Chương 1. Những vấn đề lý luận về hoạt động đầu tư ra nước ngoài Chương 2. Quy định của Luật đầu tư năm 2020 về hoạt động đầu tư ra nước ngoài và thực tiễn thi hành pháp luật về hoạt động đầu tư ra nước ngoài Chương 3. Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về hoạt động đầu tu ra nước ngoài theo Luật dau tư năm 2020.
NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE HOAT ĐỘNG BAU TƯ RA. Khái niệm, đặc điểm về hoạt động đầu tư ra nước ngoài 1. Khái niệm về hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Trong bối cảnh hội nhập toàn cau, thì đầu tư ra nước ngoài là một xu thế chung của các quốc gia trên thế giới nhằm mở rộng thị trường và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Vậy đầu tư ra nước ngoài là gì? ‘Theo từ điển Tiếng Việt, đầu tư được hiểu là việc bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì sao cho có hiệu quả kinh tế, xã hội!. Đầu tư được định nghĩa là những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm mang đến cho. nên kinh tế xã hội những kết quả lớn hơn trong tương lai so với nguồn lực đã sử dụng. Theo nghĩa rộng hơn, đầu tư còn có thể được hiểu là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại dé tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về những kết quả lớn hơn trong tương lai so với nguồn lực đã ử dụng.
Nói một cách đơn giản đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực tài chính, vật chat, lao động, trí tuệ và cả thời gian để đạt được lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Đầu tư là một hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại (như tài chính, vật chất, lao động, trí tuệ, thời gian.), để đạt được lợi nhuận va lợi ích kinh tế lớn hơn trong tương lai so với nguồn lực đã bỏ ra. Đầu tư có ý nghĩa khác nhau trong tài chính và kinh tế học. Trong kinh tế học, đầu tư có liên quan đến tiết kiệm và trì hoãn tiêu thụ.
Đầu tư có liên quan đến nhiều khu vực của nền kinh tế, chẳng hạn như quản lý kinh doanh và tài chính dù là cho hộ gia đình, doanh nghiệp, hoặc chính phủ. Trong tài chính, đầu tư tai chính là đặt tiền vào một tài sản với kỳ vọng của vốn đánh giá cao, thường là trong tương lai đài hạn. Điều này có thể được hoặc không được hỗ trợ bởi nghiên cứu và phân tích. Hầu hết hoặc tat cả các hình thức đầu tư liên quan đến một số hình thức rủi ro, chẳng hạn như đầu tư vào cổ phan, bat động sản và thậm chí các chứng khoán lãi suất cố định mà có thể, ngoài những điều ' Viện ngôn ngữ học, (2017), Từ điển Tiếng Việt, VXB Đà Nẵng, 457 7 khác, ri i ro lạm phát.
Theo pháp luật một số nước hiện nay, việc đầu tư nước ngoài cần phải được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận dau tư, đơn cử ở. Viét Nam, việc đầu tư phải được cấp giấy chứng nhận nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư, Gan liền với sự phat wid và đi lên của nền kinh tế thế giới, hoạt dong đầu tư nói chung và hoạt động đầu tư ra nước ngoài nói riêng không ngừng được mở rộng và chiếm vị trí ngày càng quan trọng. Theo quan điểm của pháp luật Việt Nam hiện nay thi, đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn dau tư. dé thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư góp vốn mua cổ phần, phan vốn góp của tổ chức kinh tế hoặc đầu tư theo.
hình thức hợp đồng hoặc thực hiện các dự án đầu tư khác. Nhìn chung thì hoạt động đầu tư về bản chất là việc nhà đầu tư thêm vốn của mình đề thực hiện các. hoạt động kinh doanh nhằm thu về những kết quả nhiều hơn nguồn vốn đã bỏ ra. Các kết quả đạt được đó có thể là tài sản bằng tiền hoặc tài sản bằng vật chất, kết quả này ngoài việc làm tăng thêm doanh thu và lợi nhuận cho nha dau tư thì con đồng thời làm tăng thêm của cải vật chất và sự phát triển cho xã hội.
Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO) (1996): Dau tư trực tiếp nước ngoài xuất hiện khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một sản ở nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý Phương diện quan lý là yé lẻ phân biệt đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với các công cụ tài chính khác. Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF (1993), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là vốn đầu tư thực hiện dé thu được lợi ích lâu dài theo đó. một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực.
tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó. Theo ƯNCTAD (1998) thì đầu tư trực tiếp nước ngoài được ® Từ Quang Phương, Phạm Văn Hũng (2013), Gido tink Kinh lễ đâu ne. NXB Đại học Kinh tế quốc dân, eas Lê Văn Tranh, Chính sách về đầu tr kinh doanh trong Luật Đầu tư năm 2020, Tap chí Nghiên cứu Lip pháp số 01 (449), tháng 01/2022, tr6 8 định nghĩa là một khoản đầu tư trong thời gian dài, phản ánh lợi ích lâu dài va sự kiểm soát của một công ty ở trong một nền kinh tế (nha đầu tư trực tiếp nước ngoài hay công ty mẹ) đối với công ty con ở nền kinh tế khác. John Dunning (2008) phân biệt đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài đòi hỏi có sự đi chuyền tài sản hay sản phẩm trung gian, bao gồm vốn tài chính, chuyên gia quản lý, công nghệ,.Thứ hai, không giống như việc giao dich tài sản và sản phẩm, đầu tư trực tiếp nước ngoài không bao gồm bat kỳ sự thay đổi nào về sở hữu hay quyền kiểm soát các quyết định về việc sử dụng các nguồn lực nằm trong tay. Trong khi đầu tư gián tiếp thì tài sản và sản phẩm được thực hiện bởi thị trường!. Ở Việt Nam, trước đây, theo Luật Dau tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1996), sửa đổi, bỗ sung năm 2000 định nghĩa lầu tư nước ngoài” là “việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động dau tư theo quy định của Luật này” (khoản 1 Điều 2). Theo định nghĩa này thì đầu tư ra nước ngoài là việc bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh theo các hình thức được Luật này cho phép, thực chất chỉ là các quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, trong khi nhiều hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài khác như các doanh nghiệp đặt chỉ nhánh hay văn phòng.
đại điện hoặc các hoạt động đầu tư gián tiếp thì đều không được pháp luật điều chỉnh. Cho đến khi Luật Đầu tư (năm 2005) được ban hành thì phạm vi điều chỉnh mối được mở rộng thành các hoạt động đầu tư chung, gồm cả việc thực. hiện đầu tư ở trong nước và của nước ngoài. Luật đã đưa ra định nghĩa “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốh bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình đề hình thành tài sản tiền hành các hoạt động dau tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” (khoản 1 Điều 3).
Đến Luật Đầu tư năm 2014 và nay là Luật đầu tư năm 2020, khái niệm đầu tư, đầu tư trực tiếp hay đầu tư gián tiếp nước ngoài đã không còn xuất hiện 4 Học viện Ngoại giao (2017), Giáo trình Luật Dau tư quốc tế, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, tr. 9 nữa mà chỉ còn duy nhất một khái niệm đó là “Đầu tư kinh doanh”. Theo Luật dau tư năm 2014, Luật đầu tư năm 2020 này, hoạt động dau tư chính là “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn tư để thực hiện hoạt động kinh doanh” (Khoản 8 Điều 3 Luật đầu tư năm 2020).
Khái niệm đầu tư ra nước ngoài được quy định trong Nghị định số 83/2015/ND-CP ngày 25 tháng 09 năm 2015 về đầu tư ra nước ngoài, theo đó, đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyền vốn hoặc thanh toán mua một phần hoặc toàn bộ cơ sở kinh doanh hoặ quyền sở hữu đề thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó. Như vậy, các khái niệm trên đều bàn đến việc chuyển vốn từ một nền kinh tế này sang một nền kinh tế khác để thực hiện hoạt động kinh doanh và đảm nhiệm điều hành hoạt động của nhà đầu tư, các nhà đầu tư có được nhiều lợi nhuận hơn từ việc đầu tư ra nước ngoài. Tir những phân tích nêu trên có thể hiểu một trực tiếp nước ngoài như sau: “Dau te ra mước ngoài là hình thức đâu tư quốc tế mà chủ đầu tư bỏ vốn để xây dựng hoặc mua phan lớn, thậm chí toàn bộ cơ sở kinh doanh ở nước ngoài dé trở thành chủ sở hữu toàn bộ hoặc từng phần cơ sở đó và trực tiếp quan lý, điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt động của đối tượng mà họ bỏ vốn dau te” 1. Đặc điểm của hoạt động đầu tư ra nước ngoài Hoạt động đầu tư kinh doanh hiện nay không còn bó hẹp trong phạm vi lãnh thé của một nước mà đã vươn ra nước ngoài.
Vì thế, đầu tư ra nước ngoài được hiểu là quá trình dịch chuyền vốn và tài sản từ quốc gia này sang quốc gia khác để các nhà đầu tư tiến hành các hoạt động đầu tư nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận hoặc nhằm mục tiêu kinh tế xã hội khác. Đầu tư ra nước ngoài mang những đặc điểm sau: Thứ nhất, chủ thê đầu tư ra nước ngoài là các nhà đầu tư đầu tư ra nước 10 ngoài. Nhà đầu tư đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm các cơ hội đầu tư, mở rộng và thâm nhập sâu vào thị trường thé giới. Từ đó làm tăng cao lợi nhuận và nâng.
cao hiệu quả sử dụng vốn của mình. Các nhà đâu tư tận dụng các ưu đãi của nước tiếp nhận đầu tư và lợi thé của minh dé tính toán nên đầu tư vào nước nào va bằng hình thức nao dé thu về lợi nhuận cao nhất.