CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến đề tài Giúp việc gia đình là một công việc đã xuất hiện từ sớm trong xã hội được nhiều người lao động nữ lựa chọn để mang lại thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình họ. Công việc này ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với các hộ gia đình và cả xã hội. Chính vì vậy, LĐGVGĐ ngày càng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong lực lượng lao động của các quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, giá trị của công việc này vẫn bị xã hội đánh giá thấp, nghề GVGĐ vẫn bị nhiều người cho là nghề nghiệp không cần đến chuyên môn và không được tôn trọng. LĐGVGĐ trên thế giới và ở Việt Nam phần lớn là lao động nữ, nhiều quốc gia là những người lao động nữ nhập cư, chủ yếu xuất thân từ nông thôn, điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ học vấn, hiểu biết pháp luật thấp, hơn nữa họ thường làm việc đơn lẻ trong môi trường khép kín tại một hoặc một vài hộ gia đình. Do đó, khi tham gia vào quan hệ lao động họ thường là người yếu thế, dễ bị thiệt thòi, dễ bị vi phạm quyền lợi. Chính vì vậy, pháp luật của nhiều nước và pháp luật lao động Việt Nam đã có những quy định pháp lý riêng phù hợp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của LĐGVGĐ, giúp họ được tiếp cận với các điều kiện lao động tốt hơn và bình đẳng như những người lao động khác.
Trong những năm gần đây, nghiên cứu về LĐGVGĐ đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm tiếp cận trên các khía cạnh kinh tế, xã hội và pháp lý. Đặc biệt từ sau khi ILO thông qua Công ước số 189 về “Việc làm bền vững cho LĐGVGĐ” thì những nghiên cứu về pháp luật liên quan LĐGVGĐ được quan tâm hơn. Pháp luật về LĐGVGĐ ở mỗi quốc gia được xây dựng khác nhau, quy định ở những văn bản pháp luật khác nhau phụ thuộc vào đặc thù riêng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, xu hướng của đa số các quốc gia hiện nay là ngày càng quan tâm và nỗ lực trong việc hoàn thiện pháp luật về LĐGVGĐ và thúc đẩy việc thực thi có hiệu quả pháp luật về LĐGVGĐ.
Ở Việt Nam trong những năm gần đây với sự phát triển về số lượng và sự đóng góp quan trọng của LĐGVGĐ, Nhà nước đã có quy định pháp luật riêng điều chỉnh đối với người LĐGVGĐ bên cạnh những quy định chung liên quan đến quan hệ lao động vẫn được sử dụng. Xuất phát từ những tiền đề trên, tác giả tiến hành nghiên cứu, rà soát các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến LĐGVGĐ và pháp luật về 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LĐGVGĐ ở Việt Nam, tập trung trong lĩnh vực khoa học pháp lý để đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án. Nhóm các công trình nghiên cứu vấn đề lý luận về lao động giúp việc gia đình và pháp luật về lao động giúp việc gia đình Các công trình nghiên cứu lý luận về LĐGVGĐ Những vấn đề lý luận về LĐGVGĐ được nghiên cứu trong nhiều ngành khoa học như luật học, xã hội học, kinh tế học,… Mỗi công trình khoa học như sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, luận văn thạc sỹ, bài viết đăng trên các tạp chí khoa học… có những cách tiếp cận và luận giải riêng về LĐGVGĐ. Có thể kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nước thời gian qua như: Cuốn sách “Trẻ em làm thuê giúp việc gia đình ở Hà Nội” (2000), do Nguyễn Thị Vân Anh và Lê Khanh chủ biên xuất bản tại Nxb Chính trị Quốc gia đã tập trung làm rõ các khía cạnh lý luận liên quan đến trẻ em, trong đó quyền trẻ em được coi là cơ sở, nền tảng pháp lý cho việc nghiên cứu về lao động trẻ em.
Công trình đã mô tả rõ các đặc điểm về gia đình, lứa tuổi, trình độ học vấn và chỉ ra một số đặc điểm về phẩm chất tâm lý của trẻ em làm nghề GVGĐ [31]. Trong cuốn sách “Một số loại hình giúp việc gia đình ở Hà Nội hiện nay và các giải pháp quản lý” (2010) do tác giả Ngô Thị Ngọc Anh chủ biên, Nxb Lao động đã phân tích rõ đặc điểm của hoạt động GVGĐ và các hộ gia đình sử dụng người GVGĐ. Từ đó, tác giả đưa ra quan niệm: “Giúp việc gia đình là một khái niệm được dùng để chỉ việc thực hiện hàng loạt những công việc trong gia đình từ công việc nội trợ phục vụ các bữa ăn của gia đình đến các việc nhà như vệ sinh nhà cửa, lau chùi, dọn dẹp, giặt giũ,… và cả việc chăm sóc người già, trẻ em của những người không phải là thành viên trong hộ gia đình và họ được trả công trên cơ sở thỏa thuận” [29]. Khái niệm này đã liệt kê được một số dạng công việc GVGĐ.
Tuy nhiên, tác giả lại chưa luận giải được các đặc trưng riêng có của LĐGVGĐ so với những loại hình lao động khác. Sách chuyên khảo “Pháp luật về lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam” (2018) của TS. Đỗ Thị Dung (chủ biên), Nxb Tư pháp đã phân tích luận giải tương đối sâu sắc về những đặc trưng của của LĐGVGĐ. Theo tác giả, LĐGVGĐ có một số đặc điểm riêng như: LĐGVGĐ thực hiện thường xuyên các công việc trong gia đình; LĐGVGĐ làm việc trong môi trường khép kín, đơn lẻ; LĐGVGĐ chủ yếu là lao động nữ và có trình độ học vấn thấp.
