Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kì đổi mới và hội nhập" do nghiên cứu sinh Nguyễn Hồng Bắc thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Tư pháp), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Phước Hiệp và PGS. Hà Thị Mai Hiên, chuyên ngành Luật dân sự (Mã số: 5.05.07), hoàn thành năm 2003.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định chủ trương nhất quán về đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng và đa phương hóa các quan hệ quốc tế. Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra yêu cầu chủ động tham gia sâu rộng vào các định chế quốc tế. Trong bối cảnh Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 160 quốc gia, có quan hệ hợp tác kinh tế – tài chính với hơn 200 tổ chức và diễn đàn quốc tế, buôn bán với hơn 100 nước, số lượng giao lưu dân sự xuyên biên giới tăng trưởng nhanh chóng. Trung bình mỗi năm có hơn 1,5 triệu lượt người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhập cảnh; đồng thời có hơn 2,5 triệu người Việt Nam sinh sống tại hơn 80 quốc gia trên thế giới.
Sự gia tăng giao lưu kinh tế – xã hội dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của các quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài (kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ, cấp dưỡng, ly hôn, phân chia tài sản). Mặc dù Nhà nước đã ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, ký kết nhiều Hiệp định tương trợ tư pháp (HĐTTTP) và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành (như Nghị định số 68/2002/NĐ-CP), hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế, thiếu đồng bộ và phát sinh nhiều vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. Cho đến thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình khoa học nào đi sâu phân tích một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống về cơ chế pháp lý điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài trong thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài; phân tích có hệ thống các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài; kiến nghị phương hướng và hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong giai đoạn đổi mới và hội nhập.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích khái niệm, đặc trưng, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.
- Phân tích, đối chiếu các quy định hiện hành của pháp luật thực định Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
- Phân tích thực tiễn thi hành, đánh giá vướng mắc và đề xuất các giải pháp lập pháp, áp dụng pháp luật nhằm hoàn thiện khung pháp lý.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan hệ xã hội trong lĩnh vực gia đình có yếu tố nước ngoài (quan hệ giữa vợ và chồng; cha, mẹ và con; quan hệ nuôi con nuôi; quan hệ giám hộ; quan hệ cấp dưỡng; quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình) cùng toàn bộ hệ thống quy phạm pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế điều chỉnh các quan hệ này.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế song phương, đa phương mà Việt Nam tham gia hoặc có liên quan;
- Thời gian: Tập trung vào giai đoạn từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến đầu những năm 2000, trọng tâm là các văn bản pháp lý có hiệu lực tại thời điểm nghiên cứu như Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước
Vấn đề quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài đã được nhiều học giả quốc tế và trong nước tiếp cận ở các góc độ khác nhau:
| Nhóm nghiên cứu |
Tác giả tiêu biểu / Công trình |
Nội dung tiếp cận chính |
| Học giả quốc tế (Pháp) |
M. Bernard Audit, Daniel Gutmann, Coucheez, Henri Batiffol, Paul Lagarde, Pierre Mayer, Gaudemet-Tallon, Yvon Loussouarn |
Xung đột pháp luật trong chế độ gia đình; quan hệ tài sản giữa vợ và chồng; xác định luật áp dụng đối với quan hệ nhân thân và tài sản gia đình xuyên quốc gia. |
| Viện nghiên cứu và cơ quan tư pháp |
Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp (1998) |
Chuyên đề "Chế định nuôi con nuôi trong pháp luật Việt Nam và quốc tế", tập trung vào thủ tục và điều kiện nuôi con nuôi xuyên quốc gia. |
| Công trình chuyên khảo và bài viết tạp chí |
Nguyễn Công Khanh (2000, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 4) Thái Công Khanh (2000, Tạp chí Tòa án nhân dân số 12) Bộ Tư pháp (tháng 2/2000) Ngô Thị Hường, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Phương Lan (Tạp chí Luật học) |
Bài viết "Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài". Bài viết "Bàn về giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài". Chuyên đề bình luận Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các khía cạnh chuyên sâu về quan hệ gia đình trong nước và có yếu tố nước ngoài. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu nghiên cứu ở phạm vi từng chế định đơn lẻ (nuôi con nuôi, giám hộ) hoặc phân tích dưới dạng bài báo khoa học mang tính bình luận văn bản mới ban hành. Luận án của tác giả Nguyễn Hồng Bắc là công trình chuyên khảo ở bậc tiến sĩ đầu tiên nghiên cứu toàn diện, tổng thể và có hệ thống về lý luận, thực trạng pháp luật thực định và thực tiễn thi hành pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
- Cơ sở lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Luận án vận dụng học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là luận điểm của Ph. Ăng-ghen trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, chế độ tư hữu và của nhà nước" về bản chất của gia đình là một phạm trù lịch sử gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội, các hình thái gia đình trong lịch sử (gia đình huyết tộc, gia đình punaluan, gia đình đối ngẫu, gia đình xã hội chủ nghĩa) và gia đình là tế bào của xã hội.
- Lý thuyết Tư pháp quốc tế về phương pháp điều chỉnh: Luận án sử dụng khung phân tích kết hợp giữa hai phương pháp điều chỉnh đặc thù:
- Phương pháp xung đột: Sử dụng hệ thống các quy phạm xung đột (đơn phương và thống nhất) để chọn luật áp dụng;
- Phương pháp thực chất: Sử dụng các quy phạm pháp luật thực chất (đơn phương trong luật quốc gia và thống nhất trong các điều ước quốc tế) để trực tiếp giải quyết quyền và nghĩa vụ của các bên.
- Các hệ thuộc luật xung đột căn bản:
- Lex rei sitae (Luật nơi có tài sản): Áp dụng giải quyết tranh chấp quyền sở hữu và tài sản trong quan hệ gia đình;
- Lex personalis (Luật nhân thân), bao gồm Lex patriae (Luật quốc tịch) và Lex domicilii (Luật nơi cư trú): Áp dụng cho các quyền nhân thân, năng lực hành vi và quan hệ nhân thân giữa các thành viên;
- Lex loci actus (Luật nơi thực hiện hành vi): Áp dụng đối với sự kiện xác lập hành vi pháp lý (như đăng ký kết hôn, nhận con nuôi).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính khoa học pháp lý:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ nội hàm các khái niệm pháp lý, cấu trúc của các quy phạm xung đột và quy phạm thực chất.
- Phương pháp hệ thống hóa: Phân loại các nhóm quan hệ gia đình (vợ chồng, cha mẹ - con cái, nuôi con nuôi, giám hộ, cấp dưỡng) và cấu trúc nguồn luật điều chỉnh.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế (Hiệp định tương trợ tư pháp, Công ước La Haye năm 1993, Công ước Quyền trẻ em năm 1989, Công ước CEDAW năm 1979) và pháp luật một số quốc gia (Ba Lan, Hungary, Vương quốc Anh).
- Phương pháp lịch sử: Phân tích sự phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam qua các thời kỳ: 1945–1954, 1954–1975, 1975–1986 và từ 1986 đến năm 2003.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Hiến pháp 1992, Bộ luật Dân sự 1995, Luật Hôn nhân và gia đình 1986 và 2000, Luật Quốc tịch 1988 và 1998, Bộ luật Hình sự 1999, Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài năm 1993, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, Nghị định số 87/2001/NĐ-CP, Sắc lệnh số 53-SL ngày 20/10/1945, Điều lệ đăng ký hộ tịch năm 1961.
- Hệ thống điều ước quốc tế: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR 1966), Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR 1966), Công ước về quốc tịch của người phụ nữ lấy chồng nước ngoài năm 1957, Công ước về loại trừ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW 1979), Công ước về quyền trẻ em năm 1989, Công ước La Haye năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế, các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương giữa Việt Nam và các nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lí luận về pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
Chương 1 xây dựng hệ thống nền tảng lý luận về khái niệm, đặc trưng, nguyên tắc và lịch sử phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam:
- Khái niệm "Gia đình có yếu tố nước ngoài" và "Quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài":
- Khái niệm gia đình: Kế thừa định nghĩa tại khoản 10 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa họ.
