Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, lịch sử dân tộc Việt Nam chứng kiến cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước và lực lượng lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc. Trước sự xâm lược và ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, hàng loạt phong trào yêu nước theo các khuynh hướng phong kiến và dân chủ tư sản đã lần lượt nổ ra nhưng đều đi đến thất bại. Xuất phát từ thực tiễn lịch sử đó, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là phép biện chứng duy vật và quy luật mâu thuẫn, để phân tích chính xác kết cấu xã hội thuộc địa nửa phong kiến, xác định trúng mâu thuẫn chủ yếu và đề ra phương pháp giải quyết đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi. Trong giai đoạn hiện nay, những quan điểm về nhận thức và giải quyết mâu thuẫn của Hồ Chí Minh tiếp tục là cơ sở phương pháp luận có giá trị định hướng công cuộc đổi mới và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Từ bối cảnh lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu về quan điểm của Hồ Chí Minh đối với việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn trong cách mạng Việt Nam.

Mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định như sau:

  • Mục đích nghiên cứu: Phân tích và làm rõ quan điểm về nhận thức và giải quyết mâu thuẫn trong cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh, từ đó rút ra ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với xã hội Việt Nam hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Phân tích một số quan điểm về mâu thuẫn trong lịch sử triết học trước Mác và trong triết học Mác – Lênin.
    2. Phân tích và làm rõ quan điểm về nhận thức và giải quyết mâu thuẫn trong cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh qua các thời kỳ lịch sử.
    3. Phân tích ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong quan điểm của Hồ Chí Minh về mâu thuẫn đối với sự nghiệp cách mạng và giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quan điểm của Hồ Chí Minh về nhận thức và giải quyết mâu thuẫn.
  • Phạm vi nghiên cứu: Những quan điểm về nhận thức và giải quyết mâu thuẫn của Hồ Chí Minh thông qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến khi Người qua đời (năm 1969).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được triển khai trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận khoa học, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận triết học và thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam:

  • Khung lý thuyết và khái niệm nền tảng: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Trọng tâm lý thuyết là quy luật mâu thuẫn (quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập) – hạt nhân của phép biện chứng duy vật mác-xít. Luận văn vận dụng các phạm trù: mặt đối lập, sự thống nhất, sự đấu tranh và chuyển hóa của các mặt đối lập; các cặp mâu thuẫn khách quan/chủ quan, cơ bản/không cơ bản, chủ yếu/thứ yếu, bên trong/bên ngoài, đối kháng/không đối kháng; cùng cách phân loại đặc thù của Hồ Chí Minh thành mâu thuẫn chính và mâu thuẫn phụ.
  • Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
    • Phương pháp luận: Sử dụng các nguyên tắc, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
    • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp trừu tượng – cụ thể; phương pháp lịch sử – cụ thể; phương pháp so sánh đối chiếu; phương pháp phân tích, tổng hợp và khái quát hóa lý luận.
  • Nguồn tư liệu nghiên cứu: Các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen (Sự khốn cùng của triết học, Biện chứng của tự nhiên, Chống Đuy-rinh, Tư bản); các trước tác của V.I. Lênin (Bút ký triết học); các bài viết, bài nói và tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngoài ra, tác giả kế thừa các công trình nghiên cứu chuyên sâu liên quan như: Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh (Lê Hữu Nghĩa chủ biên, 2000), Những sáng tạo của Hồ Chí Minh trên đường sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam (Lê Văn Yên chủ biên, 2009), Hồ Chí Minh nhà văn hóa kiệt xuất (Song Thành, 2010), Về mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và cách giải quyết trên con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (Phạm Ngọc Quang, 2001) và công trình của Trần Đắc Hiến (2006).

Nội dung chính theo từng chương

Bố cục của luận văn bao gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và 3 chương nội dung chính (chia thành 6 tiết).

Chương 1: Một số quan điểm về mâu thuẫn trong lịch sử triết học

Chương này hệ thống hóa tiến trình hình thành và phát triển của phạm trù mâu thuẫn qua các giai đoạn lịch sử tư tưởng nhân loại:

  1. Quan điểm về mâu thuẫn trong triết học ngoài mác-xít:

    • Thời kỳ cổ đại: Phái Âm Dương gia ở Trung Quốc xem âm – dương là hai yếu tố đối chọi nhưng thống nhất, là khởi nguyên của sinh thành và biến hóa; Lão Tử (phái Đạo gia) khẳng định sự tương sinh, chuyển hóa của các mặt đối lập (có - không, dài - ngắn, cao - thấp), song bộc lộ hạn chế khi mưu toan thủ tiêu mâu thuẫn hơn là giải quyết nó. Ở Hy Lạp cổ đại, Hêraclit xem mâu thuẫn là phổ biến và động lực của biến đổi ("mọi vật sinh ra qua đấu tranh"); Dênông (trường phái Êlêát) chỉ ra nghịch lý không thể nhận thức vận động ngoài mâu thuẫn; Platon tiếp cận biện chứng qua khái niệm; Aritxtốt xem mâu thuẫn là sự đối lập không thể cùng tồn tại đồng thời trong một phán đoán logic hình thức.
    • Thời kỳ Phục hưng và Cận đại: Gioocđanô Brunô phát triển học thuyết về sự phù hợp của các mặt đối lập, xem một mặt đối lập là cơ sở của cái khác.
    • Triết học cổ điển Đức: Immanuel Kant nêu ra 4 Antinomi (nghịch lý lý tính thuần túy) với cấu trúc chính đề và phản đề, nhưng Kant chỉ thừa nhận mâu thuẫn trong tư duy thuần túy chứ phủ nhận mâu thuẫn khách quan. G.W.F. Hêghen khẳng định "mâu thuẫn là cội nguồn của tất cả vận động và sự sống", là xung lực nội tại; tuy nhiên, do đứng trên lập trường duy tâm khách quan, Hêghen quy mâu thuẫn về phạm trù tinh thần và rơi vào bảo thủ khi chủ trương giải quyết mâu thuẫn xã hội bằng sự hòa giải, thỏa hiệp.
  2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về quy luật mâu thuẫn:

    • C. Mác và Ph. Ăngghen đã đặt học thuyết mâu thuẫn trên lập trường duy vật: phê phán quan điểm chiết trung của Prudong (muốn giữ mặt tốt, bỏ mặt xấu); chỉ rõ tính khách quan, phổ biến của mâu thuẫn trong tự nhiên, xã hội và tư duy qua Biện chứng của tự nhiên và Chống Đuy-rinh. Trong bộ Tư bản, Mác phân tích xuất phát từ "tế bào" hàng hóa (mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị, lao động cụ thể và trừu tượng, lao động tư nhân và xã hội), vạch ra mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản: mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa.
    • V.I. Lênin khẳng định quy luật mâu thuẫn là hạt nhân của phép biện chứng trong Bút ký triết học; chỉ rõ sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, tạm thời, còn đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối; đưa ra phương pháp luận "kết hợp các mặt đối lập một cách có nguyên tắc" trong thời kỳ quá độ (tìm đồng minh tạm thời, kết hợp nhân tố cũ và mới, kết hợp thuyết phục và cưỡng bức).
Giai đoạn / Trường phái Đại biểu tiêu biểu Quan điểm cốt lõi về mâu thuẫn Hạn chế lịch sử
Trung Quốc cổ đại Phái Âm Dương gia, Lão Tử Âm - dương tương tác; các mặt đối lập nương tựa, chuyển hóa lẫn nhau. Mang tính trực quan, chất phác; Lão Tử có xu hướng thủ tiêu mâu thuẫn.
Hy Lạp cổ đại Hêraclit, Dênông, Aritxtốt Mọi vật sinh ra qua đấu tranh; mâu thuẫn gắn liền với nhận thức về sự vận động. Chưa phân biệt rạch ròi giữa mâu thuẫn biện chứng và mâu thuẫn logic hình thức.
Cổ điển Đức I. Kant, G.W.F. Hêghen Kant nêu 4 Antinomi; Hêghen coi mâu thuẫn là cội nguồn vận động và tự thân phát triển. Rơi vào duy tâm khách quan; Hêghen thỏa hiệp khi giải quyết mâu thuẫn xã hội.
Triết học Mác – Lênin C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin Mâu thuẫn mang tính khách quan, phổ biến; là hạt nhân của phép biện chứng; động lực phát triển. Đặt nền tảng khoa học hoàn chỉnh, khắc phục triệt để tính duy tâm và siêu hình.

Chương 2: Một số nội dung cơ bản về vấn đề nhận thức và giải quyết mâu thuẫn trong cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh

Chương 2 tập trung phân tích sự vận dụng sáng tạo của Hồ Chí Minh trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam, so sánh với các phong trào tiền bối:

  1. Nhận thức mâu thuẫn của các nhà cách mạng tiền bối trước Hồ Chí Minh:

    • Phong trào Cần Vương (1885–1896) do Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi khởi xướng: Nhận thấy mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp, nhưng chưa xác định đây là mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu cần giải quyết triệt để nhằm mở đường cho các mâu thuẫn khác.
    • Phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh: Chủ trương "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh", nhận thức được mâu thuẫn dân tộc nhưng không đánh giá đúng bản chất mâu thuẫn xã hội thuộc địa, dẫn đến chủ trương cải lương và thất bại.
    • Phong trào Đông Du và Hội Duy Tân (1904) của Phan Bội Châu: Nhận thấy mâu thuẫn gay gắt với thực dân Pháp nhưng mắc sai lầm về phương pháp khi dựa vào đế quốc Nhật Bản để đánh Pháp.
    • Việt Nam Quốc dân Đảng (1927) của Nguyễn Thái Học: Đã nhận thức được cả hai mâu thuẫn (nông dân - địa chủ và dân tộc - thực dân Pháp), nhưng thiếu đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, phong trào nhanh chóng tan rã sau khởi nghĩa Yên Bái (1930).
  2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về nhận thức và giải quyết mâu thuẫn:

    • Đặc điểm nhận thức: Hồ Chí Minh phân loại mâu thuẫn thành mâu thuẫn chính (bao hàm mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu, đối kháng, bên trong) và mâu thuẫn phụ (bao hàm mâu thuẫn không cơ bản, thứ yếu, không đối kháng, bên ngoài). Quy trình nhận thức đòi hỏi phải điều tra, nghiên cứu tận gốc rễ và phân tách một cách có hệ thống.
    • Nhận thức mâu thuẫn qua từng giai đoạn lịch sử:
      • Giai đoạn trước năm 1930: Xác định hai mâu thuẫn lớn là mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến và mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược; chỉ rõ mâu thuẫn dân tộc là mâu thuẫn chủ yếu hàng đầu. Vạch trần bản chất áp bức bằng "thuế máu", thuốc phiện, rượu cồn của chủ nghĩa thực dân.
      • Giai đoạn 1930–1945: Khủng hoảng kinh tế 1929–1933 làm sâu sắc thêm mâu thuẫn. Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập đầu năm 1930 đã thống nhất quyền lãnh đạo. Khi phát xít Nhật vào Đông Dương (tháng 9/1940), mâu thuẫn phát triển thành mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với cả thực dân Pháp và phát xít Nhật. Đến ngày 9/3/1945, khi Nhật đảo chính Pháp, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, xác định phát xít Nhật là kẻ thù chính duy nhất và phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề Tổng khởi nghĩa.
      • Giai đoạn 1945–1954: Sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền non trẻ đối mặt với thù trong giặc ngoài: gần 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch cùng tay sai Việt Quốc, Việt Cách ở phía Bắc vĩ tuyến 16; quân đội Anh tiếp tay cho thực dân Pháp quay lại xâm lược ở phía Nam vĩ tuyến 16; đằng sau là dã tâm đặt Đông Dương dưới chế độ "ủy trị" của đế quốc Mỹ. Hồ Chí Minh đã nhận thức chính xác mâu thuẫn đối kháng cốt tử để thực hiện sách lược mềm dẻo, phân hóa kẻ thù, giữ vững chính quyền cách mạng.

Chương 3: Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của quan điểm Hồ Chí Minh về mâu thuẫn

  1. Ý nghĩa lý luận:
    • Luận văn chỉ ra rằng quan điểm của Hồ Chí Minh là sự bổ sung, làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về quy luật mâu thuẫn khi vận dụng vào bối cảnh các nước thuộc địa nửa phong kiến.
    • Làm rõ nghệ thuật kết hợp biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, giải quyết mối quan hệ giữa mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp một cách khoa học, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
  2. Ý nghĩa thực tiễn:
    • Là kim chỉ nam đưa đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập dân tộc.
    • Cung cấp cơ sở phương pháp luận cho Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc nhận diện và xử lý các mâu thuẫn kinh tế, chính trị, văn hóa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay (như mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển nhanh lực lượng sản xuất với sự hoàn thiện quan hệ sản xuất; giữa tăng trưởng kinh tế và bảo đảm công bằng xã hội; giữa hội nhập quốc tế và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa).

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả khoa học chính:
    • Hệ thống hóa một cách có chỉnh thể quá trình phát triển của phạm trù mâu thuẫn từ lịch sử triết học cổ đại phương Đông, phương Tây, triết học cổ điển Đức đến triết học Mác – Lênin.
    • Phân tích và luận giải mạch lạc sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc phân loại mâu thuẫn thành "mâu thuẫn chính" và "mâu thuẫn phụ", giúp đơn giản hóa nhưng vẫn giữ nguyên tính chất sâu sắc của phép biện chứng mác-xít để phục vụ công tác tổ chức, chỉ đạo thực tiễn cách mạng.
    • Tái hiện tiến trình nhận thức và xử lý mâu thuẫn của Hồ Chí Minh qua từng mốc lịch sử cụ thể: trước 1930, 1930–1945 và 1945–1954.
  • Giải pháp và kiến nghị vận dụng: Tác giả nhấn mạnh việc vận dụng phương pháp luận của Hồ Chí Minh vào việc nhận thức đúng các mâu thuẫn nảy sinh trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, đòi hỏi phải nắm vững mâu thuẫn chủ yếu ở từng giai đoạn, giải quyết mâu thuẫn thông qua đấu tranh và kết hợp có nguyên tắc, tránh khuynh hướng nóng vội chủ quan hoặc thỏa hiệp vô nguyên tắc.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Tác giả chỉ ra rằng, trong khi các công trình trước đây chỉ đề cập tản mạn một số khía cạnh của tư tưởng Hồ Chí Minh về mâu thuẫn trong các nội dung rộng hơn về đạo đức, văn hóa hay con người (như các sách của Lê Hữu Nghĩa, Song Thành, Phạm Ngọc Quang), thì luận văn này là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên về toàn bộ quan điểm nhận thức và giải quyết mâu thuẫn của Hồ Chí Minh gắn liền với thực tiễn tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về phạm vi nghiên cứu, luận văn chủ yếu tập trung khai thác tư liệu lịch sử và các sự kiện thực tiễn trong giai đoạn từ năm 1930 đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, chưa có điều kiện khảo sát định lượng toàn diện việc vận dụng phương pháp luận này trong từng chính sách kinh tế - xã hội cụ thể ở các giai đoạn sau Đổi mới.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế vận dụng phương pháp giải quyết mâu thuẫn của Hồ Chí Minh vào việc xử lý các cặp mâu thuẫn mới xuất hiện trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận văn là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Triết học, Triết học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và Khoa học Chính trị.
  • Cán bộ làm công tác lý luận, tuyên giáo và hoạch định chính sách tham khảo phương pháp luận phân tích và xử lý mâu thuẫn xã hội trong thực tiễn lãnh đạo, quản lý.
  • Phần đáng tham khảo nhất là Chương 1 (hệ thống hóa toàn diện lịch sử phạm trù mâu thuẫn) và Chương 2 (sơ đồ hóa sự chuyển biến của nhận thức mâu thuẫn qua các giai đoạn lịch sử cách mạng Việt Nam từ trước 1930 đến sau 1945).

Câu hỏi thường gặp

  1. Hồ Chí Minh đã phân loại mâu thuẫn theo cách thức nào trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng?
    Trả lời: Hồ Chí Minh phân chia mâu thuẫn một cách cô đọng thành "mâu thuẫn chính" và "mâu thuẫn phụ". Trong đó, mâu thuẫn chính tổng hợp các yếu tố cơ bản, chủ yếu, đối kháng và bên trong; mâu thuẫn phụ bao gồm các yếu tố không cơ bản, thứ yếu, không đối kháng và bên ngoài. Cách phân chia này giúp người hoạt động thực tiễn nhanh chóng xác định đúng gốc rễ vấn đề để tập trung nguồn lực giải quyết.

  2. Vì sao các phong trào cách mạng trước năm 1930 (Cần Vương, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Việt Nam Quốc dân Đảng) đều thất bại theo nhận định của luận văn?
    Trả lời: Các phong trào trên thất bại do các nhà lãnh đạo chưa có nhận thức biện chứng khoa học về mâu thuẫn: chưa thấy được quá trình phát sinh, phát triển của các mặt đối lập, chưa xác định chính xác mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến, hoặc đưa ra phương pháp giải quyết sai lầm (như cầu viện ngoại bang hoặc cải lương).

  3. Trong giai đoạn 1940–1945, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã thay đổi nhận thức về mâu thuẫn chủ yếu như thế nào?
    Trả lời: Khi phát xít Nhật tiến vào Đông Dương (tháng 9/1940), mâu thuẫn chủ yếu được xác định là giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với cả thực dân Pháp và phát xít Nhật. Đến ngày 9/3/1945, khi Nhật đảo chính Pháp, nhận định tình thế thay đổi, Đảng đã ban hành chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, chuyển khẩu hiệu "Đánh đuổi Pháp - Nhật" thành "Đánh đuổi phát xít Nhật", tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chính là phát xít Nhật.

  4. Theo phân tích của luận văn, V.I. Lênin đã vận dụng việc "kết hợp các mặt đối lập có nguyên tắc" trên những phương diện nào?
    Trả lời: Lênin vận dụng trên 3 phương diện: (1) Tìm kiếm các bạn đồng minh tạm thời để chống lại kẻ thù chung; (2) Kết hợp nhân tố của chất cũ (tư bản chủ nghĩa) với chất mới (xã hội chủ nghĩa) trong thời kỳ quá độ; (3) Kết hợp giữa các chính sách như dàn đều và trọng điểm, nhiệt tình cộng sản và hạch toán kinh tế, thuyết phục và cưỡng bức, quy luật chiến tranh và xây dựng hòa bình.

  5. Luận văn đã chỉ ra hạn chế của Immanuel Kant và G.W.F. Hêghen khi bàn về mâu thuẫn là gì?
    Trả lời: Kant chỉ thừa nhận mâu thuẫn trong tư duy lý tính thuần túy (4 Antinomi) và phủ nhận mâu thuẫn khách quan của thế giới vật chất. Hêghen khẳng định mâu thuẫn là cội nguồn vận động nhưng lại quy mâu thuẫn về phạm trù tinh thần (ý niệm tuyệt đối) và bộc lộ tính bảo thủ khi chủ trương giải quyết mâu thuẫn xã hội bằng sự thỏa hiệp, hòa bình.


Kết luận

Luận văn đã thực hiện việc phân tích có hệ thống các quan điểm về mâu thuẫn trong lịch sử triết học và làm sáng tỏ sự vận dụng sáng tạo của Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1969. Công trình khẳng định nghệ thuật nhận thức và giải quyết mâu thuẫn của Người là sự phát triển độc đáo của phép biện chứng duy vật mác-xít trong điều kiện xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Đây là nguồn tư liệu khoa học có giá trị lý luận và phương pháp luận sâu sắc, cung cấp cơ sở định hướng cho việc giải quyết các mâu thuẫn xã hội trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay.