến một bộ phận tín đồ suy nghĩ cam chịu trước khó khăn. Thái độ phó mặc số phận cho đấng thiêng liêng làm suy giảm ý chí vươn lên làm chủ cuộc sống. Niềm tin huyền bí vào cơ bút hay sự báo ứng đôi khi tạo ra tâm lý lo lắng siêu hình. Một số nghi lễ tôn giáo rườm rà chiếm dụng nhiều thời gian lao động và nguồn lực kinh tế. Sự hiểu biết hạn chế về khoa học kỹ thuật là rào cản đối với quá trình hiện đại hóa nông thôn.

III. Giải pháp định hướng giá trị đạo Cao Đài trong đời sống

Công tác tôn giáo tại Tây Ninh đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ và khoa học. Mục tiêu cốt lõi là phát huy các giá trị đạo đức tốt đẹp và hạn chế tác động tiêu cực của tín ngưỡng. Chính quyền địa phương cần thực hiện nhất quán chính sách tự do tín ngưỡng của Nhà nước. Việc tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo đúng pháp luật và hiến chương là rất cần thiết. Song song đó, công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối cách mạng cần được tăng cường liên tục. Nâng cao đời sống vật chất và dân trí giúp người dân nhận thức rõ ranh giới giữa niềm tin tâm linh và mê tín dị đoan. Đẩy mạnh phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới tại các khu dân cư có đông tín đồ Cao Đài. Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo có trình độ lý luận chính trị và chuyên môn vững vàng. Sự phối hợp chặt chẽ giữa chức sắc tôn giáo và chính quyền tạo nên khối đại đoàn kết toàn dân bền vững.

3.1. Thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng và pháp luật

Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của mọi công dân theo quy định pháp luật. Chính quyền các cấp tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa thánh Tây Ninh tổ chức các đại lễ truyền thống. Đồng thời, cơ quan chức năng kiên quyết ngăn chặn các hành vi lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Các văn bản quy phạm pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo cần được phổ biến sâu rộng đến từng họ đạo. Việc hướng dẫn giáo hội tuân thủ hiến chương giúp các sinh hoạt tôn giáo diễn ra lành mạnh, thuần túy và ổn định.

3.2. Nâng cao dân trí và phát triển văn hóa cơ sở

Nâng cao trình độ học vấn và hiểu biết khoa học kỹ thuật là giải pháp căn bản để chuyển đổi nhận thức cộng đồng. Các cấp ủy đảng đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng giáo dục, y tế tại vùng có đông tín đồ. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cần được lồng ghép khéo léo với nếp sống đạo đức tôn giáo. Khuyến khích tín đồ tham gia các câu lạc bộ văn hóa nghệ thuật, thể thao và khuyến học tại địa phương. Sự phát triển toàn diện của văn hóa cơ sở sẽ từng bước đẩy lùi tư tưởng tiêu cực, mê tín và thụ động.

IV. Kết luận nghiên cứu triết học đạo Cao Đài tại Tây Ninh

Đề tài luận văn thạc sĩ triết học làm sáng tỏ vị trí đặc biệt của đạo Cao Đài trong không gian văn hóa Tây Ninh. Tôn giáo này là một thực thể xã hội vừa mang tính lịch sử vừa mang tính hiện đại. Ảnh hưởng của giáo phái bao trùm lên nếp sống, tư tưởng và cấu trúc cộng đồng địa phương. Các giá trị nhân văn, tinh thần bác ái và truyền thống từ thiện cần được bảo tồn, phát huy. Ngược lại, những yếu tố tư tưởng lạc hậu, tâm lý định mệnh thụ động cần được khắc phục bằng giáo dục và phát triển kinh tế. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho việc hoạch định chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Công trình còn là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà nghiên cứu văn hóa, triết học và tôn giáo học Việt Nam. Việc giải quyết hài hòa vấn đề tôn giáo góp phần quan trọng vào sự ổn định chính trị và phát triển bền vững của tỉnh Tây Ninh trong thời kỳ mới.