- Bản chất gia đình có yếu tố nước ngoài: Là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng có yếu tố nước ngoài. Gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam vẫn giữ chức năng cơ bản là tái sản xuất ra con người, duy trì nòi giống và là tế bào của xã hội được Nhà nước bảo vệ (Điều 7, khoản 1 Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000).
- Bốn tiêu chí xác định yếu tố nước ngoài: Dựa trên khoản 14 Điều 8 và khoản 4 Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, yếu tố nước ngoài thể hiện qua:
- Yếu tố chủ thể: Giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài (người có quốc tịch nước ngoài hoặc người không quốc tịch).
- Yếu tố nơi cư trú: Giữa những người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài.
- Yếu tố khách thể: Tài sản liên quan đến quan hệ gia đình ở nước ngoài.
- Yếu tố sự kiện pháp lý: Căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ gia đình xảy ra ở nước ngoài.
- Đề xuất chỉnh lý thuật ngữ lập pháp: Tác giả chỉ ra điểm bất cập tại điểm c khoản 14 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 khi dùng cụm từ "theo pháp luật nước ngoài". Đối với quan hệ giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài, cần thay thế bằng cụm từ "xảy ra ở nước ngoài" để đảm bảo tính chính xác khoa học và thống nhất với Điều 826 Bộ luật Dân sự năm 1995.
- Các phân nhóm quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài:
- Quan hệ giữa vợ và chồng: Xác lập qua sự kiện kết hôn, gồm quan hệ nhân thân và tài sản khi các bên khác quốc tịch, hoặc cùng quốc tịch Việt Nam nhưng cư trú ở nước ngoài, có tài sản ở nước ngoài, hoặc sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài.
- Quan hệ giữa cha, mẹ và con: Quan hệ huyết thống (sinh đẻ, nhận con ngoài giá thú) hoặc quan hệ nuôi dưỡng nhân tạo (nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo Điều 67).
- Quan hệ giám hộ có yếu tố nước ngoài: Xác lập giữa các bên khác quốc tịch hoặc cùng cư trú ở nước ngoài nhằm chăm sóc, bảo vệ người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi theo Điều 67 BLDS và Điều 79 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Quan hệ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài: Thực hiện nghĩa vụ tài sản đóng góp nhu cầu thiết yếu khi các bên không cùng cư trú hoặc khác quốc tịch theo khoản 11 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Đặc trưng và nguyên tắc cơ bản:
- Đặc trưng: Đối tượng điều chỉnh phức tạp bởi yếu tố biên giới và xung đột pháp luật; sử dụng kết hợp phương pháp xung đột và phương pháp thực chất; bảo vệ quyền con người (ưu tiên bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em).
- Hệ thống nguyên tắc chỉ đạo:
- Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài phù hợp pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế (khoản 1 Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình 2000); xử lý nghiêm các hành vi vi phạm bằng chế tài hành chính (Nghị định 87/2001/NĐ-CP) và hình sự (Điều 151, 152 Bộ luật Hình sự 1999).
- Nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế (pacta sunt servanda): Khi có sự khác biệt giữa luật trong nước và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết/gia nhập thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế (khoản 2 Điều 827 BLDS 1995, khoản 2 Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình 2000, Điều 4 Nghị định 68/2002/NĐ-CP).
- Nguyên tắc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài qua cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự (khoản 2, 3 Điều 100, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình 2000).
- Nguyên tắc không phân biệt đối xử và áp dụng chế độ đối xử quốc gia (NT) cho người nước ngoài trong quan hệ gia đình tại Việt Nam (khoản 2 Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình 2000, Điều 830 BLDS 1995).
- Nguyên tắc bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em: Nội luật hóa Công ước Quyền trẻ em 1989 (Điều 7, 12, 21), Công ước CEDAW 1979 (Điều 3), Công ước 1957 về quốc tịch phụ nữ kết hôn, và các chuẩn mực của Công ước La Haye năm 1993 về nuôi con nuôi quốc tế.
- Tiến trình lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam:
- 1945–1954: Tuyên bố chính sách của Chính phủ liên hiệp lâm thời ngày 01/01/1946; Sắc lệnh số 53-SL ngày 20/10/1945 quy định phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài mất quốc tịch Việt Nam (sau này đã bị bãi bỏ).
- 1954–1975: Điều chỉnh chủ yếu trong quan hệ với công dân các nước xã hội chủ nghĩa qua các văn bản dưới luật (như Điều lệ đăng ký hộ tịch 1961).
- 1975–1986: Ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp đầu tiên với các nước khối XHCN; phân loại đối tượng người nước ngoài trong giải quyết việc gia đình.
- Từ 1986 đến 2003: Thời kỳ đổi mới, ban hành Luật Hôn nhân và gia đình 1986, Pháp lệnh 1993, BLDS 1995, Luật Hôn nhân và gia đình 2000, mở rộng hợp tác quốc tế đa phương và song phương.
Chương 2: Pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế Việt Nam kí kết hoặc tham gia điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
Chương 2 phân tích quy chế pháp lý thực định theo hai nguồn cơ bản: luật quốc gia và điều ước quốc tế:
- Pháp luật Việt Nam hiện hành (Trang 69–106):
- Quy chế kết hôn có yếu tố nước ngoài: Điều kiện kết hôn, nghi thức đăng ký kết hôn, thẩm quyền của UBND cấp tỉnh và Cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài; xử lý xung đột pháp luật về năng lực kết hôn theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae) kết hợp luật nơi đăng ký kết hôn (lex loci celebrationis).
- Quy chế ly hôn có yếu tố nước ngoài: Thẩm quyền giải quyết ly hôn của Tòa án nhân dân cấp tỉnh; luật áp dụng giải quyết ly hôn và phân chia tài sản chung của vợ chồng (nguyên tắc nơi thường trú chung hoặc nơi có bất động sản lex rei sitae).
- Chế định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài: Phân tích điều kiện của người nhận con nuôi, trẻ em được nhận làm con nuôi theo Nghị định số 68/2002/NĐ-CP; thẩm quyền và vai trò của Cục Con nuôi quốc tế (Bộ Tư pháp).
- Chế định giám hộ và cấp dưỡng: Quy định về điều kiện chỉ định người giám hộ, quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các bên cư trú khác quốc gia.
- Điều ước quốc tế Việt Nam ký kết hoặc tham gia (Trang 107–125):
- Các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương: Phân tích cơ chế ủy thác tư pháp, xác định thẩm quyền xét xử và pháp luật áp dụng đối với tranh chấp hôn nhân - gia đình giữa công dân Việt Nam và công dân các nước ký kết (các nước Đông Âu, Nga, Cuba, Lào...).
- Các công ước quốc tế đa phương: Đánh giá việc thực hiện Công ước Quyền trẻ em 1989, Công ước CEDAW 1979 và lộ trình chuẩn bị tham gia Công ước La Haye năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế.
Chương 3: Thực tiễn thi hành pháp luật về quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật đó trong thời kỳ đổi mới và hội nhập
Chương 3 tập trung vào đánh giá thực trạng áp dụng và kiến nghị giải pháp:
- Thực tiễn thi hành pháp luật (Trang 126–155):
- Thực trạng giải quyết đăng ký kết hôn và hộ tịch: Đánh giá số lượng và tiến độ thụ lý hồ sơ kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài tại các địa phương; tình trạng môi giới kết hôn bất hợp pháp và giả tạo.
- Thực tiễn giải quyết nuôi con nuôi quốc tế: Việc thẩm định hồ sơ trẻ em, thủ tục giao nhận con nuôi, công tác theo dõi sự phát triển của trẻ em sau khi được nhận nuôi ra nước ngoài.
- Thực tiễn xét xử tại Tòa án: Khó khăn trong việc tống đạt giấy tờ tư pháp ra nước ngoài, thu thập chứng cứ, xác minh nơi cư trú và áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc điều ước quốc tế khi giải quyết ly hôn vắng mặt đương sự.
- Các giải pháp hoàn thiện pháp luật (Trang 156–185):
- Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật quốc gia: Sửa đổi, bổ sung các quy phạm xung đột trong Luật Hôn nhân và gia đình và Bộ luật Dân sự; khắc phục các khoảng trống về xung đột pháp luật trong phân định tài sản vợ chồng, thẩm quyền giám hộ và nghĩa vụ cấp dưỡng xuyên quốc gia.
- Đẩy mạnh hoạt động điều ước quốc tế: Đàm phán, ký kết thêm các HĐTTTP mới; khẩn trương hoàn thiện các điều kiện pháp lý và tổ chức để gia nhập Công ước La Haye năm 1993.
- Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành: Cải cách thủ tục hành chính tư pháp; tăng cường phối hợp liên ngành (Tư pháp – Ngoại giao – Công an – Tòa án); bồi dưỡng năng lực tư pháp quốc tế cho đội ngũ thẩm phán và cán bộ tư pháp - hộ tịch.
Kết quả và những đóng góp mới
- Đóng góp về mặt lý luận:
- Xây dựng hệ thống khái niệm khoa học hoàn chỉnh về "gia đình có yếu tố nước ngoài" và "pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài" trong điều kiện đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Làm rõ cấu trúc 4 yếu tố cấu thành quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài (chủ thể, khách thể, sự kiện pháp lý, nơi cư trú), chỉ ra tính mở rộng của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 so với lý luận truyền thống.
- Phát hiện và luận chứng khoa học về việc sửa đổi điểm c khoản 14 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: đề xuất thay thế cụm từ "theo pháp luật nước ngoài" bằng cụm từ "xảy ra ở nước ngoài" nhằm đảm bảo bao quát trường hợp quan hệ gia đình giữa các công dân Việt Nam phát sinh sự kiện pháp lý tại nước ngoài.
- Đóng góp về mặt thực tiễn và lập pháp:
- Phân tích, đánh giá có hệ thống sự tương thích giữa pháp luật hôn nhân - gia đình thực định Việt Nam với các điều ước quốc tế song phương (HĐTTTP) và đa phương (Công ước Quyền trẻ em, CEDAW, Công ước La Haye 1993).
- Tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật, chỉ ra các vướng mắc trong thủ tục đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi quốc tế và xét xử ly hôn có đương sự ở nước ngoài.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm: sửa đổi hoàn thiện quy phạm xung đột và quy phạm thực chất, nâng cao năng lực cơ quan tư pháp, và lộ trình gia nhập các công ước quốc tế đa phương chuyên ngành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Luận án được hoàn thành năm 2003, do đó các phân tích pháp luật thực định gắn liền với hệ thống văn bản tại thời điểm nghiên cứu (Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP).
- Nguồn số liệu thực tiễn và các vụ án xét xử thực tế phản ánh bối cảnh giai đoạn đầu của tiến trình hội nhập, chưa bao quát được các biến động pháp lý sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và ban hành các đạo luật mới sau này.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu tác động thực tiễn sau khi Việt Nam chính thức ký kết và gia nhập Công ước La Haye năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế.
- Nghiên cứu sâu hơn về xung đột quyền tài phán quốc tế và cơ chế công nhận, cho thi hành bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu và đào tạo: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật trong các học phần Tư pháp quốc tế, Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình.
- Đối với hoạt động lập pháp và quản lý nhà nước: Là tài liệu tham khảo cho các cơ quan lập pháp (Quốc hội), cơ quan quản lý tư pháp (Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao) trong việc sửa đổi, bổ sung quy phạm tư pháp quốc tế và đàm phán các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp.
- Đối với cơ quan áp dụng pháp luật: Hỗ trợ nghiệp vụ cho Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cán bộ Sở Tư pháp, cán bộ hộ tịch và viên chức lãnh sự thuộc các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong xử lý hồ sơ, vụ việc gia đình có yếu tố nước ngoài.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định các yếu tố cấu thành "yếu tố nước ngoài" trong quan hệ gia đình gồm những tiêu chí nào?
Theo phân tích của luận án dựa trên Điều 826 BLDS 1995, khoản 14 Điều 8 và khoản 4 Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình 2000, quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài được xác định qua 4 tiêu chí:
- Chủ thể: Có ít nhất một bên là người nước ngoài (hoặc người không quốc tịch).
