Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Phương Thúy, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Thị Hoài Thu, tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2020. Luận án thuộc chuyên ngành Luật kinh tế, mã số 938 01 01.05.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Lao động giúp việc gia đình (LĐGVGĐ) là công việc hình thành sớm trong lịch sử và phát triển đáp ứng nhu cầu phân công lao động xã hội. Công việc này hỗ trợ giải phóng gánh nặng việc nhà cho các thành viên gia đình tham gia công tác ngoài xã hội, đồng thời tạo việc làm và thu nhập cho lao động nữ, đặc biệt là nhóm lao động nông thôn có trình độ học vấn và chuyên môn hạn chế. Theo số liệu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) được trích dẫn trong văn bản, tính đến năm 2010, toàn thế giới có khoảng 52,6 triệu LĐGVGĐ (tăng 19 triệu người so với giữa thập niên 1990), chiếm từ 5% đến 10% lực lượng lao động tại các quốc gia đang phát triển và từ 1% đến 2,5% tại các quốc gia phát triển.
Mặc dù có vai trò kinh tế - xã hội cụ thể, LĐGVGĐ là nhóm lao động đặc thù do môi trường làm việc khép kín tại các hộ gia đình, tính chất công việc đơn lẻ, không gian sống gắn liền nơi làm việc khiến ranh giới giữa thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi khó phân định. Thực tế tại Việt Nam cho thấy phần lớn hợp đồng lao động được giao kết bằng lời nói sơ sài; quyền lợi về tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, bảo hiểm xã hội (BHXH) và bảo hiểm y tế (BHYT) thường xuyên bị vi phạm; công tác quản lý nhà nước còn lỏng lẻo.
Về mặt học thuật, các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận vấn đề dưới dạng đề tài nghiên cứu cấp trường, sách chuyên khảo, bài báo tạp chí hoặc luận văn thạc sĩ. Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu là chưa có một công trình nào ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu có hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về pháp luật điều chỉnh quan hệ LĐGVGĐ ở Việt Nam trên cả bình diện lý luận lẫn thực tiễn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ một cách có hệ thống cơ sở lý luận về LĐGVGĐ và pháp luật điều chỉnh quan hệ này; phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực thi tại Việt Nam; từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:
- Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài trong và ngoài nước; xác định các nội dung đã đạt được và các vấn đề còn bỏ ngỏ cần giải quyết.
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò của LĐGVGĐ; luận giải sự cần thiết, các nguyên tắc và nội dung pháp luật điều chỉnh quan hệ LĐGVGĐ.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về LĐGVGĐ ở Việt Nam, chỉ rõ các điểm bất cập, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại đó.
- Luận giải yêu cầu khách quan của việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện, đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và giải pháp thực thi trong giai đoạn hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về LĐGVGĐ, pháp luật về LĐGVGĐ, cùng với thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về LĐGVGĐ tại Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Luận án tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý, lấy pháp luật lao động làm trục chính. Luận án không nghiên cứu giúp việc gia đình dưới góc độ hợp đồng dịch vụ dân sự thuần túy (chỉ đề cập nhằm mục đích so sánh, phân định), và không nghiên cứu thực trạng pháp luật điều chỉnh người Việt Nam đi làm giúp việc gia đình ở nước ngoài (thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật nước sở tại).
- Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu tập trung tại Việt Nam, kết hợp khảo cứu kinh nghiệm quốc tế và một số quốc gia. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được khảo cứu bao gồm Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành (như Nghị định số 27/2014/NĐ-CP, Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH), Luật Việc làm năm 2013, Luật BHXH năm 2014, Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, có đối chiếu với Bộ luật Lao động năm 1994 và Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhóm nội dung chính:
Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận về LĐGVGĐ và pháp luật về LĐGVGĐ
- Trong nước: Các công trình tiêu biểu gồm sách chuyên khảo của Nguyễn Thị Vân Anh và Lê Khanh (2000) về trẻ em làm thuê giúp việc gia đình; công trình của Ngô Thị Ngọc Anh (2010) phân tích các loại hình giúp việc gia đình tại Hà Nội; sách chuyên khảo của Đỗ Thị Dung (2018) về pháp luật LĐGVGĐ; ấn phẩm của Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Phát triển cộng đồng (GFCD) do Ngô Thị Ngọc Anh chủ biên (2018); báo cáo của Nguyễn Như Trang và cộng sự (2006); báo cáo nghiên cứu của Viện Gia đình và Giới phối hợp cùng ILO và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2012); báo cáo tóm tắt của GFCD (2014) về giá trị kinh tế của LĐGVGĐ; đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của Đỗ Thị Dung (2017). Ngoài ra, các luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Lam (2013), Nguyễn Thị Việt Anh (2014), Trần Linh Trang (2015), Phạm Trung Giang (2015), Nguyễn Chung Phước Lưu (2017) và các bài viết học thuật của Chu Mạnh Hùng (2005), Mai Huy Bích (2004), Lê Việt Nga (2006), Đào Bích Hà (2009), Đỗ Thị Dung (2016) cũng đã tiếp cận các khía cạnh về khái niệm, vai trò và nguyên tắc điều chỉnh. Về lý luận chung về hợp đồng và quyền con người, tác giả tham khảo giáo trình của Ngô Huy Cương (2013), Trường Đại học Luật Hà Nội (2014) và Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2011).
- Quốc tế: Báo cáo của Kea Tijdens và Maarten van Klaveren (2011) khảo sát tiền lương và việc làm của LĐGVGĐ tại 12 quốc gia; báo cáo của ILO (2010) về việc làm bền vững cho LĐGVGĐ dựa trên luật pháp của 72 quốc gia; luận văn của Kateryna Byelova (2014) về pháp luật Brazil; nghiên cứu của Jose Maria Ramirez-Machado (2003) phân tích tính chất dễ bị tổn thương của người lao động; tài liệu hướng dẫn xây dựng luật của ILO (2012); báo cáo của Tổng liên đoàn Lao động Quốc tế ITUC (2014) về khung pháp lý cho LĐGVGĐ nhập cư tại các nước Vùng Vịnh.
Nhóm các công trình nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành
- Các công trình chuyên khảo của Đỗ Thị Dung (2018), GFCD (2018) và báo cáo của GFCD (2013) đã phản ánh bức tranh thực tiễn về ký kết hợp đồng, bảo hiểm xã hội và điều kiện làm việc.
- Báo cáo nghiên cứu của Viện Gia đình và Giới (2012) thực hiện điều tra với cỡ mẫu cụ thể gồm 600 LĐGVGĐ, 393 người sử dụng lao động và 20 đại diện tổ chức tuyển dụng, chỉ ra khoảng cách giữa thực tế tại Việt Nam với các tiêu chí việc làm bền vững của ILO.
- Các luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực tiễn địa phương gồm Trần Linh Trang (2015), Nguyễn Quỳnh Phương (2018), Nguyễn Thị Thảo (2015), Nguyễn Thị Việt Anh (2014) và Phạm Trung Giang (2015).
- Các bài báo khoa học của Đào Mộng Điệp (2014), Lê Thị Hoài Thu và Nguyễn Thị Phương Thúy (2016), Nguyễn Thị Phương Thúy (2016), Đào Mộng Điệp và Trương Thanh Khôi (2017) tập trung phân tích các lỗ hổng về quản lý nhà nước, chế định hợp đồng và cơ chế bảo vệ quyền lợi người lao động.
| Nhóm công trình |
Tác giả, năm công bố tiêu biểu |
Nội dung và dữ liệu chính |
| Lý luận và quy chế quốc tế |
ILO (2010, 2012), Ramirez-Machado (2003), ITUC (2014) |
Khung tiêu chuẩn Công ước số 189; rà soát luật pháp 72 quốc gia thành viên ILO; hướng dẫn xây dựng quy định lao động. |
| Khảo sát nhân khẩu và thực trạng |
Kea Tijdens và Maarten van Klaveren (2011), Kateryna Byelova (2014) |
Tiền lương, độ tuổi, trình độ học vấn của người lao động tại 12 quốc gia; điều tra xã hội học và phỏng vấn tại Brazil. |
| Thực trạng và việc làm bền vững tại Việt Nam |
Viện Gia đình và Giới, ILO và Bộ LĐTB&XH (2012) |
Điều tra mẫu định lượng và định tính: 600 LĐGVGĐ, 393 người sử dụng lao động, 20 cơ sở tuyển dụng. |
| Đánh giá pháp lý chuyên khảo |
Đỗ Thị Dung (2018), GFCD - Ngô Thị Ngọc Anh (2018) |
Đánh giá tính chất việc làm không chính thức; khung pháp luật Việt Nam, Hoa Kỳ, Philippines, Uruguay, Thụy Sĩ. |
| Nghiên cứu lập pháp và quản lý |
Đào Mộng Điệp, Trương Thanh Khôi (2017), Lê Thị Hoài Thu, Nguyễn Thị Phương Thúy (2016) |
Bất cập quy định HĐLĐ, BHXH, BHYT, chế tài xử lý vi phạm và thẩm quyền quản lý của chính quyền cấp cơ sở. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở các bài viết chuyên đề, báo cáo dự án hoặc luận văn thạc sĩ phân tích một địa bàn hẹp (như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh). Luận án này lựa chọn giải quyết vấn đề ở tầm khái quát lý luận chuyên sâu, xây dựng hệ thống nguyên tắc điều chỉnh pháp luật mang tính đặc thù cho LĐGVGĐ, đánh giá toàn diện các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và đề xuất giải pháp đồng bộ theo định hướng chuẩn mực lao động quốc tế của ILO.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng 3 học thuyết và lý thuyết pháp lý cơ bản để làm nền tảng phân tích:
- Lý thuyết về hợp đồng: Hợp đồng là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các bên nhằm làm phát sinh hậu quả pháp lý. Thỏa thuận dựa trên tự do ý chí là nền tảng để giao kết, thực hiện và giải quyết tranh chấp. Luận án kế thừa các nguyên lý hợp đồng để phân tích quan hệ việc làm đặc thù giữa người giúp việc và người sử dụng lao động, vốn chịu sự bất bình đẳng về vị thế thực tế.
- Học thuyết về quyền con người: Dựa trên quan điểm quyền tự nhiên, con người có những quyền bẩm sinh, vốn có (bảo vệ thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, an sinh xã hội). Luận án sử dụng học thuyết này để luận giải nghĩa vụ của Nhà nước trong việc pháp điển hóa các chuẩn mực bảo vệ người giúp việc gia đình khỏi sự lạm dụng, bóc lột và bảo đảm an sinh xã hội.
- Lý thuyết về quyền bình đẳng: Quyền bình đẳng đòi hỏi các chủ thể không bị phân biệt đối xử trước pháp luật. Luận án lấy lý thuyết này làm cơ sở giải thích yêu cầu công nhận LĐGVGĐ là một nghề tương đương các ngành nghề khác trong nền kinh tế, bảo đảm người lao động được hưởng các tiêu chuẩn lao động cơ bản không thấp hơn người lao động trong khu vực chính thức.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, xem xét pháp luật về LĐGVGĐ trong sự vận động gắn liền với các điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội. Luận án kết hợp phương thức tiếp cận dựa trên quyền (rights-based approach), tiếp cận hệ thống, tiếp cận đa ngành và liên ngành giữa luật học, xã hội học và kinh tế học.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp tổng hợp: Tập hợp, chọn lọc thông tin từ tài liệu khoa học, báo cáo tổng kết, văn bản pháp luật để phục vụ lập luận.
- Phương pháp phân loại pháp lý: Phân định các nhóm quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng lao động giúp việc; phân loại các mô hình điều chỉnh pháp lý.
- Phương pháp khái quát hóa: Xây dựng mô hình lý thuyết ở Chương 1 và Chương 2; đúc kết các định hướng và giải pháp hoàn thiện ở Chương 4.