4.1. Khái quát kết quả nghiên cứu và đóng góp học thuật

Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận triết học Mác - Lênin về tôn giáo và vận dụng vào trường hợp đạo Cao Đài. Công trình đánh giá khách quan hai mặt tích cực và tiêu cực trong tác động của tôn giáo này đối với đời sống tinh thần. Các phân tích chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện kinh tế xã hội và sự biến đổi của niềm tin tâm linh. Nghiên cứu bổ sung nguồn tư liệu thực tiễn phong phú về hiện trạng sinh hoạt tôn giáo tại Tây Ninh. Đóng góp lý luận này giúp làm sâu sắc thêm bức tranh tôn giáo học Việt Nam hiện đại.

4.2. Ý nghĩa ứng dụng trong công tác quản lý thực tiễn

Kết quả nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo. Báo cáo đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phát huy nguồn lực đạo đức tôn giáo vào xây dựng đời sống văn hóa. Các cơ quan ban ngành có thể tham khảo phương pháp vận động quần chúng tín đồ sống tốt đời đẹp đạo. Nghiên cứu hỗ trợ củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và giữ vững an ninh trật tự cơ sở. Đây là cẩm nang hữu ích cho cán bộ quản lý văn hóa xã hội tại Tây Ninh và khu vực Nam Bộ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths triết học ảnh hưởng của đạo cao đài đối với đời sống tinh thần ở tây ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Lịch Sử Hình Thành Phát Triển Và Những Đặc Điểm Của Đạo CAO Đài Từ giữa thế kỷ XIX cho đến nay, không riêng gì ở Việt Nam, trên thế giới xuất hiện nhiều thứ đạo cùng với sự tiếp tục tồn tại các tôn giáo cũ, hàng loạt các giáo phái mới ra đời. Nhiều phong trào xã hội, chính trị xuất hiện mang màu sắc tôn giáo. Theo thống kê, chỉ riêng trong thế kỷ XX, trên thế giới có trên ba, bốn ngàn hiện tượng tôn giáo lớn nhỏ ra đời nhưng số trụ lại được với thời gian không nhiều chỉ khoảng hơn chục đạo tồn tại với số tín đồ khiêm tốn, phần đông là từ các tôn giáo khác tách ra. Những tôn giáo đó đều có chung một đặc điểm là: phải dựa vào các tôn giáo truyền thống ở nơi xuất phát, biến đổi ít nhiều về mặt giáo lý và nghi thức, dưới nhãn hiệu cải cách, canh tân, thêm hoặc bớt những yếu tố trong điều kiện xu thế giao lưu văn hóa được mở rộng.

Các đạo giáo mới đó tìm ra được mục đích hấp dẫn bằng nhiều vẻ: cả về tôn giáo, chính trị, kinh tế, văn hóa., trước hết với quần chúng tại chỗ, sau đó mới phát triển ra bên ngoài. Những tôn giáo đứng được phụ thuộc nhiều vào bản thân (nội dung, hình thức), vào các nhân vật sáng lập và nhất là đáp ứng được tâm lý xã hội của quần chúng tín đồ. ở đó quần chúng thấy được một cái gì hấp dẫn (tuy có thể nhiều hay ít) so với các tôn giáo cùng thời. Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ gọi tắt là đạo Cao Đài, một tôn giáo rất trẻ xuất hiện vào đầu thế kỷ XX trên 7 mảnh đất Nam Bộ, đã tồn tại và phát triển được do đáp ứng được những nhu cầu này, do đã tìm ra được một lực thu hút, một cung cách thích hợp tâm linh tôn giáo của những người nông dân tứ xứ Nam Bộ, trong đó có Tây Ninh.

Hoàn Cảnh KINH Tế Xã Hội Với Sự Hình Thành Và Phát Triển Của Đạo CAO Đài Sự xuất hiện của một tôn giáo mới hay một hiện tượng tôn giáo không bao giờ là điều ngẫu nhiên, mà nó được qui định bởi một bối cảnh lịch sử nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu tâm lý, tín ngưỡng của một bộ phận cộng đồng dân cư, cộng đồng lãnh thổ trước khi trở thành phổ biến. Chính vì thế, đạo Cao Đài cũng như các tôn giáo khác chỉ là hình thái ý thức xã hội ra đời gắn liền với quá trình phát triển của xã hội. Suy cho cùng sự ra đời, phát triển và mất đi của một tôn giáo là do sự phát triển của điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội nhất định. Muốn tìm nguồn gốc ra đời của tôn giáo nào phải tìm ngay ở "thế giới trần tục" chứ không phải ở đấng siêu nhiên nào.

