Sở Hữu Chung Của Vợ Chồng Đối Với Quyền Tài Sản Theo Pháp Luật Ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ VNU phân tích sở hữu chung của vợ chồng đối với quyền tài sản theo pháp luật Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc và chi tiết.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật dân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

120
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỞ HỮU CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG ĐỐI VỚI QUYỀN TÀI SẢN VÀ VẤN ĐỀ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT

1.1. Khái niệm, sự phân loại quyền tài sản và đặc điểm quyền sở hữu đối với quyền tài sản

1.2. Đặc điểm của sở hữu chung của vợ, chồng đối với quyền tài sản và nội dung điều chỉnh pháp luật quan hệ sở hữu chung của vợ chồng đối với quyền tài sản

1.2.1. Đặc điểm của sở hữu chung của vợ, chồng đối với quyền tài sản

1.2.2. Vấn đề điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ sở hữu chung của vợ chồng đối với quyền tài sản

1.3. Pháp luật Việt Nam về sở hữu chung của vợ, chồng đối với tài sản qua các giai đoạn phát triển

1.3.1. Quy định trước năm 1945

1.3.2. Quy định của pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2000

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ SỞ HỮU CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG ĐỐI VỚI QUYỀN TÀI SẢN – NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

2.1. Nội dung pháp luật Việt Nam hiện hành về sở hữu chung của vợ, chồng đối với quyền tài sản

2.1.1. Khái quát về sở hữu chung của vợ, chồng theo Luật HNGĐ Việt Nam

2.1.2. Căn cứ phát sinh sở hữu chung của vợ, chồng đối với quyền tài sản

2.1.3. Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với quyền tài sản thuộc sở hữu chung của vợ, chồng

2.1.4. Các căn cứ chấm dứt sở hữu chung của vợ, chồng đối với quyền tài sản

2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về sở hữu chung của vợ, chồng đối với quyền tài sản - Một số vấn đề đặt ra và phương hướng hoàn thiện

2.2.1. Một số vấn đề bất cập trong pháp luật về sở hữu chung của vợ, chồng đối với quyền tài sản

2.2.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về sở hữu chung của vợ chồng đối với quyền tài sản

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Sở Hữu Chung Của Vợ Chồng Đối Với Quyền Tài Sản

Sở hữu chung của vợ chồng là một khái niệm quan trọng trong pháp luật Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được thừa kế hoặc tặng cho chung. Điều này không chỉ đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên mà còn tạo ra sự công bằng trong việc phân chia tài sản khi có tranh chấp xảy ra.

1.1. Khái Niệm Sở Hữu Chung Của Vợ Chồng

Sở hữu chung của vợ chồng được định nghĩa là quyền sở hữu tài sản mà cả hai vợ chồng cùng có quyền và nghĩa vụ đối với tài sản đó. Điều này bao gồm cả quyền sử dụng, định đoạt và hưởng lợi từ tài sản chung.

1.2. Đặc Điểm Của Sở Hữu Chung

Sở hữu chung của vợ chồng có những đặc điểm riêng biệt như tính đồng sở hữu, tính không thể chia tách và tính hợp pháp. Những đặc điểm này giúp bảo vệ quyền lợi của cả hai bên trong quan hệ hôn nhân.

II. Vấn Đề Pháp Luật Liên Quan Đến Sở Hữu Chung Của Vợ Chồng

Pháp luật Việt Nam đã có những quy định rõ ràng về sở hữu chung của vợ chồng, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết. Các quy định hiện hành chưa hoàn toàn đáp ứng được thực tiễn, dẫn đến nhiều tranh chấp và khó khăn trong việc áp dụng.

2.1. Các Quy Định Pháp Luật Hiện Hành

Luật Hôn nhân và Gia đình quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định này trong thực tế vẫn gặp nhiều khó khăn.

2.2. Những Bất Cập Trong Pháp Luật

Một số quy định chưa rõ ràng, dẫn đến việc các bên tham gia quan hệ sở hữu chung gặp khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình. Điều này cần được xem xét và điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn.

III. Phương Pháp Giải Quyết Tranh Chấp Về Sở Hữu Chung

Để giải quyết các tranh chấp liên quan đến sở hữu chung của vợ chồng, pháp luật Việt Nam đã đưa ra một số phương pháp và cơ chế. Những phương pháp này nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên và tạo ra sự công bằng trong việc phân chia tài sản.

