Chương 1: Một số vấn đề lý luận về việc làm và giải quyết việc làm. Chương 2: Thực trạng pháp luật về việc làm, giải quyết việc làm và thực tiễn thi hành tại tỉnh Quảng Bình. Chương 3: Một số yêu cầu nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về việc làm, giải quyết việc làm tại tỉnh Quảng Bình. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1.
Khái quát chung về việc làm và giải quyết việc làm 1. Quan niệm về việc làm Việc làm là mối quan tâm số một của người lao động và giải quyết việc làm là công việc quan trọng của tất cả các quốc gia. Cuộc sống của bản thân và gia đình người lao động phụ thuộc rất lớn vào việc làm của họ. Sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng gắn liền với tính hiệu quả của chính sách giải quyết việc làm.
Với tầm quan trọng như vậy, việc làm được nghiên cứu dưới nhiều góc độ như kinh tế, xã hội học, lịch sử và pháp lý. Khi nghiên cứu dưới góc độ lịch sử thì việc làm liên quan đến phương thức lao động, kiếm sống của con người và xã hội loài người. Các nhà kinh tế coi sức lao động thông qua quá trình thực hiện việc làm của người lao động là yếu tố quan trọng của đầu vào sản xuất và xem xét vấn đề thu nhập của người lao động từ việc làm. Trong thống kê, điều tra xã hội người ta quan tâm đến tỷ lệ người có việc làm và thất nghiệp, nhu cầu việc làm của xã hội.
Thông qua đó, các nhà quản lý nắm được tình trạng việc làm, tương quan cung – cầu lao động, sự phân bố nguồn lực… để đưa ra biện pháp giải quyết việc làm. Pháp luật lại chủ yếu quan tâm đến tính hợp pháp của việc làm và giải quyết việc làm, các nội dung bảo vệ việc làm hợp pháp [14, tr. Do việc làm được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau nên có nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề này. Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO), thuật ngữ “việc làm” được đề cập trong nhiều văn kiện như: Tuyên ngôn Philadenphia năm 1944; Chương trình việc làm thế giới” năm 1969; Tuyên bố tại Hội nghị việc làm thế giới năm 1976; Công ước số 22 năm 1964… nhưng trong các văn kiện này chưa 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nêu ra khái niệm “việc làm”.
Đến Hội nghị Quốc tế lần thứ 13 năm 1993 của các nhà thống kế lao động, ILO mới đưa ra quan niệm về người có việc làm và người thất nghiệp. Theo đó, người có việc làm được hiểu là những người làm một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật; còn người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ trở lại việc làm. Gần đây nhất, năm 2005, ILO đã đưa vào từ điển chuyên ngành khái niệm “làm”. Theo đó, “Việc làm là một công việc được trả công.
Việc làm cũng đề cập đến số người tự tạo việc làm và tham gia làm việc để được trả công” [3]. Đây là khái niệm ngắn gọn, chỉ đề cập một cách chung nhất, khái quát nhất đến những công việc do cá nhân thực hiện cho chính bản thân hoặc cho chủ thể khác để được trả công xứng đáng, phù hợp. Trên thế giới, quan niệm về việc làm đưa ra dưới nhiều góc độ, với những phạm vi rộng, hẹp khác nhau. Asuda (Nhật Bản) cho rằng “Việc làm là những tác động của người lao động vào vật chất sinh ra lợi nhuận”.
Còn cố vấn Văn phòng lao động Quốc tế Giăng Mutê đưa ra quan điểm “Việc làm như một tình trạng, trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có sự tham gia tích cực có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” [14, tr. Ở Việt Nam, quyền có việc làm được coi là quyền hiến định của mọi công dân. Tuy nhiên, trước năm 1986, khái niệm việc làm chỉ bó hẹp trong phạm vi những gì mà pháp luật cho phép. Trong giai đoạn này, chỉ những người trong biên chế của Nhà nước hoặc là xã viên hợp tác xã mới được coi là có việc làm nghiêm chỉnh.
Quan niệm này xuất phát từ việc đề cao các hình thức sở hữu được coi là thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (XHCN) là quốc doanh và tập thể. Bên cạnh đó, luật pháp cũng không thừa nhận sức lao động là một loại hàng hóa, không thừa nhận có sự tồn tại của các hiện tượng kinh tế - xã hội như thất nghiệp, thị trường lao động, quyền tự do kinh doanh của người dân. Nhà nước là chủ sở hữu lớn nhất và cũng là chủ sử dụng lao động lớn nhất của nền kinh tế. Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo việc làm cho mọi người lao động.
