Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hoạt động đầu tư ra nước ngoài giữ vai trò quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Chủ trương của Đảng và Nhà nước luôn khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài nhằm mở rộng thị trường, tăng cường xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, thu hút ngoại tệ, tiếp cận công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực quản lý và bổ sung nguồn lực phát triển kinh tế đất nước. Dù tốc độ gia tăng dự án diễn ra nhanh chóng, quy mô dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam vẫn còn nhỏ bé so với thế giới và khu vực; tỷ lệ vốn đầu tư ra nước ngoài lũy kế trên GDP năm 2021 chỉ đạt 3,3%, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân của các nước đang phát triển.
Thực tiễn ghi nhận một số dự án đạt hiệu quả cao như dự án thăm dò khai thác dầu khí của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN); dự án khai thác quặng sắt, quặng vàng của Tổng công ty Hợp tác kinh tế (Quân khu 4); các dự án viễn thông và xây lắp của Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) tại Lào, Campuchia, Timor Leste. Tuy nhiên, các nhà đầu tư Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều rào cản: khó khăn khi vay vốn ngoại tệ tại các ngân hàng thương mại, năng lực tài chính và kinh nghiệm thương trường hạn chế, sự phối hợp giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng Bộ Tài chính chưa đồng bộ, chưa có các đoàn khảo sát tại chỗ để đánh giá hiệu quả dự án, mối liên kết với cơ quan đại diện ngoại giao và thương vụ Việt Nam ở nước ngoài còn lỏng lẻo, quy trình thẩm định cấp phép còn chậm trễ.
Mặc dù Luật Đầu tư năm 2020 đã bổ sung các quy định nhằm minh bạch hóa thủ tục, quy định ngành nghề cấm và chế tài chuyển lợi nhuận về nước, việc duy trì cơ chế duy nhất Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đã tạo áp lực hành chính lớn, làm gia tăng chi phí và thời gian cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp khu vực miền Trung và miền Nam. Trước thực trạng đó, khóa luận tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ những vấn đề lý luận, phân tích quy định pháp luật về hoạt động đầu tư ra nước ngoài theo Luật Đầu tư năm 2020 và thực tiễn thi hành; từ đó chỉ rõ các kết quả đạt được, vướng mắc phát sinh để xác định phương hướng hoàn thiện thể chế.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
- Phân tích quy định của pháp luật về hoạt động đầu tư ra nước ngoài theo Luật Đầu tư năm 2020 và đánh giá thực tiễn thi hành.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động đầu tư ra nước ngoài và thực tiễn áp dụng các quy định này đối với doanh nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Quy định của Luật Đầu tư năm 2020 và văn bản hướng dẫn liên quan đến đầu tư ra nước ngoài.
- Về không gian: Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam ra thị trường quốc tế.
- Về thời gian: Dữ liệu và thực tiễn thi hành khảo sát từ năm 2020 đến đầu năm 2024.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng hệ thống khái niệm kinh tế - pháp lý từ các nguồn học thuật và văn bản quy phạm pháp luật:
- Khung khái niệm và lý thuyết: Tiếp cận định nghĩa đầu tư từ Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 2017), Giáo trình Kinh tế đầu tư (Từ Quang Phương, Phạm Văn Hùng, 2013), và lý giải chính sách đầu tư kinh doanh của Lê Văn Tranh (2022). Khóa luận đối chiếu quan điểm của các tổ chức quốc tế: Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO, 1996) nhấn mạnh yếu tố quyền quản lý tài sản ở nước tiếp nhận; Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 1993) và Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD, 1998) tập trung vào lợi ích lâu dài và sự kiểm soát của công ty mẹ đối với công ty con; lý thuyết phân biệt đầu tư trực tiếp và gián tiếp của John Dunning (2008).
- Cơ sở pháp lý thực định: Quá trình chuyển biến từ Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 (sửa đổi 2000), Luật Đầu tư năm 2005, Luật Đầu tư năm 2014 đến Luật Đầu tư năm 2020 (khoản 8 Điều 3 quy định về đầu tư kinh doanh); Nghị định số 83/2015/NĐ-CP và Nghị định số 31/2021/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư. Dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2017), tác giả xác định pháp luật đầu tư ra nước ngoài là tổng hợp các quy phạm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động chuyển vốn và tài sản ra nước ngoài nhằm đảm bảo hiệu lực quản lý nhà nước và phát triển kinh tế.
- Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Dựa trên phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin để đánh giá sự vận động của pháp luật đầu tư trong mối quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng kinh tế.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Làm rõ nội hàm các quy định pháp luật thực định về chủ thể, điều kiện, thẩm quyền, thủ tục và phân loại các hạn chế pháp lý.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh quy định giữa Luật Đầu tư năm 2020 với Luật Đầu tư các năm 2005, 2014; đối chiếu văn bản pháp luật với thực tế áp dụng.
- Phương pháp thống kê: Xử lý và tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Ngân hàng Nhà nước, Tạp chí Tài chính, Thời báo Tài chính Việt Nam và báo cáo thống kê của UNCTAD từ năm 2020 đến tháng 2/2024.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động đầu tư ra nước ngoài
Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý luận nền tảng cho đề tài:
- Khái niệm và đặc điểm: Tác giả định nghĩa đầu tư ra nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư bỏ vốn để xây dựng hoặc mua phần lớn, thậm chí toàn bộ cơ sở kinh doanh ở nước ngoài nhằm trở thành chủ sở hữu, trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt động đầu tư. Hoạt động mang 04 đặc trưng: chủ thể là các nhà đầu tư trong nước tìm kiếm cơ hội thâm nhập thị trường quốc tế; có sự dịch chuyển vốn và tài sản qua biên giới quốc gia; tồn tại dưới hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp; mục tiêu hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận, mở rộng thị trường, phát triển thương hiệu và tiếp cận tài nguyên.
- Vai trò của đầu tư ra nước ngoài: Phân tích toàn diện trên 03 bình diện:
- Đối với nước xuất khẩu đầu tư (Việt Nam): Tăng cường quan hệ ngoại giao, kinh tế, thương mại; mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm trong nước dư thừa; khai thác tài nguyên thiếu hụt (ví dụ: PVN đầu tư khai thác dầu mỏ ở nước ngoài bổ sung nguồn nguyên liệu cho Nhà máy lọc dầu Dung Quất); giảm áp lực khai thác tài nguyên trong nước; tạo nguồn thu ngoại tệ và thúc đẩy cải cách thể chế kinh tế trong nước.
- Đối với doanh nghiệp đầu tư: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn qua việc bản địa hóa sản phẩm (như các doanh nghiệp sản xuất mì ăn liền tại Nga, Ukraine sử dụng bột mì tại chỗ); tiếp thu công nghệ, tích lũy năng lực quản trị quốc tế; phát triển tài sản vô hình và thương hiệu (cà phê Trung Nguyên, Phở 24, Bệnh viện Châm cứu); thực hiện chuyển giá hợp pháp để tối ưu hóa thuế thông qua việc thành lập công ty con tại các quốc gia có ưu đãi thuế như Singapore; phân tán rủi ro kinh doanh.
- Đối với nước tiếp nhận đầu tư: Tiếp nhận nguồn vốn, công nghệ và phương pháp quản lý tiên tiến; nâng cao năng suất lao động, tăng thu ngân sách và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ; kích thích sự cạnh tranh của các nhà sản xuất nội địa.
- Nội dung điều chỉnh của pháp luật về đầu tư ra nước ngoài: Gồm 06 nhóm quy phạm cơ bản: quy phạm về chủ thể; lĩnh vực đầu tư; hình thức đầu tư; thủ tục đầu tư; điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư.
Chương 2: Quy định của Luật Đầu tư năm 2020 về hoạt động đầu tư ra nước ngoài và thực tiễn thi hành pháp luật
Chương 2 phân tích chuyên sâu các quy định thực định và dữ liệu thi hành từ năm 2020 đến tháng 2/2024:
-
Quy định thực định của Luật Đầu tư năm 2020:
- Chủ thể: Đa dạng hóa các thành phần kinh tế theo Điều 68 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP (doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức tín dụng, hộ kinh doanh, cá nhân quốc tịch Việt Nam), ngoại trừ các đối tượng bị cấm theo khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020 (cán bộ, công chức, sĩ quan lực lượng vũ trang, người mất năng lực hành vi dân sự, pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh...).
- Lĩnh vực: Điều 53 và Điều 54 phân định rõ ngành, nghề cấm đầu tư ra nước ngoài và ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện; bãi bỏ quy định mang tính liệt kê các ngành khuyến khích như Luật Đầu tư năm 2005 nhằm tạo quyền chủ động cho doanh nghiệp.
- Hình thức (Điều 52): Cho phép 05 hình thức: thành lập tổ chức kinh tế; thực hiện theo hình thức hợp đồng (sửa đổi quy định hợp đồng BCC của Luật năm 2014 sang hợp đồng nói chung, bao quát cả hợp đồng PPP); góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp; mua bán chứng khoán, giấy tờ có giá hoặc quỹ đầu tư; các hình thức khác theo pháp luật nước tiếp nhận.
- Thẩm quyền và thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư:
- Quốc hội: Quyết định dự án có vốn đầu tư ra nước ngoài từ 20.000 tỷ đồng trở lên hoặc dự án yêu cầu cơ chế, chính sách đặc biệt. Hồ sơ gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 05 ngày làm việc trình Thủ tướng thành lập Hội đồng thẩm định nhà nước (thời gian thẩm định 90 ngày); Chính phủ gửi hồ sơ đến Quốc hội chậm nhất 60 ngày trước kỳ họp.
- Thủ tướng Chính phủ: Chấp thuận dự án thuộc lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, báo chí, phát thanh, truyền hình, viễn thông có vốn từ 400 tỷ đồng trở lên, hoặc dự án khác có vốn từ 800 tỷ đồng trở lên. Bộ Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiến các cơ quan trong 03 ngày làm việc; cơ quan liên quan phản hồi trong 15 ngày; hoàn thiện báo cáo thẩm định trong 30 ngày.
- Dự án không thuộc diện chấp thuận chủ trương: Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận trong thời hạn 15 ngày; nếu số vốn ngoại tệ chuyển ra từ 20 tỷ đồng trở lên phải lấy ý kiến Ngân hàng Nhà nước.
- Điều kiện cấp Giấy chứng nhận (Điều 60): Tuân thủ nguyên tắc Điều 51; không thuộc ngành cấm (Điều 53) và thỏa mãn điều kiện ngành nghề (Điều 54); có cam kết tự thu xếp ngoại tệ hoặc cam kết của tổ chức tín dụng; có quyết định đầu tư (Điều 59); có văn bản xác nhận hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế không quá 03 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ.
- Chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận (Điều 64): Quy định 07 trường hợp, bao gồm trường hợp quá 24 tháng kể từ ngày cấp phép mà nhà đầu tư không thực hiện dự án theo tiến độ đăng ký và không thực hiện thủ tục điều chỉnh.
-
Thực tiễn thi hành và số liệu thống kê giai đoạn 2020 – 2/2024:
Lũy kế từ năm 1989 đến đầu năm 2024, Việt Nam có hơn 22 tỷ USD vốn đầu tư ra nước ngoài. Bảng số liệu tổng hợp tình hình cấp mới và điều chỉnh vốn trong giai đoạn nghiên cứu:
| Giai đoạn / Chỉ tiêu |
Số dự án cấp mới |
Vốn đăng ký cấp mới (triệu USD) |
Lượt điều chỉnh vốn |
Vốn điều chỉnh (triệu USD) |
Tổng vốn cấp mới & điều chỉnh (triệu USD) |
Lũy kế vốn còn hiệu lực (tỷ USD) |
| Năm 2020 |
- |
- |
- |
- |
590,00 |
> 20,00 |
| Năm 2021 |
61 |
> 409,00 |
22 |
-776,00 |
366,90 (giảm thực tế) |
> 20,90 |
| Năm 2022 |
109 |
426,60 |
26 |
+107,40 |
~ 534,00 |
> 21,75 |
| Năm 2023 |
124 |
282,68 |
25 |
+138,21 |
420,90 |
~ 22,10 |
| 2 tháng đầu năm 2024 |
17 |
> 25,00 |
0 |
0,00 |
> 25,00 |
~ 22,12 |
Về cơ cấu đầu tư:
-
Lĩnh vực: Lũy kế vốn tập trung lớn nhất vào ngành khai khoáng (chiếm 31,5% – 32,3%) và nông, lâm nghiệp, thủy sản (chiếm 15% – 16%). Năm 2022, công nghiệp chế biến, chế tạo vươn lên dẫn đầu (chiếm 47,2% tổng vốn đăng ký trong năm). Năm 2023 và 2 tháng đầu năm 2024, ngành bán buôn, bán lẻ chiếm tỷ trọng cao nhất (37,3% năm 2023 và 39,4% đầu năm 2024), theo sau là thông tin truyền thông và bất động sản.