Ngoài ra, cuốn sách cũng đã phân tích vai trò của LĐGVGĐ và đưa ra các cách phân loại LĐGVGĐ [40]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong cuốn sách chuyên khảo “Lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam” (2018) của GFCD do TS Ngô Thị Ngọc Anh (chủ biên) đã giới thiệu định nghĩa về LĐGVGĐ theo quy định tại Công ước số 189 của ILO về “Việc làm bền vững cho LĐGVGĐ”, pháp luật Hoa Kỳ và pháp luật Việt Nam. Từ đó, công trình cũng đưa ra nhận xét về định nghĩa LĐGVGĐ. Đồng thời, cuốn sách cũng đưa ra những phân tích về giá trị kinh tế - xã hội của LĐGVGĐ [87].
Một số công trình nghiên cứu ở cấp độ như báo cáo nghiên cứu, đề tài nghiên cứu khoa học cũng đã đề cập đến các khía cạnh như khái niệm, đặc điểm của LĐGVGĐ, phân loại LĐGVGĐ, vai trò của LĐGVGĐ. Trong “Báo cáo tổng hợp: Kết quả nghiên cứu trẻ em làm thuê giúp việc gia đình ở Việt Nam” (2006) Nguyên Nguyễn Như Trang và cộng sự cũng đưa ra định nghĩa về làm thuê giúp việc gia đình là được thuê làm những công việc trong gia đình như rửa chén, nấu ăn, lau nhà, trông em, và có thể được yêu cầu tham gia các công việc khác mang lại thu nhập trực tiếp cho gia đình chủ thuê. Định nghĩa này tiếp cận theo hướng mở rộng hơn phạm vi công việc GVGĐ, có thêm cả việc mang lại thu nhập trực tiếp cho gia đình chủ thuê [78]. Báo cáo “Việc làm bền vững đối với lao động giúp việc gia đình” được thực hiện dưới sự ủy quyền của ILO và Bộ LĐTB&XH xuất bản tại Nxb.
Lao động - Xã hội năm 2012 là một công trình nghiên cứu toàn diện từ vấn đề lý luận đến thực trạng LĐGVGĐ ở Việt Nam. Trong đó, báo cáo đã đưa ra quan niệm về LĐGVGĐ trên cơ sở các định nghĩa đã có và căn cứ vào thực tình hình thực tiễn ở Việt Nam, cụ thể: “Người LĐGVGĐ là những người được trả tiền công trên cơ sở thỏa thuận với người sử dụng lao động để thực hiện thường xuyên các công việc cho gia đình từ công việc nhà, như đi chợ, nấu ăn, vệ sinh nhà cửa, la u chùi, dọn dẹp, giặt giũ; việc chăm sóc các thành viên trong gia đình, như người già, trẻ em, phụ nữ mang thai, sau khi sinh, người khuyết tật,… đến việc kết hợp công việc nhà, việc chăm sóc các thành viên trong gia đình với thực hiện các công việc tạo ra lợi nhuận cho gia đình ở quy mô nhỏ (từ 10 lao động trở xuống). Các hoạt động này có thể diễn ra trong hoặc ngoài gia đình” [75, tr. Như vậy, định nghĩa về LĐGVGĐ trong nghiên cứu này có điểm khác biệt so với nhiều nghiên cứu trong nước và định nghĩa của quốc tế.
LĐGVGĐ trong định nghĩa này không chỉ bao gồm những công việc nội trợ, chăm sóc trẻ em, người già… không mang lại lợi nhuận cho gia đình mà còn bao gồm cả những công việc kết hợp giữa công việc nhà và công việc liên quan 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến hoạt động thương mại tạo ra lợi nhuận cho gia đình. Ngoài ra, công trình cũng làm rõ những đặc trưng của LĐGVGĐ trên thế giới và ở Việt Nam. Báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu “Giá trị kinh tế của lao động giúp việc gia đình đối với gia đình và xã hội” (2014) của GFCD lại tập trung phân tích các khía cạnh lý luận khác của LĐGVGĐ. Báo cáo đã phân tích tương đối sâu sắc những giá trị kinh tế của LĐGVGĐ đối với bản thân người lao động, đối với hộ gia đình người GVGĐ, đối với hộ gia đình người của người sử dụng lao động và đối với sự phát triển kinh tế - xã hội [83].
Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Pháp luật lao động Việt Nam về lao động giúp việc gia đình - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” (2017) của Trường đại học Luật Hà Nội do TS. Đỗ Thị Dung làm chủ nhiệm trên cơ sở khảo cứu khái niệm về LĐGVGĐ trong các văn bản quốc tế cũng như pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và khái niệm LĐGVGĐ trong BLLĐ năm 2012 đã đưa ra nhận xét, đánh giá tương đối sâu sắc về từng cách định nghĩa về LĐGVGĐ. Bên cạnh đó, công trình cũng đã phân tích được các đặc điểm riêng của người LĐGVGĐ so với những người lao động làm việc trong các lĩnh vực khác. Đồng thời, đề tài đã phân tích vai trò của LĐGVGĐ trên các khía cạnh đối với chính người LĐGVGĐ; đối với gia đình người sử dụng LĐGVGĐ và đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước [39].