Tổng quan nghiên cứu

Tính đến tháng 4 năm 2006, theo số liệu thống kê chính thức từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Việt Nam đã cấp giấy phép đầu tư ra nước ngoài cho 153 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt 655,3 triệu USD, hiện diện tại 33 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn cầu. Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam khởi đầu chính thức từ tháng 4 năm 1999 sau khi Nghị định 22/1999/NĐ-CP được ban hành. Tuy nhiên, sau 6 năm triển khai, hoạt động này phần lớn vẫn mang tính chất thử nghiệm, tự phát và manh mún. Vấn đề nghiên cứu cốt lõi đặt ra là sự bất cập, thiếu đồng bộ của khung khổ pháp lý, sự hạn hẹp trong việc quy định các hình thức đầu tư và cơ chế quản lý ngoại hối cứng nhắc, gây cản trở trực tiếp đến dòng vốn và năng lực cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp nội địa.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư ra nước ngoài và các hình thức đầu tư quốc tế; phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh hình thức đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 1999 – 2006; đối chiếu với chuẩn mực quốc tế và kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật trước bối cảnh Luật Đầu tư 2005 chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2006.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ các chủ thể kinh doanh theo pháp luật Việt Nam tham gia hoạt động đầu tư trực tiếp và gián tiếp ra nước ngoài từ năm 1999 đến tháng 4 năm 2006, đặt trong sự so sánh với hệ thống pháp luật của Trung Quốc và các hiệp định đầu tư quốc tế như Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA). Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm giải phóng năng lực kinh doanh, tạo hành lang pháp lý an toàn thúc đẩy tăng trưởng quy mô vốn đầu tư ngoại hướng đạt mục tiêu trên 1 tỷ USD trong giai đoạn tiếp theo, đồng thời bảo hộ tối đa quyền lợi của nhà đầu tư Việt Nam trên thị trường toàn cầu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết phân công lao động quốc tế và quy luật lợi thế so sánh của Adam Smith (1776) và David Ricardo (1817), giải thích động lực dịch chuyển tư bản từ nơi có tỷ suất lợi nhuận thấp sang nơi có chi phí sản xuất tối ưu nhằm khai thác chênh lệch về trình độ lực lượng sản xuất. Bên cạnh đó, luận văn kết hợp mô hình lý thuyết chiết trung của Dunning về lợi thế sở hữu, địa điểm và nội bộ hóa để luận giải sự cần thiết của việc đa dạng hóa các hình thức đầu tư quốc tế.

Hệ thống khái niệm chuyên ngành then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Hoạt động bỏ vốn gắn liền với việc trực tiếp tham gia quản lý, điều hành dự án hoặc nắm giữ từ 10% quyền biểu quyết trở lên theo khuyến nghị của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD). Dòng vốn FDI bao gồm 3 thành phần cấu thành: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay nội bộ công ty.
  • Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI): Hoạt động đầu tư tài chính thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ dưới ngưỡng 10% vốn chủ sở hữu nhằm thu lợi tức mà không trực tiếp tham gia quyền quản trị doanh nghiệp.
  • Hình thức đầu tư ra nước ngoài: Phương thức pháp lý mà nhà đầu tư được cả hệ thống pháp luật của quốc gia đầu tư và quốc gia tiếp nhận đầu tư cho phép áp dụng để đưa tư bản vào vận hành kinh doanh.
  • Giao dịch đặc biệt có tính chất đầu tư: Các phương thức kinh doanh hiện đại mang bản chất đầu tư trực tiếp như hoạt động sử dụng nguồn lực bên ngoài (outsourcing), nhượng quyền kinh doanh quốc tế (cross-border franchising), cho thuê tài chính và thực hiện dự án xây dựng công trình kéo dài trên 12 tháng tại nước ngoài.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm toàn bộ hồ sơ dữ liệu thứ cấp của 153 dự án đầu tư ra nước ngoài được cấp phép tại 33 quốc gia và vùng lãnh thổ, số liệu thống kê luồng vốn từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng các báo cáo kinh tế quốc tế giai đoạn 1999 – 2006.