-
Địa bàn nhận đầu tư: Lào luôn duy trì vị trí dẫn đầu (chiếm khoảng 24,6% – 24,8% tổng vốn lũy kế, đạt 245 dự án với 5,5 tỷ USD tính đến tháng 2/2024), tiếp theo là Campuchia (13,2% – 13,5%) và Venezuela (khoảng 8,3% – 8,4%). Các thị trường phát triển như Hoa Kỳ, Singapore, Canada, Đức, New Zealand ghi nhận sự gia tăng đột biến trong từng năm cụ thể (Hoa Kỳ dẫn đầu thu hút dòng vốn năm 2021 với gần 307,3 triệu USD; Canada dẫn đầu năm 2023 với gần 150,3 triệu USD).
-
Chủ thể: Có sự chuyển dịch từ các tập đoàn nhà nước sang khối tư nhân (Viettel, FPT, Vinamilk, NutiFood). Khối doanh nghiệp có vốn nhà nước nắm giữ 141 dự án với 11,67 tỷ USD tính đến cuối năm 2022 (chiếm 53,7% tổng vốn lũy kế cả nước), song hiệu quả chưa đồng đều; năm 2020 ghi nhận lỗ lũy kế 1,17 tỷ USD với 28 dự án thua lỗ.
-
Hạn chế và nguyên nhân:
- Cơ chế cấp phép tập trung: Bộ Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối duy nhất cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, gây quá tải bộ máy hành chính và phát sinh chi phí đi lại lớn cho doanh nghiệp phía Nam và miền Trung.
- Vướng mắc về tài khoản chuyển ngoại tệ: Quy định buộc mọi giao dịch chuyển vốn ra và vào phải qua một tài khoản ngoại tệ đăng ký tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam gây lúng túng khi doanh nghiệp muốn dùng lợi nhuận thu được ở nước ngoài để tái đầu tư trực tiếp sang nước thứ ba.
- Thiếu chiến lược và danh mục ưu đãi cụ thể: Nhà nước chưa ban hành danh mục ngành nghề, địa bàn chiến lược khuyến khích đầu tư ra nước ngoài, chưa có cơ chế chia sẻ rủi ro và hỗ trợ cân đối ngoại tệ.
- Thời gian thẩm định kéo dài và bất cập hạ tầng công nghệ: Quy trình xin chủ trương đầu tư còn chậm; Hệ thống Cổng thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài (
dautunuocngoai.vn/fdi) vận hành thiếu ổn định, thường xuyên nghẽn mạng và thiếu tài liệu hướng dẫn truy cập.
- Quy định quyền và nghĩa vụ tản mạn: Thiếu điều khoản trực tiếp điều chỉnh quyền và nghĩa vụ; hạn mức chuyển ngoại tệ trước khi cấp phép để chi trả chi phí chuẩn bị dự án chưa thực sự đáp ứng nhu cầu thực tiễn.
- Thiếu khung pháp lý chuyên biệt đối với vốn nhà nước: Cơ chế kiểm soát doanh nghiệp nhà nước đầu tư ra nước ngoài chưa đủ minh bạch, dẫn đến nguy cơ thất thoát vốn và quản lý kém hiệu quả.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về hoạt động đầu tư ra nước ngoài theo Luật Đầu tư năm 2020
Theo kết cấu đề cương khóa luận, chương này xác định 02 định hướng lớn:
- Kiến nghị hoàn thiện quy định của Luật Đầu tư năm 2020: Rà soát, sửa đổi các điều khoản về thủ tục đăng ký, làm rõ quyền tái đầu tư vốn và lợi nhuận sang nước thứ ba, quy định cụ thể hóa các quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, phân định rõ khung pháp lý quản lý dự án có sử dụng vốn nhà nước.
- Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật: Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước; thiết lập cơ chế giám sát thực địa thông qua việc lập các đoàn khảo sát; nâng cao vai trò hỗ trợ của cơ quan ngoại giao và thương vụ Việt Nam tại nước sở tại; nâng cấp Cổng thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài để xử lý hồ sơ thông suốt qua môi trường điện tử.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu thực chứng: Khóa luận hệ thống hóa toàn diện dòng chảy đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam qua các mốc thời gian: đạt 590 triệu USD (năm 2020); 366,9 triệu USD (năm 2021); 534 triệu USD (năm 2022); 420,9 triệu USD (năm 2023) và đạt quy mô lũy kế 1.716 dự án với gần 22,12 tỷ USD vốn đăng ký vào ngày 20/02/2024. Phản ánh rõ nét cơ cấu địa bàn với thị trường Lào đứng đầu (245 dự án, 5,5 tỷ USD, chiếm 24,8% tổng vốn lũy kế).
- Hệ thống hóa pháp lý: Chỉ rõ các điểm cải cách tích cực của Luật Đầu tư năm 2020: bãi bỏ thủ tục cấp quyết định chủ trương phức tạp bằng hình thức chấp thuận chủ trương đầu tư; nới rộng khái niệm hợp đồng BCC thành hợp đồng đầu tư nói chung; quy định rõ ngành nghề cấm và có điều kiện tại Điều 53, Điều 54.
- Đóng góp mới của tác giả: Khóa luận chỉ ra rằng các công trình trước đây (như nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Mai năm 2018 hay Nguyễn Lê Trúc Anh năm 2019) chủ yếu tiếp cận dưới giác độ kinh tế học hoặc phân tích Luật Đầu tư năm 2014. Tác giả đã đặt vấn đề nghiên cứu toàn diện dưới góc độ pháp lý thực định dựa trên văn bản Luật Đầu tư năm 2020 kết hợp Nghị định số 31/2021/NĐ-CP, đồng thời nhận diện 06 điểm nghẽn thể chế từ số liệu thực tiễn đến năm 2024.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung khai thác các quy định pháp luật thực định Việt Nam điều chỉnh hoạt động đưa vốn ra ngoài lãnh thổ, chưa phân tích đối sánh sâu với hệ thống pháp luật tiếp nhận đầu tư của các quốc gia sở tại (như Lào, Campuchia, Singapore). Dữ liệu nghiên cứu tại thời điểm thực hiện mới cập nhật đến 2 tháng đầu năm 2024.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Nghiên cứu cơ chế phân cấp, phân quyền thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài cho Sở Kế hoạch và Đầu tư các địa phương đối với các dự án quy mô nhỏ nhằm giảm tải áp lực cho cơ quan trung ương.
- Hoàn thiện khung pháp lý về quản lý ngoại hối đối với dòng vốn tái đầu tư lợi nhuận sang nước thứ ba mà không cần luân chuyển dòng tiền về Việt Nam.
- Xây dựng chế tài và cơ chế pháp lý phòng ngừa rủi ro thất thoát vốn nhà nước trong các dự án đầu tư xuyên biên giới của khối doanh nghiệp nhà nước.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Tài liệu là nguồn dữ liệu chuyên khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Quốc tế, Tư pháp quốc tế; các luật sư và chuyên viên tư vấn pháp lý đầu tư nước ngoài; các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước.
- Phần nội dung có giá trị cao:
- Phần đối chiếu quy định pháp lý giữa Luật Đầu tư các năm 2005, 2014 và 2020 về hình thức và thủ tục đầu tư.
- Hệ thống dữ liệu thống kê chi tiết theo ngành và thị trường giai đoạn 2020 - 2024.
- Phân tích 06 nhóm bất cập thực tiễn trong quy trình cấp phép, quản lý ngoại hối và hạ tầng công nghệ công điện tử.
