Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các quan hệ pháp luật về nhân thân và tài sản phát sinh từ các lĩnh vực dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình giữa công dân, pháp nhân Việt Nam với các chủ thể nước ngoài ngày càng gia tăng. Sự xuất hiện của yếu tố nước ngoài làm phát sinh hiện tượng xung đột pháp luật đặc thù trong Tư pháp quốc tế (TPQT). Khi giải quyết các tranh chấp này, việc áp dụng các quy phạm thực chất còn hạn chế, đòi hỏi các cơ quan tài phán phải sử dụng quy phạm xung đột dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật nước ngoài có liên quan.

Khóa luận tốt nghiệp "Vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài — Lý luận và thực tiễn tại Việt Nam" được tác giả Trần Thị Hằng (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2024) thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu lý luận và thực tiễn cấp bách. Tác giả chỉ ra rằng dù hệ thống pháp luật Việt Nam (như Bộ luật Dân sự 2015 và các luật chuyên ngành) đã có các quy định cho phép áp dụng luật nước ngoài, việc thực thi trên thực tế vẫn gặp nhiều rào cản, khiến các quy phạm này chưa phát huy tối đa hiệu quả.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu tổng thể và toàn diện các vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật nước ngoài trong TPQT.
  2. Phân tích, làm sáng tỏ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về áp dụng pháp luật nước ngoài khi giải quyết các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
  3. Đánh giá thực tiễn thi hành các quy định tại Tòa án, Trọng tài thương mại và Cơ quan hành chính nhà nước tại Việt Nam; phân tích kinh nghiệm quốc tế điển hình.
  4. Xác định những khó khăn, vướng mắc, hạn chế và nguyên nhân; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Về mặt lý luận: Phân tích các vấn đề lý luận cơ bản nhất về áp dụng pháp luật nước ngoài của TPQT nói chung và TPQT Việt Nam nói riêng (khái niệm, đặc điểm, sự cần thiết, các học thuyết pháp lý).
  2. Về mặt thực tiễn: Phân tích và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật nước ngoài tại Tòa án nhân dân, Trọng tài thương mại và cơ quan hành chính ở Việt Nam; chỉ rõ các điểm nghẽn, nguyên nhân và đề xuất phương hướng hoàn thiện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận cơ bản (khái niệm, đặc điểm, mục đích, điều kiện, thể thức áp dụng) và hệ thống quy phạm pháp luật thực định Việt Nam; thực tiễn xét xử, giải quyết vụ việc tại Tòa án, Trọng tài và Cơ quan hành chính.
  • Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ Tư pháp quốc tế Việt Nam, đối chiếu với một số mô hình pháp luật quốc tế tiêu biểu (Anh, Hoa Kỳ, các nước Châu Âu lục địa).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống cơ sở lý thuyết, các học thuyết pháp lý truyền thống và hiện đại của Tư pháp quốc tế cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam và quốc tế:

  • Khung lý thuyết và các học thuyết pháp lý:
    • Khái niệm áp dụng pháp luật nước ngoài, bản chất của quy phạm xung đột (QPXĐ), hiện tượng dẫn chiếu ngược (phản chỉ) và dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba (chuyển chỉ).
    • Ba học thuyết pháp lý lớn về áp dụng pháp luật nước ngoài: Học thuyết chứng cứ (fact doctrine), Học thuyết pháp luật (law doctrine - gắn liền với nguyên tắc iura novit curia) và Học thuyết Hoa Kỳ (US Model - Quy tắc 44.1 Bộ quy tắc tố tụng dân sự liên bang Hoa Kỳ).
    • Nguyên tắc mối liên hệ gắn bó nhất (most significant relationship) và cơ chế bảo lưu trật tự công (public order reservation).
  • Văn bản pháp luật và điều ước quốc tế được sử dụng:
    • Văn bản pháp luật Việt Nam: Bộ luật Dân sự (BLDS) các năm 1995, 2005, 2015 (đặc biệt Phần thứ năm BLDS 2015); Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2004, 2015 (Điều 481); Bộ luật Hàng hải (1990, 2015); Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) các năm 1986, 2014; Luật Thương mại 2005; Luật Đầu tư (2005, 2014, 2020); Luật Trọng tài thương mại (TTTM) 2010; Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP; Thông tư số 11/TATC ngày 12/7/1974 của TANDTC; Nghị định số 138/2006/NĐ-CP.
    • Điều ước quốc tế và tập quán thương mại: Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG); Công ước LHQ về quyền dân sự, chính trị 1966; Hiệp định TRIPs 1994; gần 20 Hiệp định tương trợ tư pháp (HĐTTTP) song phương; Incoterms 2000, UCP.
  • Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành: phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu luật Việt Nam với luật Anh, Mỹ, Thụy Sỹ, Pháp, Ý), phương pháp lịch sử và phương pháp nghiên cứu thực tiễn qua bản án, phán quyết trọng tài.
  • Nguồn dữ liệu: Các giáo trình chuẩn mực (Giáo trình TPQT của Trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội); bài báo khoa học trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Khoa học pháp lý, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Nghề Luật; báo cáo thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân, 50 phán quyết trọng tài chọn lọc của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), khảo sát của Viện Luật so sánh Thụy Sĩ (2011).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về áp dụng pháp luật nước ngoài trong Tư pháp quốc tế

Chương này tập trung xác lập cơ sở khoa học cho hoạt động áp dụng luật nước ngoài trong các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài.

  • Định nghĩa và đặc điểm: Áp dụng pháp luật nước ngoài là việc cơ quan, chủ thể có thẩm quyền của quốc gia vận dụng các quy định cụ thể của pháp luật quốc gia khác (hiểu theo nghĩa rộng gồm luật thành văn, tập quán, án lệ) để điều chỉnh quan hệ TPQT cụ thể. Ba đặc điểm cốt lõi gồm: (1) Mang bản chất quyền lực nhà nước tương tự hoạt động áp dụng pháp luật nói chung; (2) Là vấn đề đặc thù chỉ đặt ra trong nội ngành TPQT nhằm giải quyết hiện tượng xung đột pháp luật bắt nguồn từ giới hạn hiệu lực không gian và đối tượng tác động; (3) Phải tuân thủ các điều kiện và thể thức pháp lý nhất định của quốc gia nơi giải quyết tranh chấp.
  • Sự cần thiết và ý nghĩa: Việc áp dụng luật nước ngoài là hệ quả khách quan tất yếu nhằm giải quyết xung đột luật; là nhu cầu khách quan bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của các bên, thúc đẩy giao lưu dân sự - thương mại quốc tế; đồng thời nâng cao uy tín, vị thế quốc gia và bảo đảm thực thi thiện chí các cam kết quốc tế.
  • Các học thuyết về viện dẫn và áp dụng pháp luật nước ngoài:
Tiêu chí Học thuyết chứng cứ (Fact doctrine) Học thuyết pháp luật (Law doctrine) Học thuyết Hoa Kỳ (US Model)
Khu vực áp dụng Vương quốc Anh và khối Thịnh vượng chung Các nước Châu Âu lục địa (Civil Law: Đức, Pháp, Ý, Thụy Sĩ...) Tòa án liên bang Hoa Kỳ (Quy tắc 44.1 FRCP)
Bản chất luật nước ngoài Coi là "sự kiện / chứng cứ" (fact / right), không phải là luật (law). Coi là "pháp luật" (law), bình đẳng với luật quốc gia. Coi là "pháp luật", nhưng có cơ chế tố tụng riêng.
Nghĩa vụ viện dẫn & chứng minh Đương sự bắt buộc phải chủ động nêu ra (plead) và chứng minh. Nếu không, Tòa áp dụng luật nơi xét xử (lex fori). Tòa án có nghĩa vụ tự xác định (iura novit curia); có thể yêu cầu Bộ Tư pháp, chuyên gia và đương sự hỗ trợ. Đương sự phải có thông báo/khởi xướng bằng văn bản. Nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự; Tòa có quyền (không bắt buộc) tự xác định.
Tiếp cận của Việt Nam Thời kỳ BLTTDS 2004 và NĐ 138/2006/NĐ-CP có xu hướng tương đồng học thuyết này (buộc đương sự chứng minh). BLDS 2015 và Điều 481 BLTTDS 2015 tiếp cận gần với học thuyết này: coi là luật, phân định nghĩa vụ cho cả Tòa án và đương sự. Tiếp thu tính linh hoạt trong việc cho phép đương sự thỏa thuận lựa chọn và cung cấp chứng cứ pháp lý.

Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về áp dụng pháp luật nước ngoài

Chương 2 phân tích quá trình lập pháp và hệ thống quy phạm thực định điều chỉnh việc áp dụng pháp luật nước ngoài tại Việt Nam.

  • Sự hình thành và phát triển: Từ giai đoạn sơ khai năm 1974 với Thông tư số 11/TATC hướng dẫn giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài (TAND địa phương phải thỉnh thị TANDTC để tìm hiểu luật nước ngoài), qua giai đoạn Đổi mới năm 1986 với Hiến pháp 1992, Bộ luật Hàng hải 1990, BLDS 1995, BLDS 2005, đến giai đoạn hoàn thiện hiện nay với BLDS 2015, BLTTDS 2015, Luật Đầu tư 2020.
  • Bốn trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài:
    1. Theo sự dẫn chiếu của QPXĐ thông thường: Quy định tại Phần thứ năm BLDS 2015 (từ Điều 672 đến Điều 687 gồm 16 QPXĐ thông thường, trong đó có 10 QPXĐ hai bên có thể dẫn chiếu tới luật nước ngoài), Điều 126, 127 Luật HN&GĐ 2014, khoản 3 Điều 151 Bộ luật Lao động 2019.
    2. Theo sự dẫn chiếu của QPXĐ thống nhất: Quy định trong các điều ước quốc tế đa phương (CISG 1980, TRIPs 1994) và song phương (gần 20 HĐTTTP ký với Tiệp Khắc 1982, Cuba 1984, Hungary 1985, Ba Lan 1993...). Điểm đặc thù là QPXĐ thống nhất chỉ dẫn chiếu đến phần luật thực định, triệt tiêu hiện tượng dẫn chiếu ngược (phản chỉ) và dẫn chiếu đến nước thứ ba (chuyển chỉ).
    3. Khi các bên thỏa thuận chọn luật: Quy định tại khoản 2 Điều 664, khoản 1 Điều 683, khoản 2 Điều 678 BLDS 2015; Điều 6 CISG 1980. Thỏa thuận chọn luật nước ngoài chỉ dẫn chiếu đến quy phạm thực chất, loại trừ quy phạm xung đột.
    4. Khi cơ quan có thẩm quyền xác định luật có mối quan hệ gắn bó nhất: Quy định tại khoản 3 Điều 664 BLDS 2015 nhằm khắc phục bế tắc khi không có QPXĐ dẫn chiếu hoặc các bên không thỏa thuận được luật áp dụng.
  • Hai trường hợp loại trừ áp dụng pháp luật nước ngoài (Điều 670 BLDS 2015):
    1. Bảo lưu trật tự công (Điểm a Khoản 1 Điều 670 BLDS 2015): Không áp dụng luật nước ngoài nếu hậu quả của việc áp dụng trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (như nguyên tắc bình đẳng tại khoản 1 Điều 3 BLDS 2015). Việc bảo lưu trật tự công chỉ gạt bỏ quy phạm cụ thể có xung đột, không phủ nhận hoàn toàn hệ thống pháp luật nước ngoài.
    2. Nội dung pháp luật nước ngoài không xác định được (Điểm b Khoản 1 Điều 670 BLDS 2015): Khi cơ quan có thẩm quyền và đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết nhưng không tìm ra nội dung luật. Khoản 2 Điều 670 BLDS 2015 quy định khi đó sẽ chuyển sang áp dụng pháp luật Việt Nam theo hệ thuộc lex fori.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật nước ngoài khi giải quyết các vụ việc Tư pháp quốc tế tại Việt Nam

Chương 3 khảo sát bức tranh thực tiễn áp dụng pháp luật nước ngoài tại 3 hệ thống cơ quan:

  • Thực tiễn tại Tòa án nhân dân:
    • Hiện trạng né tránh và từ chối: Trong suốt 18 năm liên tiếp từ khi ban hành BLTTDS 2004, Tòa án Việt Nam rất hiếm khi áp dụng QPXĐ để chọn luật nước ngoài mà có xu hướng áp dụng trực tiếp luật nội dung trong nước. Thẩm phán thường tạm đình chỉ để chờ ủy thác tư pháp hoặc xét xử vắng mặt bị đơn để né tránh quan hệ có yếu tố nước ngoài.
    • Án lệ/Vụ việc điển hình: Bản án số 171/2006/KDTM-ST ngày 06/09/2006 về tranh chấp hợp đồng vận chuyển container giữa Công ty TCC và Công ty Phili. Mặc dù khoản 2 Điều 834 BLDS 1995 quy định quyền và nghĩa vụ hợp đồng xác định theo luật nơi thực hiện hợp đồng (Cộng hòa Séc, CHLB Đức hoặc Anh Quốc), Tòa án đã không xem xét luật các quốc gia này mà áp dụng ngay luật Việt Nam để bác đơn khởi kiện.
    • Tâm lý e ngại của Thẩm phán: Tác giả so sánh với khảo sát năm 2011 của Viện Luật so sánh Thụy Sĩ về tỷ lệ thẩm phán châu Âu e ngại/không muốn áp dụng luật nước ngoài: Cộng hòa Síp: 60,7% (17/28 thẩm phán), Tây Ban Nha: 60% (15/25), Bỉ: 57% (4/7), Đức: 56,7% (17/30), Bulgaria: 45,8% (11/28). Tại Việt Nam, tâm lý e ngại xuất phát từ rào cản ngôn ngữ, chất lượng bản dịch và nguy cơ bản án bị hủy/sửa trong quá trình tố tụng.
  • Thực tiễn tại Trọng tài thương mại:
    • Quyền tự do và tính linh hoạt: Khoản 2 Điều 14 Luật TTTM 2010 trao quyền cho Hội đồng trọng tài áp dụng luật do các bên chọn hoặc luật mà Trọng tài cho là phù hợp nhất. Trọng tài thường xuyên áp dụng tập quán thương mại quốc tế (Incoterms 2000, UCP).
    • Các vụ việc thực tế tại VIAC:
      1. Vụ mua bán ngũ cốc (Singapore - Việt Nam): Nguyên đơn yêu cầu áp dụng Luật Thương mại Việt Nam 1997, bị đơn không có ý kiến; Hội đồng trọng tài áp dụng luật Việt Nam do hợp đồng ký và thực hiện tại Việt Nam.
      2. Vụ mua bán thép (Việt Nam - Trung Quốc): Các bên thỏa thuận áp dụng Incoterms 2000 và Luật Việt Nam; Trọng tài đã tuân thủ triệt để thỏa thuận.
      3. Vụ mua bán màn hình LED (Việt Nam - Hàn Quốc): Hợp đồng không quy định luật áp dụng, bị đơn yêu cầu luật Hàn Quốc; Trọng tài quyết định áp dụng luật Việt Nam vì toàn bộ quá trình lắp đặt, nghiệm thu, chạy thử, bảo hành đều diễn ra tại Việt Nam (luật gắn bó nhất).
    • Vấn đề bảo mật và trật tự công: Trong tập hợp 50 phán quyết trọng tài chọn lọc của VIAC, luật Việt Nam chiếm đa số. Trọng tài đối mặt với tình thế nan giải khi luật nước ngoài do các bên chọn có điều khoản xung đột với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (nguy cơ bị Tòa án hủy phán quyết).
  • Thực tiễn tại Cơ quan hành chính nhà nước:
    • Cơ quan hành chính (UBND, Sở Tư pháp) chủ yếu tiếp xúc với luật nước ngoài trong lĩnh vực HN&GĐ (đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài theo Điều 126 Luật HN&GĐ 2014 và Điều 30 Nghị định 123/2015/NĐ-CP; nuôi con nuôi quốc tế, nhận cha mẹ con).
    • Cơ chế áp dụng gián tiếp: Cơ quan hành chính không trực tiếp tra cứu luật nước ngoài mà yêu cầu đương sự nộp giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân/đủ điều kiện kết hôn do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp. Cán bộ hộ tịch chủ yếu kiểm tra tính hợp lệ về mặt hình thức của hồ sơ dựa trên luật Việt Nam, khiến quy định áp dụng luật nước ngoài mang tính hình thức.

Chương 4: Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật nước ngoài tại Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện

Chương 4 tổng kết các rào cản kỹ thuật, tố tụng và đưa ra giải pháp khắc phục.

  • Các khó khăn, vướng mắc chính:
    • Xác định tính hợp pháp của tài liệu chứa đựng luật nước ngoài: Khó khăn trong việc truy nguyên nguồn gốc chính thống; tình trạng văn bản bị hết hiệu lực, bị sửa đổi bổ sung mà đương sự không cập nhật; tài liệu không đủ điều kiện hợp pháp hóa lãnh sự.
    • Rào cản ngôn ngữ và dịch thuật: Khó khăn khi chuyển ngữ các thuật ngữ pháp lý đặc thù ra tiếng Việt, làm sai lệch nội dung quy phạm.
    • Năng lực chuyên môn và tâm lý e ngại: Thẩm phán và công chức tư pháp thiếu kỹ năng tra cứu luật quốc tế, e ngại trách nhiệm và rủi ro bị hủy án.
    • Vướng mắc về chứng minh luật tại Trọng tài: Bế tắc khi đương sự không thực hiện nghĩa vụ cung cấp nội dung luật.
    • Mơ hồ về khái niệm "trật tự công": Pháp luật Việt Nam chưa có tiêu chí phân định rõ ràng giữa "trật tự công" và "nguyên tắc cơ bản của pháp luật", dẫn đến nguy cơ lạm dụng cơ chế từ chối áp dụng luật nước ngoài.
  • Hệ thống kiến nghị hoàn thiện:
    • Ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết của TANDTC về trình tự, thủ tục, nguồn tra cứu và thẩm quyền xác minh pháp luật nước ngoài theo Điều 481 BLTTDS 2015.
    • Xây dựng cơ sở dữ liệu pháp luật quốc tế và cơ chế phối hợp hỗ trợ tư pháp hiệu quả giữa Tòa án với Bộ Tư pháp, cơ quan đại diện ngoại giao và các chuyên gia luật học.
    • Hoàn thiện tiêu chí xác định trật tự công và các nguyên tắc cơ bản để tránh tùy tiện áp dụng quy tắc loại trừ.
    • Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về Tư pháp quốc tế, ngoại ngữ pháp lý cho đội ngũ Thẩm phán, Trọng tài viên và cán bộ hộ tịch.

Kết quả và đóng góp

  • Tổng hợp kết quả nghiên cứu:
    • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật nước ngoài, làm rõ bản chất của 3 học thuyết pháp lý quốc tế (fact doctrine, law doctrine, US Model), chỉ ra bước chuyển của pháp luật Việt Nam từ cách tiếp cận coi trọng nghĩa vụ chứng cứ của đương sự (BLTTDS 2004) sang coi luật nước ngoài là hệ thống pháp luật thực định cần xác định (BLDS 2015, BLTTDS 2015).
    • Khái quát toàn bộ khung pháp lý gồm 4 căn cứ áp dụng và 2 căn cứ loại trừ quy định tại Phần thứ năm BLDS 2015 và các đạo luật chuyên ngành.
    • Phân tích thực trạng "từ chối trên thực tế" tại Tòa án nhân dân qua các bản án cụ thể (như Bản án 171/2006/KDTM-ST), đối chiếu với tỷ lệ e ngại của thẩm phán quốc tế (Síp 60,7%, Tây Ban Nha 60%, Bỉ 57%, Đức 56,7%, Bulgaria 45,8%) và phân tích cơ chế giải quyết tại Trọng tài thương mại (VIAC), cơ quan hành chính.
  • Giải pháp và kiến nghị: Đề xuất lộ trình hoàn thiện văn bản hướng dẫn thi hành Điều 481 BLTTDS 2015, thiết lập cơ chế hỗ trợ tra cứu luật nước ngoài thông qua Bộ Tư pháp và cơ quan ngoại giao, chuẩn hóa cơ chế áp dụng gián tiếp tại cơ quan hộ tịch.
  • Đóng góp của khóa luận: Khóa luận là công trình chuyên biệt, mang tính hệ thống và toàn diện đầu tiên tại thời điểm nghiên cứu (2024) tiếp cận vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài đồng thời trên cả ba bình diện: lý luận TPQT, thực trạng văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn thi hành tại cả 3 cơ quan (Tòa án, Trọng tài, Cơ quan hành chính), khắc phục tính phân tán của các bài báo tạp chí trước đó.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:
    • Về dữ liệu Tòa án: Báo cáo tổng kết gửi về TANDTC có rất ít hoặc hầu như không có thông tin chi tiết về các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh điều kiện áp dụng luật nước ngoài, do thực tế các Thẩm phán thường né tránh hoặc không ghi nhận trong báo cáo chính thức.
    • Về dữ liệu Trọng tài: Do nguyên tắc bảo mật thông tin nghiêm ngặt trong tố tụng trọng tài, tác giả chỉ có thể tiếp cận qua tập hợp 50 phán quyết chọn lọc được VIAC công bố công khai, chưa thể bao quát toàn bộ các vụ việc thực tế có áp dụng luật nước ngoài nhưng không công bố.
    • Về dữ liệu hành chính: Chưa có tài liệu thống kê chính thức cấp quốc gia về tỷ lệ và số lượng các vụ việc áp dụng luật nước ngoài tại hệ thống cơ quan hành chính nhà nước các cấp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Đi sâu khảo sát định lượng hồ sơ lưu trữ thực tế tại các TAND cấp tỉnh/thành phố lớn; nghiên cứu cơ chế giải quyết xung đột giữa nguyên tắc tự do thỏa thuận chọn luật của Trọng tài và giới hạn bảo lưu trật tự công khi Tòa án xem xét công nhận/hủy phán quyết trọng tài.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên chuyên ngành Luật, Luật Quốc tế, Tư pháp quốc tế; học viên cao học, nghiên cứu sinh nghiên cứu về xung đột pháp luật; Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Trọng tài viên, Luật sư tư vấn tranh chấp thương mại quốc tế và cán bộ tư pháp - hộ tịch.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Bảng tổng hợp và phân tích 3 học thuyết pháp lý quốc tế về áp dụng pháp luật nước ngoài tại Chương 1.
    • Hệ thống hóa các căn cứ chỉ định luật và căn cứ loại trừ tại Chương 2 (Điều 664, 670, 683 BLDS 2015).
    • Phân tích án lệ thực tế và các phán quyết trọng tài tại Chương 3, đặc biệt là cơ chế xử lý tình huống xung đột giữa thỏa thuận chọn luật và trật tự công.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định tại Điều 670 Bộ luật Dân sự 2015, pháp luật nước ngoài bị loại trừ không áp dụng trong những trường hợp nào và hậu quả pháp lý xử lý ra sao?
Trả lời: Pháp luật nước ngoài bị loại trừ trong 2 trường hợp: (1) Hậu quả của việc áp dụng trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (bảo lưu trật tự công); (2) Nội dung của pháp luật nước ngoài không xác định được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định. Khi thuộc một trong hai trường hợp này, khoản 2 Điều 670 BLDS 2015 quy định pháp luật Việt Nam (lex fori) sẽ được áp dụng để thay thế.