Phương pháp chọn mẫu được áp dụng là phương pháp khảo sát toàn bộ tổng thể (census sampling) đối với 100% các dự án đầu tư ra nước ngoài đã được cấp phép trong giai đoạn nghiên cứu, loại trừ sai số chọn mẫu và bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho thực trạng vận động của dòng vốn ngoại hướng Việt Nam trong 6 năm đầu tiên.

Phương pháp phân tích chủ đạo là sự kết hợp giữa phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử nhằm nhìn nhận sự phát triển của thể chế pháp luật trong mối liên hệ mật thiết với các quy luật kinh tế khách quan. Phương pháp luật học so sánh được sử dụng để đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với khung pháp lý của Trung Quốc (quốc gia có mức đầu tư ra nước ngoài tăng từ 0,4 tỷ USD thập niên 1980 lên 35 tỷ USD vào năm 2003) và các chuẩn mực của OECD. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm làm rõ khoảng cách giữa quy định pháp luật thực định với thực tiễn thương mại, tạo cơ sở thực nghiệm vững chắc cho các kiến nghị hoàn thiện thể chế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 1999 – 2006 đạt quy mô 153 dự án với tổng vốn 655,3 triệu USD nhưng có sự phân bổ không đồng đều, tập trung chủ yếu vào các ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên và công nghiệp chế biến. Điển hình, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) đã tham gia 7 dự án thăm dò và khai thác tại Iraq, Algérie, Malaysia, Indonesia và Mông Cổ; tổng trữ lượng phát hiện đạt 120 triệu mét khối quy dầu, trong đó lượng dầu quy đổi mang về nước đạt khoảng 80 triệu mét khối (chiếm 66,7% tổng trữ lượng phát hiện). Trong ngành nông nghiệp, dự án của Công ty Cao su Đắk Lắk trị giá 32,3 triệu USD và Công ty Cổ phần Cao su Việt – Lào trị giá 25,8 triệu USD trên quy mô 10.000 ha tại tỉnh Champasak (Lào) chiếm tỷ trọng 8,8% tổng vốn đăng ký toàn quốc.

Thứ hai, khuôn khổ pháp lý giai đoạn Nghị định 22/1999/NĐ-CP giới hạn phạm vi điều chỉnh quá hẹp khi chỉ thừa nhận 3 hình thức đầu tư trực tiếp truyền thống: doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam và hợp đồng hợp tác kinh doanh. Quy định này hoàn toàn bỏ ngỏ các hình thức thâm nhập thị trường linh hoạt như mua lại và sáp nhập (M&A), góp vốn mua cổ phần hoặc đầu tư gián tiếp, khiến ước tính hơn 40% doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng quy mô kinh doanh quốc tế gặp vướng mắc thủ tục.

Thứ ba, sự ra đời của Luật Đầu tư 2005 với một chương riêng biệt (Chương VIII) gồm 9 điều luật đã tạo bước chuyển biến căn bản: mở rộng chủ thể đầu tư cho mọi thành phần kinh tế, chính thức ghi nhận hình thức đầu tư gián tiếp và tiệm cận dần với các định nghĩa chuẩn mực quốc tế về quyền tự chủ của nhà đầu tư.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của việc quy mô đầu tư ngoại hướng còn khiêm tốn xuất phát từ tư duy lập pháp thiên về kiểm soát, phòng ngừa rủi ro thất thoát ngoại tệ hơn là hỗ trợ doanh nghiệp vươn ra biển lớn. Khi so sánh với kinh nghiệm của Trung Quốc – quốc gia tích lũy dự trữ ngoại hối trên 400 tỷ USD và sở hữu hơn 7.500 doanh nghiệp đầu tư tại 160 quốc gia với tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư ra nước ngoài đạt trên 100%/năm – sự linh hoạt trong việc chấp thuận các hình thức M&A và cổ phần hóa xuyên biên giới chính là đòn bẩy giúp các tập đoàn như Haier, TCL hay Sinopec nhanh chóng chiếm lĩnh thị phần và bảo đảm an ninh nguyên liệu toàn cầu.

Hệ thống dữ liệu của luận văn có thể được mô hình hóa và trình bày trực quan thông qua:

  • Bảng cơ cấu phân bổ dự án theo ngành: Liệt kê chi tiết 153 dự án phân theo 4 nhóm ngành kinh tế chính (khai khoáng năng lượng, nông nghiệp trồng trọt, công nghiệp chế biến nhẹ, thương mại dịch vụ), làm nổi bật sự chiếm ưu thế về vốn của ngành dầu khí và cao su.
  • Biểu đồ cột tăng trưởng vốn lũy kế: Thể hiện quỹ đạo phát triển vốn đăng ký từ mức dưới 100 triệu USD năm 1999 lên 655,3 triệu USD vào tháng 4 năm 2006.
  • Ma trận so sánh khung pháp lý: Đối chiếu chi tiết 6 thông số kỹ thuật pháp lý giữa Nghị định 22/1999/NĐ-CP và Luật Đầu tư 2005 về điều kiện cấp phép, phạm vi chủ thể, hình thức đầu tư trực tiếp, hình thức đầu tư gián tiếp, cơ chế chuyển vốn và quyền bảo hộ đầu tư.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Hoàn thiện các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư 2005 theo hướng đa dạng hóa hình thức đầu tư: Chính phủ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần khẩn trương ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Chương VIII Luật Đầu tư 2005, trong đó quy định rõ ràng hành lang pháp lý cho các hình thức mua lại doanh nghiệp nước ngoài (M&A), góp vốn mua cổ phần, nhượng quyền thương mại quốc tế và các giao dịch outsourcing, hướng tới mục tiêu nâng tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài vượt mốc 1 tỷ USD trước năm 2010.
  • Chuyển đổi căn bản cơ chế quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm đối với thủ tục cấp phép đầu tư: Cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian thẩm định và cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài từ 30 ngày xuống dưới 15 ngày làm việc đối với các dự án có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, áp dụng cơ chế đăng ký tự động cho các dự án mở rộng quy mô sản xuất trong giai đoạn 2006 – 2008.
  • Hiện đại hóa và nới lỏng cơ chế quản lý ngoại hối: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần ban hành thông tư hướng dẫn đồng bộ, cho phép doanh nghiệp mở tài khoản ngoại tệ hợp pháp tại nước sở tại và chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài đúng tiến độ, giảm thiểu chi phí trung gian của dòng vốn luân chuyển quốc tế xuống dưới 2% giá trị giao dịch, thực hiện ngay từ quý 4 năm 2006.
  • Xây dựng thiết chế hỗ trợ và hệ thống bảo hộ đầu tư quốc tế: Bộ Ngoại giao phối hợp cùng Bộ Công Thương đẩy mạnh tiến trình đàm phán ký kết Hiệp định Đầu tư Song phương (BITs) với ít nhất 15 quốc gia thị trường trọng điểm; đồng thời thành lập Quỹ hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài nhằm cung cấp thông tin thị trường và giảm thiểu 100% rủi ro pháp lý ngoài tầm kiểm soát cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan lập pháp: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội sử dụng các luận cứ khoa học và phân tích thực tiễn từ 153 dự án để soạn thảo các văn bản hướng dẫn Luật Đầu tư 2005, hoàn thiện cơ chế quản lý dòng vốn 655,3 triệu USD.
  • Lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp: Doanh nghiệp nhà nước và các công ty tư nhân thuộc lĩnh vực viễn thông, dầu khí, cao su, dệt may có định hướng vươn ra thị trường Lào, Campuchia, Nga, Angola áp dụng các phân tích pháp lý để lựa chọn hình thức đầu tư tối ưu, giúp tiết kiệm từ 15% đến 20% chi phí chuẩn bị và thẩm định dự án.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Luật - Kinh tế: Sử dụng công trình làm tài liệu chuyên khảo tham khảo có giá trị trong các học phần Luật Đầu tư quốc tế, Luật Thương mại quốc tế, cung cấp dữ liệu thực chứng 6 năm đầu triển khai dòng vốn ngoại hướng của Việt Nam.
  • Luật sư và chuyên gia tư vấn đầu tư quốc tế: Đội ngũ chuyên gia pháp lý sử dụng để tư vấn cấu trúc các giao dịch M&A, soạn thảo hợp đồng hợp tác kinh doanh quốc tế (BCC), bảo lãnh tín dụng và kiểm soát rủi ro pháp lý cho các dự án xuyên quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

