lời mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của dé tài nghiên cứu gồm 3 phan: Phan thứ nhất: Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài; Phần thứ hai: Các chuyên đề nghiên cứu đề tài; Phần thứ ba: Bài báo khoa học. 10 PHAN THỨ NHAT: BAO CAO KET QUA NGHIEN CUU DE TAI II Giới thiệu chung “Pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia trên thế giới về BHTN - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” là một đề tài nghiên cứu cấp trường được thực hiện theo Hợp đồng nghiên cứu khoa học giữa Trường Đại học Luật Hà Nội và nhóm tac giả do Th.S Doan Xuân Trường là chủ nhiệm đề tài. Nội dung của đề tài được chia làm ba phần, gồm 08 chuyên đề. Phan thứ nhất: Một số van đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp va pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
Phần thứ nhất bao gồm 01 chuyên đề với nội dung chủ yếu là phân tích những van dé lý luận về BHTN và pháp luật về BHTN như khái niệm thất nghiệp, người thất nghiệp; ảnh hưởng của thất nghiệp; khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, phân loại của BHTN; khái niệm, nguyên tắc điều chỉnh, nội dung pháp luật về BHTN. Đây là những van dé lý luận cơ bản nhằm đánh giá thực trạng các pháp luật về BHTN ở Việt Nam cũng như pháp luật BHTN một số quốc gia trên thế giới và xây dựng bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Phần thứ hai: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thực hiện. Phan thứ nhất bao gồm 1 chuyên dé với nội dung phân tích, đánh giá thực trạng các quy định về BHTN tại Việt Nam hiện hành như đối tượng tham gia; chế độ BHTN.;quỹ BHTN; hồ sơ, thủ tục thực hiện chế độ BHTN; xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về BHTN.
Ngoài ra, tác giả chuyên đề cũng phân tích, đánh giá về thực tiễn thực hiện pháp luật về BHTN tại Việt Nam và đề xuất những kiến nghị cần thiết cho việc hoàn thiện những vẫn đề này trong thời gian tới. Phần thứ ba: Pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về bảo hiểm thất nghiệp và những đề xuất cho Việt Nam. Phần thứ ba được xác định là nội dung chính của đề tài. Ngoài việc phân tích các quy định của Tổ chức lao động quốc tế về BHTN, nhóm tác giả đã lựa chọn một số quốc gia, bao gồm: Trung Quốc, Đan Mạch, Thái Lan, 12 Đức.
Trên cơ sở phân tích đánh giá pháp luật BHTN của các nước này cũng như điều kiện thực tế của Việt Nam, nhóm tác giả đã đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật BHTN ở Việt Nam ở rat nhiều các phương diện như đối tượng áp dụng, chế độ BHTN, quản lý BHTN. Sau đây là những kết quả nghiên cứu chủ yếu của Đề tài được báo cáo theo ba nhóm nội dung đã đề cập: 1. Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp và pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 1.1 Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp - Khái niệm thất nghiệp, người thất nghiệp Một là, thất nghiệp được coi là hiện tượng tất yếu tồn tại trong nền kinh tế thị trường. Trong đó, các quy luật của nền kinh tế thị trường như quy luật cạnh tranh, cung — câu, giá trị là nguyên nhân cơ bản của thất nghiệp.
Trong lịch sử loài người, thất nghiệp lần đầu tiên ở xã hội tư bản. Các học thuyết vé thất nghiệp chủ yếu được xem xét dưới góc độ kinh tế. Các tác giả tiêu biểu có các nghiên cứu về thất nghiệp có thể ké đến là Uyliam Petty’; Adam Smith”: Keynes’; SamuelsonŸ. Các lý thuyết về thất nghiệp tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng đều cho thấy một điều cơ bản là, trong nên kinh tế thị trường vẫn có một bộ phận NLD thất nghiệp.
Thất nghiệp là hiện tượng người có năng lực lao động không có cơ hội tham gia lao động xã hội, bị tách khỏi tư liệu sản xuất. Hai là, theo nghiên cứu của nhóm tác giả, định nghĩa thất nghiệp của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) được nhiều nước tán thành và đưa vào áp > Uyliam Petty theo chủ nghĩa trọng thương nên cho rang dé giảm bớt tình trạng thất nghiệp thì phải day mạnh xuất khẩu ra bên ngoài dé thu hút lực lượng dân cư thừa trong xã hội (đây cũng là một trong những nguyên nhân đề các nước tư bản mở rộng thuộc địa). ° Người nghiên cứu một cách có hệ thống về việc làm và thất nghiệp, những nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp. 7 Tác giả đã nghiên cứu rất sâu về thất nghiệp trên cơ sở phân tích cung - cầu về lao động trong thị trường và các môi quan hệ kinh tế, xã hội khác.
Keynes thừa nhận van đề thất nghiệp không phải là những hiện tượng độc lập của đời sống kinh tế mà là kết quả của những tính quy luật nhất định trong việc đạt được cân bằng của hệ thống kinh tế * Samuelson đã phân tích cung-cầu về lao động dé thấy rõ bản chất của thất nghiệp và đưa ra các tiêu chi dé phân loại thất nghiệp 13 dụng. Lich sử phát triển của khái niệm “há: nghiệp ” được ghi nhận trong các văn bản pháp lý của tô chức ILO như Công ước 102 năm 1952 về quy phạm tối thiêu đối với an toàn xã hội; Công ước 168 năm 1988 về xúc tiến việc làm và chống thất nghiệp; Văn bản của Hội nghị quốc tế về lao động của ILO lần thứ 13 tại Geneva năm 1983 về thống kê dân số hoạt động kinh tế, việc làm, thất nghiệp và thiếu việc làm. Theo đó, “That nghiệp là hiện tượng toàn NLD ở độ tuổi quy định không có việc làm; có khả năng làm việc; đang đi tìm việc làm”. Như vậy, ILO đưa ra định nghĩa thất nghiệp băng cách liệt kê các tiêu chí: (1) Không có việc làm, nghĩa là đã không có bất kỳ một công việc được trả công hoặc công việc tự làm; (2) Có khả năng làm việc được hiểu là hiện tại có khả năng làm việc, nghĩa là có khả năng làm bất kỳ một công việc được trả công hoặc công việc tự làm; (3) Dang di tìm kiếm việc làm được hiểu là có khả năng làm việc, nghĩa là có khả năng làm bất kỳ một công việc được trả công hoặc công việc tự làm.
Ba là, việc xác định người thất nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phạm vị, đối tượng điều chỉnh của chế độ BHTN. Từ định nghĩa về thất nghiệp, ILO đã đưa ra bốn tiêu chí cơ bản để xác định “người thất nghiệp” đó là: trong độ tuôi lao động, có khả năng lao động, đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm. Khái niệm “thất nghiệp” dùng dé chỉ một hiện tượng xã hội mà ở đó một số lượng lao động xã hội bị dư thừa (không có việc làm) mặc dù NLD hoàn toàn có khả năng lao động và đang tìm kiếm việc làm; khái niệm “#gười thất nghiệp ” dé chỉ ra một cá nhân đơn lẻ người không có việc làm, trên cơ sở đó Nhà nước có những hỗ trợ cần thiết dé ho tổn tại và tìm kiếm việc làm. Ngoài ra, cần phân biệt người thất nghiệp và người không có việc làm.
Người không có việc làm là người hoàn toàn không làm công việc gi dé hưởng lương, tiền công hay lợi nhuận vì nhiều lý do khác nhau như không tìm được việc làm, không muốn làm việc, không có nhu cầu làm việc mặc dù trong độ tuổi lao động. 14 - Anh hưởng của thất nghiệp Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế xã hội, do tác động của nhiều yếu tố kinh tế —x4 hội, trong đó có những yếu tố vừa là nguyên nhân vừa là kết quả. Ngược lại, thất nghiệp có ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế — xã hội của đất nước. Có thê nói, ảnh hưởng của thất nghiệp tới kinh tế, xã hội chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ tiêu cực.
Thất nghiệp là hiện tượng có khả năng ảnh hưởng xấu tới tốc độ phát triển kinh tế, là nguyên nhân khiến lạm phát tăng cao. Thất nghiệp khién NLD không có việc làm, khiến thu nhập bị giảm hoặc mất, giảm chất lượng sống của NLĐ. Ngoài ra, thất nghiệp cũng có khả năng tạo ra những bat 6n cho xã hội. Ngược lại, thất nghiệp, xét trong một chừng mực nào đó, được xem như động lực dé phát triển, cải cách kinh tế.
Ty lệ thất nghiệp tăng cao buộc Nhà nước phải thực hiện các biện pháp điều chỉnh như thực thi các chính sách đổi mới nhằm phát triển kinh tế, xây dựng an sinh xã hội bền vững. - Khai niệm, đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp Từ việc phân tích các tác động của thất nghiệp tới đời sống xã hội, có thé khang định, sự ra đời của BHTN là cần thiết. BHTN là một hình thức bảo hiểm dựa trên sự đóng góp của Nhà nước, NLD và người sử dung lao động nhằm bù đắp một phần thu nhập cho NLD khi mat việc làm, tạo diéu kiện cho NLD tim được việc làm thông qua tu vấn và giới thiệu việc làm hoặc đào tạo lại. BHTN không phải là biện pháp giải quyết hậu quả thất nghiệp một cách bị động, mà BHTN có vai trò chủ động trong việc thúc đây sự chuyên đôi co cau ngành nghé, giảm thất nghiệp, giúp NLD nhanh chóng tìm được việc làm.
BHTN là một chế độ của bảo hiểm xã hội, theo đó BHTN không chi thay thé hoặc bù đắp một phan thu nhập của NLD nhằm đảm bảo cuộc sống cho ho trong thời gian bị mất việc làm, mà còn giúp đỡ đưa người thất nghiệp trở lại với thị trường lao động, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài 15 chính được đóng góp từ các bên tham gia BHTN, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của NLĐ và gia đình họ, bảo đảm an sinh xã hội. BHTN có những đặc điểm chung của bảo hiểm, đó là sự dịch chuyên, san sẻ rủi ro, chia sẻ tôn thất của những người tham gia. Mục dich cuỗi cùng và cơ bản của BHTN và bảo hiểm xã hội (BHXH là đảm bảo cho NLD và gia đình họ trước những “rủi ro xã hội”, có được cuộc sống an lành. Nếu như hệ thống BHTN thực hiện tốt chức năng bảo đảm thu nhập, thay thé cho NLD khi họ bị mất khoản thu nhập từ lao động do bị thất nghiệp, thì nhà nước và cộng đồng giảm thiểu được những chi phí về tai chính và chi phí xã hội để khắc phục những hậu quả do thất nghiệp.