2. Bản án số 171/2006/KDTM-ST ngày 06/09/2006 đã bộc lộ hạn chế gì trong việc áp dụng pháp luật nước ngoài của Tòa án Việt Nam?
Trả lời: Trong vụ tranh chấp hợp đồng vận chuyển container giữa Công ty TCC và Công ty Phili (từ Việt Nam sang CH Séc và từ CHLB Đức sang Anh Quốc), theo khoản 2 Điều 834 BLDS 1995, luật áp dụng phải là luật của nước nơi thực hiện hợp đồng (CH Séc, CHLB Đức hoặc Anh Quốc). Tuy nhiên, Tòa án đã bỏ qua việc xem xét luật của các quốc gia này và áp dụng trực tiếp pháp luật Việt Nam để bác đơn khởi kiện của nguyên đơn.

3. Khảo sát của Viện Luật so sánh Thụy Sĩ năm 2011 được tác giả trích dẫn đưa ra những số liệu nào về tâm lý e ngại áp dụng luật nước ngoài của Thẩm phán các nước Châu Âu?
Trả lời: Khảo sát cho thấy: 60,7% Thẩm phán Cộng hòa Síp (17/28 người), 60% Thẩm phán Tây Ban Nha (15/25 người), 57% Thẩm phán Bỉ (4/7 người), 56,7% Thẩm phán Đức (17/30 người) và 45,8% Thẩm phán Bulgaria (11/28 người) trả lời không muốn áp dụng pháp luật nước ngoài khi xét xử.

4. Điểm khác biệt cơ bản giữa việc áp dụng pháp luật nước ngoài theo quy phạm xung đột thông thường và quy phạm xung đột thống nhất là gì?
Trả lời: QPXĐ thông thường do quốc gia tự ban hành có thể dẫn đến hiện tượng dẫn chiếu ngược (phản chỉ) hoặc dẫn chiếu đến nước thứ ba (chuyển chỉ). Ngược lại, QPXĐ thống nhất trong các điều ước quốc tế (như các Hiệp định tương trợ tư pháp) chỉ dẫn chiếu đến phần luật thực định của quốc gia được chỉ định, qua đó triệt tiêu hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến luật của nước thứ ba.

5. Cơ quan hành chính nhà nước tại Việt Nam áp dụng pháp luật nước ngoài theo cơ chế nào khi giải quyết việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài?
Trả lời: Cơ quan hành chính áp dụng pháp luật nước ngoài một cách gián tiếp: theo khoản 1 Điều 126 Luật HN&GĐ 2014 và Điều 30 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, cán bộ tư pháp không trực tiếp tra cứu luật nước ngoài mà yêu cầu công dân nước ngoài nộp giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân/đủ điều kiện kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước họ cấp, sau đó cơ quan Việt Nam kiểm tra tính hợp lệ của giấy tờ để cấp đăng ký kết hôn.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Hằng đã giải quyết một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài trong Tư pháp quốc tế Việt Nam từ phương diện lý luận đến thực tiễn xét xử, trọng tài và quản lý hành chính. Công trình đã làm rõ các điểm nghẽn thực tế như tâm lý e ngại của cơ quan tài phán, rào cản dịch thuật, xác minh nguồn luật và sự mơ hồ của cơ chế trật tự công. Các phát hiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng, xây dựng hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao trong khóa luận mang giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc đối với tiến trình hội nhập quốc tế của nền tư pháp Việt Nam.