- Phương pháp phân tích: Mổ xẻ nội dung các quy phạm pháp luật của Bộ luật Lao động và các văn bản liên quan để làm rõ tính hợp lý hoặc những điểm xung đột, chồng chéo.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu các quy định của pháp luật Việt Nam với tiêu chuẩn quốc tế (Công ước số 189 của ILO) và pháp luật của các quốc gia như Philippines, Tây Ban Nha, Nam Phi, Kazakhstan, Malaysia, Argentina, Brazil, Guatemala, Costa Rica, Uruguay, Thụy Sĩ nhằm rút ra kinh nghiệm lập pháp.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Dữ liệu của luận án là dữ liệu thứ cấp có nguồn gốc rõ ràng, bao gồm: hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ năm 1994 đến 2015; các điều ước quốc tế và khuyến nghị của ILO; các ấn phẩm khảo cứu, số liệu thống kê được công bố chính thức từ Tổng cục Thống kê, Viện Gia đình và Giới, Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Phát triển cộng đồng (GFCD).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Chương này dành cho việc rà soát, phân loại toàn diện các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến LĐGVGĐ. Tác giả chia các công trình thành hai nhóm lớn: nhóm nghiên cứu lý luận và nhóm nghiên cứu quy định pháp luật cùng thực tiễn thi hành. Qua khảo cứu, chương khẳng định các nghiên cứu hiện có đã tạo nền tảng ban đầu về khái niệm và nhận diện đặc điểm của LĐGVGĐ, nhưng chưa có công trình nào xử lý vấn đề một cách hệ thống dưới góc độ luận án tiến sĩ luật học tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả xác định khung lý thuyết của luận án (gồm lý thuyết hợp đồng, học thuyết quyền con người, lý thuyết quyền bình đẳng), đề ra các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam cho các chương kế tiếp.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về lao động giúp việc gia đình và sự điều chỉnh của pháp luật
Chương 2 tập trung giải quyết các nội dung mang tính bản chất học thuật:
- Lịch sử và sự hình thành: Khảo cứu vị trí của người giúp việc từ thời kỳ cổ đại, phong kiến (nô lệ, gia nô, gia nhân, hầu gái) và thời Pháp thuộc (con sen, con ở, anh xe, u già, vú em). Khẳng định sự chuyển biến từ quan hệ mang tính phụ thuộc thân thể sang quan hệ lao động có thù lao trong nền kinh tế thị trường.
- Khái niệm và dấu hiệu nhận diện: Sau khi phân tích định nghĩa của ILO năm 1951, Công ước số 189 năm 2011, Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2012 và quy định của nhiều quốc gia, tác giả đưa ra định nghĩa: "Lao động giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều gia đình, không liên quan đến hoạt động thương mại." Ba dấu hiệu đặc thù được xác lập gồm: (1) Được thuê mướn theo quan hệ lao động, không phải là thành viên gia đình và không thuộc quan hệ khoán việc/dịch vụ dân sự; (2) Công việc phục vụ sinh hoạt nội bộ gia đình, không mang lại lợi nhuận trực tiếp, không gắn với sản xuất kinh doanh; (3) Thực hiện công việc thường xuyên, ổn định, có tính chất nghề nghiệp mưu sinh.
- Đặc điểm: (1) Thực hiện thường xuyên các công việc gia đình không liên quan đến thương mại (nấu ăn, giặt giũ, dọn dẹp, lái xe, chăm sóc người già, trẻ nhỏ, người bệnh) với thời giờ làm việc và nghỉ ngơi dễ bị đan xen; (2) Làm việc trong môi trường khép kín, đơn lẻ, ít có cơ hội giao lưu, tham gia tổ chức công đoàn, dễ bị cô lập và tổn thương về thân thể, danh dự, nhân phẩm; (3) Đại bộ phận là lao động nữ, xuất thân từ khu vực nông thôn, trình độ văn hóa và chuyên môn thấp.
- Sự điều chỉnh của pháp luật: Luận giải nguyên nhân cần có sự điều chỉnh riêng biệt của pháp luật lao động (thay vì thuần túy để luật dân sự điều chỉnh), xác định các nguyên tắc điều chỉnh đặc thù và phác thảo các nhóm nội dung cần lập pháp: hợp đồng lao động, điều kiện lao động, điều kiện sử dụng lao động, đào tạo, quản lý nhà nước và giải quyết tranh chấp.