Từ quan niệm trên, các quy định pháp lý về vấn đề việc làm chủ yếu thể hiện các chế độ như: Tuyển dụng lao động, cho thôi việc đối với công nhân viên chức nhà nước; Nhà nước bảo đảm mọi vấn đề về việc làm cho lực lượng lao động trong biên chế từ tiền lương, tiền công, các chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), đào tạo bồi dưỡng, nghỉ phép, chế độ thai sản… cũng như các ưu đãi, phúc lợi xã hội khác. Do vậy, khi đề cập đến vấn đề việc làm ở khía cạnh pháp lý, người ta thường cho rằng việc làm trước hết là quyền của công dân, quyền của người lao động. Hiến pháp năm 1959 quy định: “Công dân Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền làm việc. Nhà nước dựa vào sự phát triển có kế hoạch của nền kinh tế quốc dân dần dần mở rộng công việc làm, cải thiện điều kiện lao động và lương bổng, để đảm bảo cho công dân được hưởng quyền đó” (Điều 30).
Đến Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định: “Công dân có quyền có việc làm” (Điều 58). Điều này thể hiện sự ảnh hưởng tư tưởng, nhận thức, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh lúc đó cả nước đang ra sức lao động, sản xuất, dồn lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nền kinh tế đang trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung bao cấp. Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, vấn đề việc làm đã có những thay đổi căn bản. Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân.
Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” (Điều 55). Với quan điểm mới này, đã mở ra bước chuyển căn bản nhận thức về việc làm và giải 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyết việc làm đối với Nhà nước và mỗi công dân. Một lần nữa, Hiến pháp năm 2013 Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam lại khẳng định: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm, nơi làm việc” (Điều 35). Trên cơ sở của Hiến pháp, Nhà nước đã ban hành Bộ luật lao động năm 1994 và được sửa đổi, bổ sung qua các năm 2002, 2006, 2007 và đặc biệt Bộ luật lao động năm 2012 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18/6/2012 thì khái niệm việc làm lại được hoàn chỉnh thêm một bước: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” (Điều 9).
Hơn thế, ngày 16/11/2013 tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật việc làm, khái niệm việc làm lại tiếp tục khẳng định: “Việc làm là hoạt động tạo thu nhập mà không bị pháp luật cấm” (Điều 3). Như vậy, Bộ luật lao động năm 2012 và Luật việc làm năm 2013 đều có quy định chung về khái niệm việc làm. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc làm đối với sự phát triển của mỗi quốc gia và là vấn đề bảo đảm an sinh xã hội luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Tóm lại, có thể còn có nhiều khái niệm khác nhau về việc làm nhưng dù ở góc độ nào, có thể hiểu một cách khái quát nhất: Việc làm là hoạt động lao động của con người, mang lại thu nhập, không bị pháp luật cấm và được xã hội thừa nhận.
Dưới góc độ này thì việc làm có các dấu hiệu sau. Thứ nhất, việc làm phải là những hoạt động lao động có mục đích của con người nhằm tạo ra các giá trị vật chất, tinh thần phục vụ bản thân, gia đình và xã hội. Hoạt động lao động có thể là lao động trí óc hay lao động chân tay giản đơn, lao động có trình độ cao hay là lao động trình độ thấp. Thứ hai, việc làm là hoạt động của con người tạo ra nguồn thu nhập.
Hoạt động đem lại thu nhập có thể được lượng hóa dưới các dạng: Người lao động nhận được tiền công, tiền lương hoặc hiện vật từ người sử dụng lao 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động, tự đem lại thu nhập cho người lao động. Như vậy, một hoạt động được xem xét có phải là việc làm hay không không phải là việc làm chủ yếu dựa trên tính hợp pháp của hoạt động đó. Thứ ba, việc làm là hoạt động không bị pháp luật cấm. Quan niệm trên về việc làm vừa mang tính mềm dẻo vừa tạo nhiều cơ hội để người lao động kiếm việc làm trên cơ sở nguyên tắc quan trọng của nhà nước pháp quyền “công dân có thể làm tất cả những gì pháp luật không cấm”.
“Việc làm” và “thất nghiệp” là một cặp phạm trù song hành với nhau khi bàn về vấn đề việc làm. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO),”Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương thịnh hành”. Ở Việt Nam, thất nghiệp là vấn đề mới phát sinh trong thời kỳ chuyển đồi nền kinh tế cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường.