mở đầu băng những đợt di dân tự phát, không tuyên bố của người Việt từ cuối thế ky XVI, đầu thé kỷ XVII. Lúc đầu họ sống xen kẽ với người Stiêng, Mạ, Chơro, Khmer và các dân tộc khác. Sau đó họ dan dan đi sâu vào vùng đồng bang dé khai phá những nơi còn hoang đã. Công cuộc khai khân vùng đất Nam Bộ của người Việt liên quan đến ba sự kiện quan trọng, đó là: - Sự kiện thứ nhất, năm 1620, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (ở ngôi 1613- 1635) gả Công nương Ngọc Vạn cho Quốc vương Chân Lạp (Cămpuchia) là Chey Chetta II tạo thuận lợi cho cư dân Việt từ vùng Thuận - Quảng vao vùng Bà Rịa, Đồng Nai sinh sống, cũng như việc hợp pháp sự kiểm soát một cách hòa bình đối với vùng đất được người Việt khai khẩn, trước hết là vùng miền Đông Nam Bộ.
- Sự kiện thứ hai, thương gia Mặc Cửu (1655-1735) cùng với một sỐ người Hoa từ Quang Đông đến khai khan ở Hà Tiên. Về sau đã xin quy phục Chúa Nguyễn Phúc Chu (ở ngôi từ 1691-1725) đưa cả vùng đất Hà Tiên vào quyền quản lý của Chúa Nguyễn. 16 - Sự kiện thứ ba, năm 1757, vua Chân Lạp là Nac Tôn (Pra Bat Ong Thong) dâng vùng đất Tầm Phong Long (có nhiều ý kiến về diên địa Tầm Phong Long, nhưng đa số cho rằng tương đương với vùng Tứ giác Long Xuyên, nối sông Tiền với sông Hậu ngày nay) cho Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1714- 1765), vị Chúa Nguyễn đầu tiên xưng Vương. Nhu vậy, đến giữa thế ky XVIII, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, với sự nghiệp “kinh dinh”, “kinh bang” của Nguyễn Cư Trinh, địa giới vùng đất Nam Bộ cơ bản được xác định như hiện nay, từ vĩ tuyến 8°35 đến vi tuyén 11°.
Sách Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam viết rằng: “Chỉ sau hon một thé ky, tinh tir dau thé ky XVII cho dén giữa thế ky XVII, toàn bộ khu vực Nam Bộ đã thuộc quyển cai quản của Chúa Nguyễn và nhanh chóng trở thành vùng phát triển kinh tế - xã hội năng động "[11, tr. Vùng đất Nam Bộ là phần lãnh thổ cực Nam của tổ quốc Việt Nam, là vùng đất có nhiều tộc người sinh sống và đa tôn giáo đan xen nhau, gồm có 19 tỉnh, thành phố trên tổng số 63 tỉnh, thành phố của cả nước và được phân chia thành 03 tiêu vùng như: - Tiểu vùng Đông Nam Bộ là vùng đất đỏ Bazan, đất phù sa, nhiều núi và có độ cao từ 100 đến 200m so với mặt nước biên, gồm các tỉnh: Bà Rịa —Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh. - Tiểu vùng đất Sài Gòn - Gia Định được xác định là vùng tiếp giáp, chuyền tiếp giữa 02 vùng địa chất,điều kiện địa hình địa mạo khác nhau hình thành nên vùng dat này: Thành phố Hồ Chí Minh. - Tiểu vùng Tây Nam Bộ có diện tích khoảng 40.000 km, có độ cao trung bình so với mặt nước biến, gồm các tỉnh thành phố như: Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ.
17 Đồng bằng Sông Cửu Long thuộc Tây Nam Bộ được hình thành từ quá trình địa chất, địa hình địa mạo tự nhiên lâu dài vàsự bồi lắp phù sa của sông Mekong chủ yếu tạo nên, có 02 nhánh sông chính là sông Tiền và sông Hậu đồ ra biển qua các cửa biển như: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Hàm Luông, cửa Cô Chiên, cửa Ba Lai, cửa Cung Hầu, cửa Định An, cửa Tranh Đề và cửa Ba Thắc. Đây là vùng đất có địa lý môi sinh đa dạng, môi trường tự nhiên rất thích hợp cho sự phát triển ngành nghề nông - lâm - ngư nghiệp điền hình là vùng trung tâm sản xuất lúa gạo hang hóa nổi tiếng Thế giới.Tùy theo điều kiện địa lý, phân chia Đồng bang Sông Cửu Long thành những tiêu vùng môi sinh như sau: - Tiểu vùng phù sa không ngập nước nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, là vùng đất phì nhiêu nhất của Đồng băng Sông Cửu Long và có nhiều kênh rạch phục vụ cho việc điều tiết nước thuộc các tỉnh, thành phố như: Long An, Tiền Giang, Tra Vinh, Vĩnh Long, Can Tho. - Tiểu vùng đất bị nhiễm mặn và ít ngập nước do điều kiện tự nhiên của thủy triều tác động ngập nước với độ sâu từ 01 đến 1,5m vào mùa mưa và nhiễm mặn vào mùa khô do ảnh hưởng của thủy triều đưa nước biển xâm nhập mặn vào đất liền. - Tiêu vùng ngập nước nằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên - Cao Lãnh với độ ngập nước sâu từ 3,5 đến 04m thường xảy ra vào khoảng tháng 9 đến tháng 11 hằng năm.
- Tiểu vùng đất núi nằm doc theo tuyến biên giới Tây Nam có chiều dài 118km, có 15 ngọn núi lớn nhỏ, trong đó khu vực vùng núi Thất Sơn, tên gọi khác là Bay Núi, là vùng bán sơn địa ở phía tây giáp với Campuchia, có vi trí quốc phòng quan trọng nhất. Chính quyền Chúa Nguyễn chính thức xác lập chủ quyền đối với vùng đất Đồng Nai - Gia Định và xây dựng hệ thống hành chính quản lý vùng đất này vào 18 năm 1698 đặt dưới sự quản lý của Dinh Trấn Biên (Biên Hòa) và Dinh Phiên Trấn (Gia Định). Thực hiện chính sách di dân từ Quảng Bình vào thành lập xã thôn, khẩn hoang đất đai nông nghiệp sản xuất. Đồng thời, công nhận người Hoa di cư từ trước đó theo dân tịch như người Việt cư trú tại các xã Thanh Hà thuộc Biên Hòa, xã Minh Hương thuộc Gia Định thuộc quyền quản lý của 02 Dinh Trân Biên và Phiên Trân.
Triều đại Thời Mãn Thanh thay thế triều đại nhà Minh cũng có một sé trung than triều dai nhà Minh không chịu thần phục đã vượt biển sang tìm vùng đất mới sinh sống, góp phần vào quá trình khai phá, khẩn hoang vùng đất Nam Bộ phát triển trở nên trù phú. Những nhóm người Hoa đầu tiên đến vùng đất Nam Bộ khai khẩn và được Triều đình nhà Nguyễn công nhận vùng định cư tập trung là: - Nhóm người dòng tộc Mạc Cửu, người Trung Quốc di cư từ Quảng Đông sang khai khan, cát cứ vùng đất Hà Tiên (Hà Tiên - Long Xuyên - Bạc Liêu - Cà Mau năm 1709) [17, tr33-34]; - Nhóm người Hoa do các tướng nhà Minh là Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình di cư sang Việt Nam định cư ở Biên Hòa - Đồng Nai và Mỹ Tho - Tiền Giang vào năm 1679. Từ thế kỷ thứ XVII đã có những lớp cư dân người Việt, người Hoa, người Chăm di cư đến vùng đất Nam Bộ, chủ yếu là khẩn hoang, khai phá đất đai ở Dong bằng sông Cửu Long. Giữa các cộng đồng các dân tộc đến khai phá, khẳng hoang vùng đất Nam Bộ đều có đặc điểm giống nhau về hoàn cảnh lịch sử, cùng chịu tác động của môi trường tự nhiên và tương đồng về tâm lý nên quá trình khai khan hoang vùng đất này có nhiều thuận loi đã đưa vùng đất này trở nên trù phú, dan cư đông đúc, sản xất hàng hóa nông nghiệp, giao thông thương mại phát triển.
19 Đến thế kỷ thứ XVII, người Khmer từ Campuchia di cư đến Đồng bằng sông Cửu Long đã góp phan hoàn thành quá trình khai hoang, khan đất đai cải tạo thành những vùng dat màu mỡ, trù phú và hình thành tập quán quan cư canh tác nông nghiệp theo nhóm, đơn vi xã hội tự quản có mối quan hệ thân tộc, họ hàng quy tụ hình thành cụm dân cư sinh sống tập trung gọi là: Phum, Sóc. Từ cuối thế kỷ thứ XVII đến thế ky thứ XVIII, Triều đình Nhà Nguyễn thực hiện các chính sách quân sự, ngoại giao hòa bình đã giành quyền cai trị, kiểm soát vùng đất Nam Bộ mở rộng lãnh thổ kéo dài đến Hà tiên và Mũi Cà Mau. Triều đình Nhà Nguyễn đãthực hiện nhiều chính sách về chính trị, xã hội thành công quá trình khai hoang hóa vùng đất Nam Bộ và mở rộng chủ quyền bờ cõi, hoàn thành công cuộc khai khẩn vùng đất Nam Bộ vào năm 1757. Triều đình nhà Nguyễn đã thiết lập t6 chức bộ máy cai trị, kiểm soát vùng đất phía Nam đến đất Mũi Cà Mau, vùng cực Nam của tổ quốc.
Mô hình đơn vi xã hội tự quan của người Khme rcó từ trước đã được cơ cấu tích hợp nhập vào thành phan thuộc đơn vị hành chính chính thức của triều đình nhà Nguyễn quản lý đó là mô hình “Làng, xã của người Việt”. Cư dân vùng Nam Bộ gồm nhiều tộc người cùng sinh sống đan xen giữa các tộc người trên một donvi cu trú, cùng cộng cư trên vùng đất Nam bộ như: người Kinh, người Hoa, người Khmer, người Chăm, người Mạ, người Xtiêng, người Cho Ro,. Trong đó người Khmer sinh sống chủ yếu ở các tỉnh, thành phố miền Tây Nam Bộ và một số ít ở các tỉnh, thành phố Đông Nam Bộ, thành phố Hồ Chí Minh. Vùng đất Nam Bộ cũng được xem là vùng đất đa tôn giáo, tín ngưỡng bởi do mỗi tộc người, cư dân đã có niềm tin theo tôn giáo, tin theo tín ngưỡng riêng biệt theo phong tục, tập quán truyền thống của họ.
Các tôn giáo đó là: Phật giáo (bao gồm Phật giáo Bắc tông, Phật giáo Nam tông và Phật giáo người Hoa), Công giáo, Tin Lành, Cao Dai, Phật giáo Hòa Hao, Minh Su đạo, Buu Sơn Kỳ 20 hương, Tứ Ân Hiếu Nghia,., và tín ngưỡng được gìn giữ theo tập tục truyền thống của mỗi dân tộc trong một không gian văn hóa dân tộc riêng biệt. Các tín ngưỡng dân gian được mở rộng theo quá trình giao lưu văn hóa của các dân tộc tạo nên một nét văn hóa đặc sắc riêng của Nam Bộ như: Thờ cúng Mẫu, thờ cúng Ngũ hành Nương Nương, thờ cúng Thiên Y A Na,thờ cúng Bà Chúa Xứ, thờ cúng Thiên Hậu, thờ cúng ông Bồn, thờ cúng Quan Công, thờ cúng Thần Tài, thờ cúng Thổ Địa, thờ cúng Thần nông, thờ cúng Arak và Neak Ta, thờ cúng vật thần (Hỗ, Ngựa, Rồng, Rắn,. Người Khmer Nam Bộ và Phật giáo Nam tông 1. Cộng đồng người Khmer Nam Bộ Thông qua những phát hiện khảo cô học về thời tiền sử ở thời kỳ Đá mới đã phản ánh sự có mặt của thời kỳ văn hóa tiền sử Campuchia mang sắc thái địa phương, có tập trung và phát triển ở khu vực vùng Đông Bắc của Biên Hỗ.
Theo các di chỉ khảo cô học ở thời kỳ Đá mới - Đồng thau, thời kỳ Đồng thau - Sắt mới,. đã cho thay được su có mặt của một bộ phận dân cư cổ của vùng Đông Nam Á xuất hiện trên vùng đất Campuchia.