Khoa học mác xít kiên quyết bác bỏ những lời khẳng định thiếu khoa học của những nhà thần học rằng: tôn giáo ra đời do ý định của đấng siêu nhiên nào đó. Ăngghen nói: "Bất cứ tôn giáo nào cũng đều chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc người ta những sức mạnh ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh mà trong đó có sức mạnh ở thế gian mang hình thức siêu thế gian" [1, 547-549]. Luận điểm trên giúp cho ta hướng nghiên cứu vào điều kiện kinh tế - chính trị - tư tưởng cho sự xuất 8 hiện tôn giáo nói chung và đạo Cao Đài nói riêng. Nói cách khác, sự xuất hiện và phát triển của đạo Cao Đài có thể lý giải bằng chính môi trường sinh ra nó.

Hoàn cảnh kinh tế - chính trị - xã hội Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Pháp là nước thắng trận song cũng là nước bị tổn thất nặng nề nhất, lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Để hàn gắn vết thương chiến tranh, đế quốc Pháp ra sức bóc lột thuộc địa ở Đông Dương nơi có thể đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường thế giới lúc bấy giờ. Trong đó Việt Nam là một trong những trọng điểm của chính sách bóc lột ấy, trở thành miếng mồi ngon cho bọn tư bản tài chính Pháp. Tình hình đó dẫn đến những biến đổi lớn về chính trị, kinh tế, xã hội nước ta thời bấy giờ.

Vào những năm cuối của thế kỷ XIX và khoảng 20 năm đầu của thế kỷ XX, xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp. Khác với Trung bộ, Bắc bộ, Nam Bộ là nơi thực dân Pháp áp đặt quyền cai trị trực tiếp với một bộ máy giúp việc người Việt. Trong lĩnh vực nông nghiệp, thực dân Pháp không xóa bỏ địa chủ phong kiến mà duy trì dung dưỡng để biến chúng thành tên lính xung kích trong việc cướp ruộng đất của nông dân và bóc lột sức lao động của nhân dân ta. Chúng đầu tư và mở rộng một số xí nghiệp công thương nghiệp sẵn có, đặc biệt là mở ra những đồn điền cao su ở vùng đất đỏ Nam kỳ và Cao Miên, chiếm 9 đoạt hàng loạt mẫu ruộng, đất rừng, đồng cỏ, cùng với nó là thi hành chế độ mộ phu cực kỳ tàn bạo.

Chính sách thuế khóa nặng nề, hàng trăm thứ thuế bất công được đặt ra, các độc quyền rượu, thuốc phiện, muối, vừa thâm độc vừa tàn ác, vừa đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân khố thực dân Pháp, vừa đầu độc dân ta về thể xác lẫn tinh thần. Chính sách thuế nặng nề, cộng với nạn cho vay nặng lãi mà thủ phạm chính là ngân hàng Đông Dương của chủ nghĩa tư bản tài chính Pháp đã bao trùm lên làng quê Việt Nam như một bệnh dịch khủng khiếp. Nông dân mất đất, một số ít vào nhà máy, xí nghiệp hầm mỏ đồn điền của Pháp và của một số tư bản Việt Nam để bán sức lao động trở thành người công nhân, còn đại đa số trở thành những tá điền bán sức lao động ngay trên mảnh đất của chính mình trước đây, hoặc lang thang vất vưởng không có việc làm. Tất cả các giai cấp trong xã hội Việt Nam lúc đó tuy mức độ khác nhau, hoặc ít hoặc nhiều có mâu thuẫn với thực dân Pháp.

Mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ này là mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ. Nhưng mâu thuẫn nổi lên, mâu thuẫn chủ yếu vẫn là giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với bọn đế quốc xâm lược Pháp. Tình hình ấy đã đưa cuộc đấu tranh của tầng lớp nhân dân nhất là ở Nam Bộ chống thực dân Pháp ngày càng quyết liệt. Tuy nhiên, do hạn chế của giai cấp mình, nông dân không thể tự giải 10 phóng được.

Lúc đó lại chưa có sự lãnh đạo dìu dắt của Đảng cộng sản - một chính Đảng của giai cấp vô sản, do vậy, cuộc đấu tranh của nhân dân lần lượt bị thực dân Pháp dìm trong bể máu. Bế tắc trong cuộc sống và bế tắc trong đấu tranh chống thực dân Pháp càng thúc đẩy số đông quần chúng tìm đến tôn giáo, trong đó đạo Cao Đài, những mong được sự an ủi che chở, do tôn giáo này khi mới xuất hiện ít nhiều mang tính phản kháng xã hội đương thời. Một vấn đề tư tưởng quan trọng dẫn đến sự ra đời và phát triển của đạo Cao Đài là sự khủng hoảng, suy thoái của các tôn giáo, đạo lý đương thời. Nhân dân Nam Bộ có nhu cầu tín ngưỡng rất lớn.

Khi đạo Cao Đài chưa ra đời, số đông nhân dân theo đạo Phật, đạo Nho và một số ít theo đạo Công giáo. Nhưng đến giai đoạn này, những tôn giáo ấy mất dần uy tín vì chậm thích nghi với sự phát triển của xã hội. Đạo Công giáo lúc đó dưới mắt của người Nam Bộ, gắn liền với sự xâm lược của thực dân Pháp, nên bị nghi ngờ, thậm chí khinh ghét. Đạo Nho là một học thuyết đạo đức, chính trị chỉ phù hợp với chế độ quân chủ nông nghiệp, đến nay không còn thích hợp với nhân dân Nam Bộ đang chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự phát triển của công nghiệp và xu hướng Âu hóa (do Pháp áp dụng ở Nam kỳ chế độ thuộc địa trực trị).

Đạo Phật tiểu thừa tại chỗ với phương châm "Tự độ, tự tha" chỉ giải thoát cho ai xuất gia tu hành, khó hòa nhập với phong tục, lối sống của người Nam Bộ. Đạo Phật Đại thừa bị suy vị từ mấy thế kỷ trước, nay lại chia rẽ thêm nhiều tông phái, nhất là sự xâm nhập các yếu tố mê 11 tín dị đoan của đạo Lão. Đạo thờ cúng tổ tiên trong đó có đạo ông bà, tuy gần gũi nhưng chưa đủ thỏa mãn tâm linh tôn giáo. Nói tóm lại, sự suy sụp của các tôn giáo và đạo lý đương thời đã tạo ra khoảng trống về tư tưởng tín ngưỡng, tạo điều kiện cho đạo Cao Đài ra đời và phát triển.

Tham gia trực tiếp vào việc hình thành đạo Cao Đài còn có tục cầu hồn, cầu tiên và nhất là tư tưởng "Tam giáo đồng nguyên" (Phật, Lão, Nho) vốn có ở nước ta từ lâu đời. Đặc biệt, từ đầu năm 1920, phong trào "Thần linh học" một hình thức mê tín của các nước phương Tây, tương tự như tục cầu hồn, cầu tiên, đã thâm nhập vào Nam Bộ, được đông đảo tầng lớp trung lưu: tư sản, địa chủ, tiểu tư sản, công chức đón nhận. Nó nhanh chóng hòa nhập với tục cầu tiên, trở thành phong trào "cầu cơ" - "chấp bút" (gọi tắt là cơ bút) phát triển khá sôi nổi trong những năm 1924 - 1925 - 1926 ở vùng Sài Gòn, Gia Định, Cần Thơ, Mỹ Tho, Tân An. dẫn đến việc ra đời đạo Cao Đài.

Có thể nói sự ra đời và phát triển của đạo Cao Đài ở Nam Bộ vào những năm đầu thế kỷ XX là do tổng hợp những nguyên nhân. Đó là: sự bế tắc của nhân dân trong cuộc sống; đấu tranh chống thực dân Pháp thất bại do chưa có đường lối chính trị đúng đắn soi đường; sự thoái hóa của các tôn giáo đương thời và truyền thống "tam giáo đồng nguyên". Cộng vào đó, là tục cầu hồn, cầu tiên và sự thâm nhập của tâm linh học. Nếu không có những nguyên nhân trên thì một nhóm tư sản, địa chủ, tiểu tư sản, công chức Pháp - 12 những người sáng lập đạo Cao Đài cũng không thể ra đời và phát triển được.

Nhìn chung, đạo Cao Đài ra đời trong bối cảnh lịch sử nhất định và phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng dân cư Nam Bộ dưới chiêu bài hòa bình, tự do, dân chủ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