1. Doanh nghiệp Việt Nam được phép đầu tư ra nước ngoài theo những hình thức nào theo Luật Đầu tư 2005? Theo Luật Đầu tư 2005 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2006, nhà đầu tư được quyền thực hiện đầu tư trực tiếp (thành lập doanh nghiệp 100% vốn, liên doanh, hợp đồng BCC, BOT, BTO, BT, mua lại doanh nghiệp) và đầu tư gián tiếp (mua cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ). Đây là sự mở rộng vượt bậc so với giới hạn 3 hình thức của Nghị định 22/1999/NĐ-CP.

2. Thực trạng quy mô dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 1999 – 2006 đạt mức nào? Trong 6 năm đầu thực thi chính sách, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã cấp phép cho 153 dự án với tổng vốn đăng ký 655,3 triệu USD tại 33 quốc gia. Nhiều dự án quy mô lớn đã ghi nhận thành công nổi bật như PetroVietnam với 80 triệu mét khối quy dầu đưa về nước hay dự án 10.000 ha cao su tại Lào với số vốn 25,8 triệu USD.

3. Tiêu chuẩn nào phân biệt giữa đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FPI)? Căn cứ vào chuẩn mực của OECD và UNCTAD, tiêu chuẩn phân định cốt lõi là quyền kiểm soát quản trị. Nếu nhà đầu tư nắm giữ từ 10% cổ phần có quyền biểu quyết trở lên và trực tiếp tham gia quản lý, hoạt động đó là FDI. Ngược lại, nếu nắm giữ dưới 10% chỉ nhằm hưởng lợi tức thì được xếp vào hình thức FPI.

4. Hoạt động gia công quốc tế (outsourcing) có được xem là một hình thức đầu tư ra nước ngoài không? Theo phân tích pháp lý hiện đại và hướng dẫn của OECD, hoạt động outsourcing có gắn liền với việc chuyển giao công nghệ, cung cấp dây chuyền nguyên liệu và kiểm soát quy trình kéo dài trên 12 tháng mang đầy đủ bản chất của một khoản đầu tư trực tiếp thay vì là hợp đồng thương mại mua bán đơn thuần.

5. Rào cản lớn nhất mà doanh nghiệp Việt Nam gặp phải khi đầu tư ra nước ngoài giai đoạn này là gì? Rào cản lớn nhất là thủ tục hành chính tiền kiểm kéo dài trên 30 ngày, sự cứng nhắc trong việc kiểm soát luồng ngoại tệ chuyển dịch ra nước ngoài và sự thiếu hụt các hiệp định song phương bảo hộ đầu tư, làm gia tăng rủi ro pháp lý đối với vốn của doanh nghiệp nội địa.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và chuẩn mực quốc tế về hình thức đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp trong nền kinh tế hội nhập.
  • Phân tích thực chứng bức tranh 153 dự án với tổng vốn 655,3 triệu USD tại 33 quốc gia, khẳng định nhu cầu mở rộng đầu tư ngoại hướng là quy luật tất yếu khách quan.
  • Nhận diện sâu sắc các rào cản thể chế của Nghị định 22/1999/NĐ-CP và đánh giá những điểm đột phá của Luật Đầu tư 2005.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi nhằm hoàn thiện cơ chế hậu kiểm, tự do hóa hình thức thâm nhập thị trường và bảo hộ tài sản cho doanh nghiệp.
  • Công trình mở ra lộ trình hoàn thiện thể chế đầu tư giai đoạn sau năm 2006, thúc đẩy các nhà quản trị doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước chủ động nắm bắt cơ hội, khai thác tối đa nguồn lực toàn cầu khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).