Câu hỏi thường gặp
1. Thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài theo Luật Đầu tư năm 2020 được phân chia như thế nào?
Luật Đầu tư năm 2020 phân định thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài giữa Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ. Quốc hội chấp thuận đối với các dự án có vốn đầu tư ra nước ngoài từ 20.000 tỷ đồng trở lên hoặc dự án có yêu cầu áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt. Thủ tướng Chính phủ chấp thuận đối với các dự án có vốn từ 400 tỷ đồng trở lên thuộc các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, báo chí, phát thanh, truyền hình, viễn thông; hoặc các dự án thuộc ngành nghề khác có số vốn từ 800 tỷ đồng trở lên. Các dự án còn lại không thuộc diện chấp thuận chủ trương mà thực hiện trực tiếp thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
2. Nhà đầu tư phải đáp ứng những điều kiện cụ thể nào để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài?
Căn cứ Điều 60 Luật Đầu tư năm 2020, nhà đầu tư phải thỏa mãn 05 điều kiện: (1) Hoạt động đầu tư phù hợp với nguyên tắc quy định tại Điều 51; (2) Không thuộc ngành, nghề cấm đầu tư ra nước ngoài (Điều 53) và đáp ứng điều kiện đầu tư ra nước ngoài có điều kiện (Điều 54); (3) Có cam kết tự thu xếp ngoại tệ hoặc cam kết thu xếp ngoại tệ của tổ chức tín dụng được phép; (4) Có quyết định đầu tư ra nước ngoài theo Điều 59; (5) Có văn bản của cơ quan thuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế tính đến ngày nộp hồ sơ không quá 03 tháng.
3. Bất cập pháp lý nổi bật liên quan đến tài khoản giao dịch vốn khi doanh nghiệp muốn tái đầu tư sang nước thứ ba là gì?
Theo quy định hiện hành, mọi giao dịch chuyển ngoại tệ từ Việt Nam ra nước ngoài và ngược lại đều phải thực hiện qua một tài khoản ngoại tệ mở tại tổ chức tín dụng được cấp phép tại Việt Nam và đăng ký với Ngân hàng Nhà nước. Bất cập phát sinh khi dự án ở nước ngoài hoạt động sinh lời và nhà đầu tư muốn dùng nguồn lợi nhuận này để đầu tư tiếp sang một quốc gia thứ ba. Pháp luật chưa có cơ chế hướng dẫn rõ ràng: liệu nhà đầu tư bắt buộc phải chuyển lợi nhuận về tài khoản tại Việt Nam rồi mới chuyển tiếp sang nước thứ ba, hay được phép chuyển trực tiếp từ nước tiếp nhận đầu tư hiện tại sang nước thứ ba.
4. Dữ liệu thực tiễn cho thấy thị trường quốc gia nào tiếp nhận nhiều vốn đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam nhất tính đến đầu năm 2024?
Lào là quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư lớn nhất của Việt Nam. Tính đến ngày 20/02/2024, các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư sang Lào 245 dự án với tổng vốn đăng ký đạt khoảng 5,5 tỷ USD, chiếm 24,8% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài lũy kế của cả nước. Việt Nam nằm trong nhóm 03 quốc gia có quy mô đầu tư lớn nhất tại Lào.
5. Vì sao việc Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan duy nhất cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài lại bị xem là hạn chế?
Quy định tập trung thẩm quyền duy nhất tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư đối với mọi quy mô dự án dẫn đến tình trạng quá tải hành chính tại cơ quan trung ương trong khâu kiểm tra và thẩm định hồ sơ khi số lượng dự án tăng trưởng liên tục. Đồng thời, cơ chế này buộc các doanh nghiệp ở khu vực miền Trung và miền Nam phải di chuyển ra Hà Nội để giải quyết thủ tục, làm gia tăng chi phí, thời gian và công sức của nhà đầu tư.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Đặng Uyên My đã phản ánh bức tranh toàn cảnh về hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam dưới góc độ pháp lý của Luật Đầu tư năm 2020. Nghiên cứu kết hợp cơ sở lý luận, hệ thống hóa quy định pháp luật thực định và phân tích chuỗi dữ liệu thực tế giai đoạn 2020 đến đầu năm 2024 với quy mô lũy kế hơn 22,12 tỷ USD. Công trình đã chỉ rõ 06 nhóm rào cản pháp lý trong thủ tục cấp phép, kiểm soát dòng ngoại tệ và giám sát nguồn vốn nhà nước, cung cấp các luận cứ thực tiễn quan trọng cho việc tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam.