Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1. Quan niệm về lao động giúp việc gia đình 1. Định nghĩa về lao động giúp việc gia đình Lao động giúp việc gia đình (GVGĐ) là một loại hình lao động đã xuất hiện từ rất lâu đời. Trên thế giới, loại hình lao động này có mặt từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về lao động GVGĐ.
Các nước khác nhau đang áp dụng những cách tiếp cận chính sách, pháp luật khác nhau và sử dụng thuật ngữ “lao động GVGĐ” để chỉ rất nhiều loại công việc khác nhau. Định nghĩa đầu tiên về người lao động giúp việc gia đình trên thế giới được đưa ra tại cuộc họp các chuyên gia do ILO tổ chức năm 1951. Theo đó, người giúp việc gia đình được định nghĩa là “người làm công việc tại nhà riêng, theo các hình thức và thời gian thanh toán tiền công khác nhau. Người này có thể do một hoặc nhiều người thuê và người chủ không được tìm kiếm lợi nhuận từ công việc này” [29, tr.
Với cách định nghĩa như vậy thì lao động GVGĐ được nhận biết bởi hai tiêu chí cơ bản: một là công việc của lao động GVGĐ được thực hiện trong “hộ gia đình”, hai là NSDLĐ không được tìm kiếm lợi nhuận từ công việc của người lao động. Đến năm 2011, theo Điều 1 của Công ước số 189 về “Việc làm bền vững cho lao động GVGĐ” thì “công việc giúp việc gia đình” được quy định là công việc được thực hiện trong một hoặc nhiều hộ gia đình; còn “người lao động giúp việc gia đình” là người thực hiện công việc gia đình trong mối quan hệ lao động việc làm. “Người thỉnh thoảng hoặc không thường xuyên thực hiện công việc gia 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đình và không làm việc đó như một nghề nghiệp thì không phải là người lao động GVGĐ” [29, tr. Như vậy theo Công ước 189, bổ sung thêm một tiêu chí đó là tính chất công việc của lao động GVGĐ phải thường xuyên tức là đều đặn, không bị gián đoạn; còn tính chất nghề nghiệp thì có thể hiểu là tính cố định, công việc đấy là nghề để mưu sinh.
Để được gọi là một người GVGĐ thì bản thân người lao động đó phải thực hiện và coi GVGĐ là công việc ổn định, lâu dài, là công việc mang lại nguồn thu nhập chính cho bản thân. Theo luật Việc làm của Singapore (2008) “người GVGĐ là người được thuê để làm việc nhà, làm vườn hoặc lái xe phục vụ mục đích cá nhân và không được coi là người lao động được điều chỉnh bởi luật Việc làm” (Điều 2) [4, tr. Đạo luật về việc làm số 265 năm 1955 của Malaysia đưa ra định nghĩa về người GVGĐ hay người phục vụ trong gia đình theo cách gọi của nước này (domestic servant) là: người được thuê lại để làm những công việc trong gia đình, không liên quan tới bất kì hoạt động thương mại, kinh doanh hoặc nghề nghiệp của người chủ gia đình. Họ có thể là người nấu cơm, lau dọn nhà cửa, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình”.
Bộ luật Lao động của Philippin (1998) sử dụng thuật ngữ “phục vụ trong nhà hoặc cho hộ gia đình” (domestic/ household service) nghĩa là “dịch vụ GVGĐ hoặc hộ gia đình” là loại hình dịch vụ mà thông thường người sử dụng lao động thuê người lao động vì nhu cầu hoặc mong muốn được thỏa mãn nhu cầu tiện lợi cá nhân của người sử dụng lao động hoặc thành viên gia đình họ, bao gồm cả dịch vụ lái xe riêng gia đình [4, tr. Luật lao động của Camphuchia (1997) quy định “Người giúp việc trong gia đình” là những người lao động tham gia vào công việc chăm sóc chủ nhà hay trông nom tài sản của chủ nhà để nhận thù lao” (Điều 4), [4, tr. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Còn theo Luật lao động của Brunei (2002) “Người GVGĐ là bất kỳ người nào dọn dẹp nhà cửa, chuồng trại hoặc làm vườn hoặc lái xe hoặc liên quan đến các công việc của bất kỳ nhà ở, nhà ăn, câu lạc bộ hoặc tổ chức nhà nước hoặc tư nhân” (Điều 2) [4, tr. Với định nghĩa này ta thấy: cách tiếp cận chính sách và pháp luật của Brunei khác với cách tiếp cận chính sách và pháp luật của Campuchia.
Nếu như Luật lao động của Camphuchia quy định phạm vi làm việc của lao động GVGĐ chỉ giới hạn trong hộ gia đình thì Luật lao động của Brunei quy định nơi làm việc của lao động GVGĐ không chỉ trong hộ gia đình mà còn ở cả nhà ăn, câu lạc bộ hoặc các tổ chức tư nhân hay nhà nước. Tại Việt Nam, nghề giúp việc tại các gia đình xuất hiện từ thời kỳ phong kiến. Trước đây, vào khoảng năm 1401, trong cải cách chế độ của Hồ Quý Ly có một quy định đó là hạn chế số lượng gia nô trong nhà quan. Gia nô là kẻ làm các công việc từ đồng áng đến việc nhà và gần như không có quyền tự do.
Khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội, đô thị này xuất hiện nghề giúp việc cho các gia đình người Pháp và cả những gia đình người Việt ở tầng lớp trung lưu, từ đó xuất hiện những cái tên "anh xe", "con sen", "u già".Thương mại phát triển, nhiều người Việt trở nên giàu có và họ cũng có nhu cầu thuê người giúp việc, thế nên đầu thế kỷ XX, số người giúp việc tăng lên đáng kể, nhiều gia đình mua xe tay và nuôi anh xe khỏe mạnh trong nhà để đưa ông chủ, bà chủ đi chơi, công việc, đưa con cái họ đi học. Cũng như con sen, chị khâu, u già. họ ở dãy nhà ngang của gia chủ và được trả lương theo tháng. Đến thời kỳ đổi mới thì quan niệm về người giúp việc không còn nặng nề như thời bao cấp.
Các gia đình có điều kiện nhưng neo người đã thuê người ở nông thôn giúp việc cho gia đình. Như vậy cho thấy LĐGVGĐ đã thực sự tồn tại trong xã hội Việt Nam từ rất lâu nhưng phải đến Bộ luật Lao động năm 1994 mới đề cập chính thức tới thuật ngữ giúp việc gia đình, tại Điều 2 quy định: “Bộ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com luật này cũng được áp dụng đối với người học nghề, người giúp việc gia đình và một số loại lao động khác được quy định tại Bộ Luật này và có những tính chất đặc thù của loại hình lao động này tại các điều 28, điều 139 BLLĐ” [24]. Mặc dù có đề cập đến lao động giúp việc nhưng còn rất chung chung, không có hướng dẫn cụ thể và chế tài đi kèm, do đó Bộ luật Lao động năm 2012 đã ra đời. Lần đầu tiên giúp việc gia đình được công nhận là một nghề và được luật hóa, đây được đánh giá là bước tiến dài khi thông qua việc dành một mục riêng (Mục 5 của Chương XI) gồm 5 điều (từ điều 179 đến điều 183) để điều chỉnh đối với LĐGVGĐ.
Trong năm 2014, các quy định về lao động giúp việc cũng ngày càng cụ thể hơn với Nghị định số 27/2014/NĐ-CP và Thông Tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH. Các quy định của các văn bản pháp luật này đã nâng cao vị thế của lao động giúp việc trên thị trường lao động và làm nhiều người trong xã hội có cái nhìn khác về những người hành nghề giúp việc. Theo qui định tại Điều 179, Bộ luật Lao động 2012 và tại Điều 3 nghị định số 27/2014/NĐ-CP qui định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là giúp việc gia đình, lao động là người GVGĐ được xác định là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình (là các công việc trong hợp đồng lao động được lặp đi lặp lại theo một khoảng thời gian nhất định (hằng giờ, hằng ngày, hằng tuần hoặc hằng tháng) của một hoặc nhiều hộ gia đình. Các công việc trong gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại.
Trong đó, bao gồm người lao động sống tại gia đình người sử dụng lao động và người lao động không sống tại gia đình người sử dụng lao động [24]. Điều luật đã nêu rõ các công việc trong gia đình phải “không liên quan 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến hoạt động thương mại” và “người làm công việc giúp việc gia đình theo hình thức khoán việc thì không thuộc đối tượng áp dụng của Bộ Luật”. Nhìn chung, quan niệm của Việt Nam về lao động giúp việc gia đình có cùng xu hướng với các nước trên thế giới. Các quốc gia khác nhau có cách định nghĩa lao động GVGĐ có thể giống hoặc không giống nhau nhưng tựu chung lại, định nghĩa đều đề cập đến 04 dấu hiệu đặc trưng liên quan đến lao động GVGĐ: Thứ nhất, phạm vi làm việc, đây là một tiêu chí cơ bản của công việc LĐGVGĐ.
Hầu hết các nước quy định phạm vi làm việc được thực hiện trong: “Hộ gia đình”. Tuy nhiên có một số quốc gia thì quy định không chỉ trong hộ gia đình. Ví dụ: Brunei; Tây Ban Nha. Thứ hai, đó là LĐGVGĐ là loại hoạt động không liên quan đến hoạt động thương mại.
Ở Argentina (Nghị định No.979/56) và Malaysia, pháp luật liên quan loại trừ các hình thức lao động gắn với kinh doanh thương mại hoặc chuyên môn được một người sử dụng lao động thực hiện tại nhà của mình ra khỏi phạm vi của LĐGVGĐ. Brazin loại trừ công việc được thực hiện vì mục đích phi lợi nhuận (Điều 1 của Đạo luật No. 5859 ngày 11 tháng 12 năm 1972). Ở điều 161 Bộ luật lao động của Guatemala đã loại những công việc đem lại lợi nhuận hoặc vì mục đích kinh doanh của người sử dụng lao động ra khỏi định nghĩa LĐGVGĐ [30].
Tuy nhiên ở Uruguay (Đạo luật số 18.065) liên quan đến những tiêu chuẩn về lao động GVGĐ lại tập trung vào các nhiệm vụ dẫn đến “lợi ích kinh tế trực tiếp” của người lao động GVGĐ. Như vậy cho thấy việc đòi hỏi những kỹ năng của người lao động GVGĐ phải được đào tạo và có thể đem lại lợi ích vật chất cho gia đình và cho cả nền kinh tế ở phạm vi rộng hơn. Pháp, Thụy sĩ cũng có cách tiếp cận như vậy. Thứ ba, về công việc của người lao động GVGĐ.
Chủ yếu các quốc gia 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.