3.1. Thương Lượng Và Hòa Giải

Thương lượng và hòa giải là phương pháp đầu tiên được khuyến khích trong việc giải quyết tranh chấp. Điều này giúp các bên có thể tự thỏa thuận và tìm ra giải pháp hợp lý.

3.2. Giải Quyết Qua Tòa Án

Khi các bên không thể tự giải quyết, việc đưa vụ việc ra tòa án là cần thiết. Tòa án sẽ xem xét và đưa ra phán quyết dựa trên các quy định của pháp luật.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Sở Hữu Chung Trong Đời Sống

Sở hữu chung của vợ chồng không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn có ảnh hưởng lớn đến đời sống hàng ngày. Việc hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ của mình sẽ giúp các cặp vợ chồng có thể quản lý tài sản chung một cách hiệu quả.

4.1. Quản Lý Tài Sản Chung

Việc quản lý tài sản chung cần được thực hiện một cách minh bạch và công bằng. Các cặp vợ chồng nên có sự thỏa thuận rõ ràng về cách thức quản lý và sử dụng tài sản chung.

4.2. Bảo Vệ Quyền Lợi Của Phụ Nữ

Pháp luật hiện hành đã có những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ sở hữu chung. Điều này giúp nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội.

V. Kết Luận Về Sở Hữu Chung Của Vợ Chồng

Sở hữu chung của vợ chồng là một vấn đề phức tạp nhưng rất quan trọng trong pháp luật Việt Nam. Việc hoàn thiện các quy định pháp luật về sở hữu chung sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi của các bên và tạo ra sự công bằng trong xã hội.

5.1. Tương Lai Của Sở Hữu Chung

Trong bối cảnh phát triển kinh tế và xã hội hiện nay, việc điều chỉnh các quy định về sở hữu chung của vợ chồng là cần thiết để phù hợp với thực tiễn.

5.2. Đề Xuất Hoàn Thiện Pháp Luật

Cần có những nghiên cứu và đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về sở hữu chung của vợ chồng, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các bên.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls sở hữu chung của vợ chồng đối với quyền tài sản theo pháp luật ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương I nói về bất động sản và chương II nói về động sản). Trong thiên II quyển thứ hai của Bộ luật này nói về quyền sở hữu đã ghi nhận cách phân loại khác đó là tài sản bao gồm vật, các vật quyền và các tố quyền nhằm đòi lại tài sản. BLDS Đức 1900 cũng không có định nghĩa cụ thể về tài sản nhưng xuyên suốt các quy định của bộ luật này người ta có thể hiểu rằng tài sản theo nghĩa pháp lý không chỉ là vật mà chủ yếu là các quyền. Cách nhận thức về tài sản của các nước theo hệ thống luật Châu Âu lục địa cũng khá tương đồng với các nước theo họ Pháp luật Anh - Mỹ.

Các nước theo họ pháp luật Anh – Mỹ cho rằng tài sản là một tập hợp các quyền trên vật có hiệu lực chống lại những sự xâm hại của các chủ thể khác. Các luật gia Hoa Kỳ cho rằng, tài sản là các quyền giữa mọi người có liên quan tới vật, hay nói cách khác, bao gồm một hệ thống các quyền được thừa nhận về mặt pháp lý do ai đó thủ đắc trong mối liên hệ với những người khác mà liên quan tới vật. Họ coi tài sản là “một mớ quyền” (a bundle of rights) điều này có nghĩa là tài sản là một tập hợp các quyền trên vật có hiệu lực chống lại những người khác. Sự chống lại hay quyền loại trừ được các luật gia Hoa Kỳ xem là xương sống của tập hợp các quyền và diễn đạt ý tưởng về sự độc quyền của chủ sở hữu đối với tài sản [8].

16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Qua các phân tích nêu trên có thể nhận thấy rằng mặc dù có sự thể hiện khác nhau tuy nhiên các hệ thống pháp luật trên thế giới có cách hiểu này khá tương đồng với nhau về khái niệm pháp lý của tài sản. Tài sản chính là tổng hợp các quyền của chủ thể có tài sản và đối kháng với các chủ thể khác. Các quyền đó được phân loại theo các tiêu chí khác nhau và được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Tuy nhiên ở Việt Nam các luật gia lại có cách quy định khác về khái niệm tài sản.

Điều 163 BLDS 2005 có đưa ra khái niệm “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.” Cách quy định này của BLDS 2005 thực chất chỉ mang tính liệt kê những đối tượng nào được coi là tài sản theo pháp luật Việt Nam. Mặc dù khái niệm tài sản trong BLDS 2005 đã được sửa đổi một cách hợp lý hơn so với BLDS 1995 tuy nhiên vẫn có nhiều tranh luận khác nhau về khái niệm này. Theo quan niệm của luật Việt Nam hiện hành thì khái niệm tài sản bao gồm cả quyền tài sản và quyền tài sản được coi là một loại tài sản cơ bản bên cạnh các loại tài sản khác là vật, tiền và giấy tờ có giá. Chính vì quan niệm nội hàm khái niệm tài sản trong các hệ thống pháp luật khác nhau là khác nhau nên cách hiểu về khái niệm quyền tài sản trong các hệ thống pháp luật cũng có điểm khác biệt.

Khái niệm quyền tài sản là một khái niệm khá mới trong nền khoa học pháp lý ở nước ta nên cho đến hiện nay trong giới nghiên cứu luật học ở Việt Nam vẫn còn tồn tại những quan điểm khác nhau về khái niệm quyền tài sản. Hiện nay trong giới nghiên cứu luật ở Việt Nam, các chuyên gia đã đưa ra một số quan điểm khác nhau về khái niệm quyền tài sản như sau: Cách hiểu chính thống của các nhà làm luật Việt Nam về quyền tài sản được ghi nhận tại điều 181 BLDS 2005 đó là “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”. Thực ra quy định tại Điều 181 BLDS 2005 chưa phải là khái niệm quyền tài sản mà chỉ nêu ra hai yêu cầu cơ bản để một quyền được coi là quyền tài sản đó là phải trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự. Việc nêu ra hai yêu cầu cơ bản này của quyền tài sản nhằm mục đích phân biệt các quyền tài sản với các quyền không mang tính tài sản.

17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một quyền muốn được coi là tài sản thì trước hết quyền đó phải trị giá được bằng tiền. Đây là đặc điểm nhằm phân biệt quyền tài sản với quyền nhân thân. Quyền nhân thân được ghi nhận trong BLDS là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (điều 24 BLDS 2005). Quyền nhân thân là các quyền liên quan đến giá trị tinh thần và gắn liền với mỗi cá nhân, quyền nhân thân cũng là nội dung cơ bản của phạm trù nhân quyền.

Chính vì vậy quyền nhân thân không thể trị giá được bằng tiền mà chỉ có các quyền tài sản mới có thể trị giá được bằng tiền. Giá trị của quyền tài sản có được thông qua các hình thức pháp lý khác nhau như : thông qua hợp đồng dân sự như quyền đòi nợ, quyền sử dụng tài sản thuê. hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho như quyền sử dụng đất, quyền khai thác khoáng sản hoặc thông qua hoạt động sáng tạo ra tác phẩm hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu công nghiệp. Có một số quyền tài sản gắn liền với yếu tố nhân thân như quyền tác giả và các quyền liên quan và trong một số trường hợp yếu tố nhân thân ảnh hưởng lớn đến giá trị của quyền tài sản đó ví dụ như tác phẩm của một họa sĩ nổi tiếng sẽ có giá trị lớn hơn rất nhiều so với tác phẩm của một họa sĩ bình thường.

Các quyền sở hữu trí tuệ là các quyền vô hình và giá trị của các quyền đó có thể thay đổi theo thời gian và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nên việc định giá tài sản trí tuệ là rất khó. Đặc tính cơ bản thứ hai của quyền tài sản theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành đó là quyền đó có thể được chuyển giao trong giao lưu dân sự. Điều này có nghĩa quyền tài sản phải là quyền được tự do lưu thông trong các giao dịch dân sự. Tuy nhiên với yêu cầu này của điều 181 BLDS 2005 thì còn nhiều loại quyền mang tính chất tài sản có nghĩa là có thể được định giá bằng tiền nhưng không thể tự do chuyển giao trong giao dịch dân sự như các quyền tài sản gắn liền với nhân thân (quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế…) thì không phải là quyền tài sản.

Như vậy nội hàm của khái niệm quyền tài sản trong pháp luật Việt Nam dường như có sự khác biệt so với pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới. Ví dụ: trong Luật về quyền tài sản của Trung Quốc được ban hành vào ngày 16 tháng 3 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năm 2007 thì khái niệm quyền tài sản được ghi nhận như một loại quyền đối lập hoàn toàn với quyền nhân thân đó chính là “quyền tài sản là quyền có thể được định giá bằng tiền”. Khái niệm quyền tài sản trong Luật Trung Quốc có nội hàm rộng hơn khái niệm đó trong luật Việt Nam vì còn bao gồm cả các quyền gắn với nhân thân nhưng lại có tính cách tài sản. Cũng theo quan điểm của các nhà làm luật thì thông qua định nghĩa tại điều 181 và các quy định khác của BLDS 2005, khác với vật (tài sản hữu hình) quyền tài sản là tài sản vô hình.

Để tồn tại với ý nghĩa là tài sản vô hình thì ngoài việc đáp ứng được hai điều kiện được nêu ở điều 181, các tài sản vô hình còn phải có một số đặc điểm sau [2, tr. 426]: Đầu tiên, tài sản vô hình cần phải nhận dạng được. Việc nhận dạng tài sản vô hình có thể thông qua một số chứng cứ hữu hình để có thể mô tả được loại tài sản vô hình đó. Ví dụ: một sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, khoa học – công nghệ nếu mới chỉ hình thành trong ý nghĩ của người sáng tạo chúng thì chưa được coi là tác phẩm và người có ý nghĩ đó chưa được bảo hộ quyền tác giả mà ý nghĩ đó phải được thể hiện dưới một dạng vật chất nhất định thì mới được bảo hộ (điều 737 BLDS 2005); hay các quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa.

thì quyền sở hữu các đối tượng này được thể hiện bằng giấy chứng nhận do các cơ quan nhà nước cấp. Quyền sử dụng đất hay quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề thể hiện ở giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thỏa thuận sử dụng hạn chế bất động sản liền kề được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Các trái quyền được ghi nhận trong hợp đồng, trong quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc một số loại quyền được ghi nhận tại giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như là giấy phép khai thác khoáng sản. Đây là một điều kiện quan trọng để một quyền vô hình được coi là tài sản vì nếu không thể nhận biết được thì pháp luật cũng như các chủ thể khác không thể công nhận và tôn trọng quyền của chủ sở hữu đối với loại tài sản đó và nếu không thể nhận biết được thì bản thân chủ sở hữu quyền tài sản đó cũng không thể thực hiện quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản của mình.

19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiêu chí thứ hai là phải nhận biết được thời điểm bắt đầu cũng như kết thúc quyền tài sản đó. Việc nhận biết sự tồn tại của quyền tài sản cũng việc dựa trên các bằng chứng, tài liệu xác nhận quyền tài sản như đã phân tích ở trên. Đối với các vật quyền thì ngoài các căn cứ nói trên, ở một số nước có thiết lập hệ thống đăng ký các vật quyền tạo điều kiện cho tất cả các chủ thể quan tâm có thể biết được về sự tồn tại của vật quyền đó. Tiêu chí thứ ba là chủ sở hữu tài sản vô hình được pháp luật bảo vệ khi quyền sở hữu bị xâm phạm thì chủ sở hữu cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý khi thực hiện quyền sở hữu các loại tài sản vô hình này [58, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Sở Hữu Chung Của Vợ Chồng Đối Với Quyền Tài Sản Theo Pháp Luật Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy định pháp luật liên quan đến quyền sở hữu tài sản chung của vợ chồng tại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ giải thích các khái niệm cơ bản mà còn phân tích các quy định pháp lý hiện hành, giúp người đọc hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong mối quan hệ hôn nhân.

Đặc biệt, tài liệu mang lại lợi ích cho những ai đang tìm hiểu về quyền sở hữu tài sản, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn cuộc sống. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ luật học đề tài nội dung quyền sở hữu theo pháp luật việt nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, nơi cung cấp cái nhìn tổng quát về quyền sở hữu theo pháp luật Việt Nam, hoặc Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp nhân trong hệ thống các chủ thể của quan hệ pháp luật, giúp bạn hiểu rõ hơn về các chủ thể trong quan hệ pháp luật. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ vnu ls thỏa thuận lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, để nắm bắt các quy định liên quan đến tranh chấp tài sản trong thương mại quốc tế. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về lĩnh vực pháp luật tài sản tại Việt Nam.