Chương 3: Thực trạng pháp luật Việt Nam về lao động giúp việc gia đình và thực tiễn thực hiện
Chương này đánh giá chi tiết hệ thống quy định hiện hành (trọng tâm là BLLĐ 2012, Nghị định 27/2014/NĐ-CP, Thông tư 19/2014/TT-BLĐTBXH) đối chiếu với thực tế thực hiện:
- Về hợp đồng lao động: Pháp luật quy định HĐLĐ phải được ký bằng văn bản, có các nội dung bắt buộc. Tuy nhiên, thực tế phần lớn người sử dụng lao động và người giúp việc chỉ thỏa thuận miệng; nội dung thỏa thuận mơ hồ, thiếu chi tiết về thời giờ làm việc, chế độ nghỉ ngơi, điều kiện ăn ở. Vấn đề chấm dứt hợp đồng thường xảy ra đột ngột, không tuân thủ thời hạn báo trước.
- Về điều kiện lao động và sử dụng lao động:
- Thời giờ làm việc, nghỉ ngơi: Ranh giới giữa giờ làm việc và giờ nghỉ ngơi đối với người giúp việc ăn ở tại chỗ hầu như bị xóa nhòa; tình trạng làm việc quá số giờ quy định diễn ra thường xuyên nhưng không được tính trả lương làm thêm giờ.
- Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế: Pháp luật quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm một khoản tiền cùng kỳ trả lương để người lao động tự tham gia BHXH, BHYT tự nguyện. Thực tế cho thấy cơ chế này dẫn đến việc người lao động sử dụng khoản tiền đó cho chi tiêu sinh hoạt hằng ngày thay vì đóng bảo hiểm, khiến họ hoàn toàn nằm ngoài mạng lưới an sinh xã hội chính thức.
- Bảo vệ danh dự, nhân phẩm: Thực tiễn ghi nhận nhiều vụ việc người giúp việc bị bạo hành, lăng mạ, quấy rối tình dục; ngược lại, cũng có hiện tượng người giúp việc xâm phạm tài sản gia chủ, bắt cóc, ngược đãi trẻ em, nhưng các biện pháp kiểm soát và chế tài còn thiếu tính khả thi.
- Kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất: Thiếu quy định cụ thể, rõ ràng dẫn đến việc áp dụng tùy tiện các hình thức phạt tiền, trừ lương trái luật khi xảy ra hư hỏng tài sản.
- Về đào tạo nghề và quản lý nhà nước: Đào tạo nghề cho LĐGVGĐ chưa được tổ chức bài bản; hoạt động của các trung tâm môi giới việc làm thiếu sự giám sát chặt chẽ. Cơ chế quản lý nhà nước giao cho UBND cấp xã (như việc khai báo, đăng ký hợp đồng lao động) gần như mang tính hình thức, không có nguồn lực và công cụ thực tế để thanh tra do vướng quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân.
- Về giải quyết tranh chấp: Cơ chế hòa giải cơ sở và tài phán lao động ít khi được các bên vận dụng; khi phát sinh xung đột, phần lớn các bên tự giải quyết bằng cách chấm dứt quan hệ hoặc có hành vi tiêu cực.
Chương 4: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam
Chương cuối cùng xây dựng các định hướng, yêu cầu và hệ thống giải pháp:
- Yêu cầu hoàn thiện: (1) Khắc phục các mâu thuẫn, bất cập hiện tại; (2) Bảo đảm cân bằng quyền lợi giữa người giúp việc và người sử dụng lao động; (3) Bảo đảm sự đồng bộ với hệ thống pháp luật quốc gia và tương thích với Công ước số 189 của ILO; (4) Hướng đến mục tiêu xây dựng việc làm bền vững cho người lao động.
- Kiến nghị lập pháp:
- Hoàn thiện chế định HĐLĐ: Ban hành hợp đồng mẫu bắt buộc, cụ thể hóa các điều khoản tối thiểu, quy định rõ hậu quả pháp lý khi không giao kết hợp đồng văn bản.
- Hoàn thiện quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi: Quy định trần thời gian làm việc trong tuần, thời gian nghỉ ngơi tối thiểu trong ngày (đặc biệt đối với lao động sống chung với gia chủ), quy chế trả công làm thêm giờ.
- Cải cách chính sách BHXH, BHYT: Nghiên cứu phương thức thu nộp BHXH bắt buộc linh hoạt hoặc cơ chế đồng đóng góp phù hợp với khả năng chi trả của hộ gia đình và người lao động, không để người lao động tự do trích nộp dẫn đến bỏ qua việc tham gia.
- Hoàn thiện cơ chế đào tạo nghề và chuẩn hóa kỹ năng nghề giúp việc gia đình.
- Giải pháp thực thi: Đẩy mạnh tuyên truyền thay đổi định kiến xã hội; nâng cao trách nhiệm quản lý của UBND cấp xã; quy định quy trình thanh tra lao động đặc thù đối với môi trường hộ gia đình phù hợp với Hiến pháp; khuyến khích thành lập các hội nhóm, câu lạc bộ hoặc tổ chức công đoàn đại diện cho người lao động giúp việc gia đình.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Làm sâu sắc thêm hệ thống lý luận của khoa học luật lao động về LĐGVGĐ; phân tích tường minh khái niệm, xác lập 3 dấu hiệu nhận diện bản chất, làm rõ đặc điểm và vai trò kinh tế - xã hội của loại hình lao động này.
- Luận giải một cách có cơ sở khoa học về nhu cầu điều chỉnh pháp luật riêng biệt đối với LĐGVGĐ; xây dựng hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh đặc thù phản ánh đúng bản chất của quan hệ lao động diễn ra trong không gian hộ gia đình.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam (từ BLLĐ 1994, 2012, các nghị định, thông tư đến văn bản chuyên ngành) đối chiếu với thực tiễn áp dụng; chỉ rõ các điểm xung đột, lỗ hổng pháp lý và nguyên nhân dẫn đến tình trạng pháp luật không đi vào đời sống.
- Phân tích đối chiếu giữa pháp luật Việt Nam và các tiêu chuẩn lao động quốc tế (trọng tâm là Công ước số 189 của ILO) cũng như kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia (Philippines, Tây Ban Nha, Uruguay, Nam Phi...), tạo cơ sở khoa học cho quá trình nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị cụ thể sửa đổi, bổ sung pháp luật lao động, an sinh xã hội và nâng cao năng lực quản lý nhà nước tại cấp cơ sở nhằm phát triển việc làm bền vững cho LĐGVGĐ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ tập trung vào quan hệ lao động của người giúp việc gia đình trong nước, chưa mở rộng nghiên cứu sâu về nhóm lao động Việt Nam đi làm giúp việc gia đình tại nước ngoài (vốn chịu sự chi phối phức tạp của luật pháp quốc tế và pháp luật nước tiếp nhận).
- Luận án không đi sâu phân tích hoạt động giúp việc gia đình được thực hiện thuần túy dưới dạng cung ứng dịch vụ thương mại qua các doanh nghiệp nền tảng kỹ thuật số (kinh tế chia sẻ), do tại thời điểm nghiên cứu mô hình này đang ở giai đoạn đầu hình thành và chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự - thương mại.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục nghiên cứu cơ chế bảo vệ pháp lý cho lao động di cư làm giúp việc gia đình ở nước ngoài.
- Nghiên cứu quy chế pháp lý điều chỉnh các nền tảng ứng dụng công nghệ kết nối dịch vụ giúp việc gia đình theo giờ trong bối cảnh chuyển đổi số và kinh tế nền tảng.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho Quốc hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành; cung cấp luận cứ thực tiễn cho chính quyền địa phương trong việc hoàn thiện cơ chế đăng ký và quản lý lao động tại cơ sở.
- Đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Công trình là nguồn tư liệu học thuật giá trị phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu chuyên sâu trong các ngành Luật học (đặc biệt là bộ môn Luật Lao động và An sinh xã hội), Xã hội học, Giới và Phát triển, Công tác xã hội.
- Đối với các tổ chức chính trị - xã hội và đại diện người lao động: Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam xây dựng các chương trình tư vấn pháp lý, hỗ trợ kỹ năng và thúc đẩy thành lập các tổ chức đại diện cho lao động giúp việc gia đình.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa lao động giúp việc gia đình như thế nào và có những dấu hiệu nhận dạng cơ bản nào?
Theo luận án, lao động giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều gia đình, không liên quan đến hoạt động thương mại.
Có 3 dấu hiệu nhận biết bản chất:
- Được thuê mướn để thực hiện công việc trong khuôn khổ quan hệ pháp luật lao động, có trả công, không phải là thành viên trong gia đình và không thuộc dạng hợp đồng khoán việc hay hợp đồng dịch vụ dân sự.
- Công việc phục vụ sinh hoạt nội bộ của hộ gia đình (nấu nướng, giặt giũ, dọn dẹp, chăm sóc người già, trẻ nhỏ...), không phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại tạo ra lợi nhuận trực tiếp cho chủ nhà.
- Công việc được thực hiện thường xuyên, liên tục, có tính chất nghề nghiệp mưu sinh ổn định.
2. Định nghĩa của Công ước số 189 của ILO có điểm gì khác biệt so với các tiếp cận trước đây?
Công ước số 189 năm 2011 của ILO xác định công việc giúp việc gia đình là công việc được thực hiện trong hoặc cho một hay nhiều hộ gia đình, và người LĐGVGĐ là bất kỳ ai thực hiện công việc gia đình trong khuôn khổ quan hệ lao động. Điểm nhấn mạnh mang tính chuẩn hóa của Công ước số 189 so với các quy định trước đó là tiêu chí loại trừ: người chỉ thỉnh thoảng hoặc không thường xuyên thực hiện công việc gia đình và không làm việc đó như một nghề nghiệp thì không phải là LĐGVGĐ. Tiêu chuẩn này giúp phân định rõ ràng giữa người làm việc chuyên nghiệp với những người hỗ trợ mang tính thời vụ, giúp các quốc gia thành viên dễ dàng thiết kế phạm vi bảo vệ của luật lao động.
3. Luận án sử dụng những học thuyết, lý thuyết pháp lý nền tảng nào?
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên 3 lý thuyết, học thuyết pháp lý:
- Lý thuyết về hợp đồng: Làm cơ sở phân tích sự thỏa thuận tự nguyện, bình đẳng về ý chí và sự hình thành các điều khoản ràng buộc quyền, nghĩa vụ giữa các bên.
- Học thuyết về quyền con người: Làm cơ sở giải thích quyền được bảo vệ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, an toàn thân thể và quyền được hưởng an sinh xã hội của người lao động.
- Lý thuyết về quyền bình đẳng: Làm cơ sở luận giải việc không phân biệt đối xử giữa lao động giúp việc gia đình với người lao động trong các ngành nghề khác trong nền kinh tế.
4. Bất cập lớn nhất trong cơ chế đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người giúp việc gia đình hiện nay theo luận án là gì?
Bất cập lớn nhất là pháp luật hiện hành quy định người sử dụng lao động chi trả trực tiếp một khoản tiền tương đương mức đóng BHXH, BHYT vào tiền lương để người lao động tự tham gia bảo hiểm tự nguyện. Do thu nhập thấp và thói quen chi tiêu trước mắt, đại đa số người lao động sử dụng khoản tiền này cho sinh hoạt hàng ngày mà không mua bảo hiểm. Kết quả là người giúp việc gia đình vẫn hoàn toàn đứng ngoài mạng lưới an sinh xã hội, không được bảo vệ khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc khi hết tuổi lao động.
5. Yêu cầu trọng tâm của việc hoàn thiện pháp luật về LĐGVGĐ được luận án xác định là gì?
Luận án xác định việc hoàn thiện pháp luật phải đáp ứng 4 yêu cầu: khắc phục các hạn chế, bất cập trong quy định và thực tiễn thi hành; bảo đảm hài hòa quyền lợi cho cả người lao động và người sử dụng lao động; hướng tới sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật quốc gia và phù hợp với tiêu chuẩn lao động quốc tế (Công ước số 189 của ILO); hướng tới mục tiêu đưa giúp việc gia đình trở thành một nghề nghiệp ổn định, đạt chuẩn việc làm bền vững.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Phương Thúy đã nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về lao động giúp việc gia đình tại Việt Nam. Trên cơ sở tiếp cận quyền con người, quyền bình đẳng và chuẩn mực của Tổ chức Lao động Quốc tế, công trình đã phân tích sâu sắc các hạn chế trong cơ chế hợp đồng, điều kiện lao động, an sinh xã hội và quản lý nhà nước hiện hành. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực thi được đề xuất mang tính đồng bộ, góp phần xây dựng khung pháp lý bảo vệ nhóm lao động yếu thế và thúc đẩy việc làm bền vững trong nền kinh tế thị trường.