- Cư trú: Người nước ngoài thường trú tại Việt Nam; hoặc công dân Việt Nam mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài.
- Khách thể: Tài sản liên quan đến quan hệ gia đình nằm ở nước ngoài.
- Sự kiện pháp lý: Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ gia đình xảy ra ở nước ngoài.
2. Tác giả đã chỉ ra điểm hạn chế nào về mặt kỹ thuật lập pháp tại khoản 14 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000?
Tác giả chỉ ra rằng tại điểm c khoản 14 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, việc sử dụng cụm từ "theo pháp luật nước ngoài" là chưa chính xác và không bao quát hết thực tiễn. Khi quan hệ phát sinh giữa các công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài, yếu tố quyết định là địa điểm xảy ra sự kiện pháp lý. Do đó, tác giả đề xuất thay cụm từ "theo pháp luật nước ngoài" bằng cụm từ "xảy ra ở nước ngoài" để thống nhất với Điều 826 BLDS năm 1995.
3. Nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế được luận án lý giải như thế nào?
Luận án căn cứ vào nguyên tắc quốc tế pacta sunt servanda (thiện chí thực hiện cam kết quốc tế), Điều 11 Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, khoản 2 Điều 827 BLDS 1995, khoản 2 Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 và Điều 4 Nghị định 68/2002/NĐ-CP. Theo đó, khi có sự mâu thuẫn hoặc khác biệt giữa quy định của pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, cơ quan có thẩm quyền phải ưu tiên áp dụng quy định của điều ước quốc tế.
4. Hệ thuộc luật nào được áp dụng chủ yếu để giải quyết tranh chấp tài sản và nhân thân trong quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài?
- Đối với tài sản: Áp dụng nguyên tắc luật nơi có tài sản (lex rei sitae), được ghi nhận tại khoản 1 Điều 833 BLDS năm 1995 (ngoại trừ quyền sở hữu trí tuệ áp dụng theo nguyên tắc lãnh thổ tuyệt đối).
- Đối với quyền nhân thân: Áp dụng nguyên tắc luật nhân thân (lex personalis), tùy trường hợp cụ thể sẽ lựa chọn luật quốc tịch (lex patriae) hoặc luật nơi cư trú (lex domicilii) của đương sự; đối với hành vi pháp lý gia đình áp dụng luật nơi thực hiện hành vi (lex loci actus).
5. Tiến trình điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trải qua những giai đoạn lịch sử nào?
Luận án khái quát qua 4 giai đoạn chính:
- Giai đoạn 1945–1954: Thời kỳ đầu lập quốc, ban hành Sắc lệnh 53-SL năm 1945 và thực hiện chính sách bảo hộ tài sản, tính mạng cho kiều dân nước ngoài theo Tuyên bố của Chính phủ ngày 01/01/1946.
- Giai đoạn 1954–1975: Điều chỉnh quan hệ gia đình chủ yếu với công dân các nước xã hội chủ nghĩa thông qua các văn bản dưới luật (như Điều lệ đăng ký hộ tịch 1961).
- Giai đoạn 1975–1986: Ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp đầu tiên với các nước XHCN và phân loại diện đối tượng người nước ngoài trong xử lý hồ sơ hộ tịch.
- Giai đoạn 1986–2003: Thời kỳ đổi mới và hội nhập, ban hành các văn bản luật có hiệu lực pháp lý cao (Luật Hôn nhân và gia đình 1986, 2000; BLDS 1995; Nghị định 68/2002/NĐ-CP) và mở rộng điều ước quốc tế song phương, đa phương.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hồng Bắc là công trình khoa học chuyên khảo nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Tác giả đã làm sáng tỏ khung lý luận về yếu tố nước ngoài, các hệ thuộc xung đột pháp luật và nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế, đồng thời phân tích sâu sắc các quy định thực định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cùng các Hiệp định tương trợ tư pháp. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và tổ chức thực hiện có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật tư pháp quốc tế và hoạt động áp dụng pháp luật tại Việt Nam.