Chương 1 NHUNG VẤN DE LÍ LUẬN VỀ PHAP LUẬT DIEU CHINH QUAN HE GIA ĐÌNH 0ú YEU Tố NƯỚC NGOAI O VIET NAM 1. KHAI NIEM PHAP LUAT DIEU CHINH QUAN HE GIA DINH CO YEU TO NUGC NGOAI - 1. Khái niệm "Gia đình có yếu tố nước ngoài" Gia đình là hiện tượng xã hội, phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Đây cũng là vấn đề luôn được các nhà triết học, xã hội học, sử học, luật học nghiên cứu.
Hôn nhân là cơ sở của gia đình còn gia đình là tế bào ˆ của xã hội mà trong đó có sự kết hợp chặt chẽ, hài hoà lợi ích của mỗi công dân, nhà nước và xã hội.Ănghen đã chứng minh một cách khoa học rằng, cùng với hôn nhân, gia đình là một phạm trù phát triển theo lịch sử, giữa chế độ kinh tế - xã hội và tổ chức gia đình có mối liên quan trực tiếp và chặt chẽ. Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, chế độ tu hữu và của nhà nước”, Anghen đã nhấn mạnh chế độ gia đình trong xã hội phụ thuộc vào quan hệ sở hữu thống trị trong xã hội đó; quá trình chuyển từ hình thái gia đình này lên hình thái gia đình khác cao hơn suy cho cùng được quy định bởi những thay đổi trong điều kiện vật chất của đời sống xã hội. Bằng tác phẩm đó, Angghen đã làm thay đổi quan điểm trước đây về các hình thái gia đình trong lich sử.Angghen là người đầu tiên đã phân tích nguồn gốc gia đình từ giai đoạn thấp nhất của xã hội loài người, khi con người mới chỉ bắt đầu tách ra khỏi thiên nhiên, chưa sản xuất ra được một thứ sản phẩm nào mà chỉ hái lượm những thức ăn san có của thiên nhiên và vì thế chưa có sự phân công lao động trong xã hội. Trong thời kì này không có hôn nhân, không có gia đình; bộ lạc như là một đơn vị duy nhất không tách rời của xã hội nguyên thuỷ [70, tr.
Từ trạng thái nguyên thuỷ đó bước tiếp theo của lịch sử đã phát triển những hình thái gia đình đầu tiên, gia đình huyết tộc, gia đình punaluan, gia đình đối ngẫu. gia đình xã hội chủ nghĩa (XHCN). Nhu vậy, xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau. Gia đình là sản phẩm của xã hội đã phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội.
Các điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định là nhân tố quyết định tính chất và kết cấu của gia đình. Do vậy, gia đình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, là tế bào của xã hội. Gia đình XHCN là hình thái gia đình cao nhất trong lịch sử, khác hẳn về chất so với gia đình của các chế độ xã hội trước đây. Chế độ XHCN quyết định sự xuất hiện và phát triển của gia đình XHCN.
Quan hệ bình đẳng về mọi mặt giữa vợ và chồng trong gia đình xã hội chủ nghĩa phản ánh mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội XHCN. Khái niệm “gia đình” đã được đề cập trong các sách nghiên cứu và trong các văn bản pháp luật của Nhà nước ta. Theo Từ điển triết học thì “Gia đình là một hình thức có tính chất lịch sử của tổ chức đời sống chung của loài người, giữa nam giới và nữ giới. Theo xã hội học thi “Gia đình được quan niệm là một nhóm xã hội, hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống”[41, tr.
Cách hiểu về gia đình của xã hội học đã mở rộng phạm vi chủ thể gia đình hơn quan niệm gia đình của triết học. Nếu gia đình theo cách nhìn nhận của triết học chỉ là quan hệ hôn nhân (tức giữa nam và nữ), thì theo cách nhìn nhận của xã hội học gia đình còn bao gồm cả quan hệ huyết thống (cha mẹ và con). Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì “Gia đình là tập hợp những người cùng chung sống, gắn bó sội nhau bằng quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, có quyên và nghĩa vụ tương ứng với nhau’[71, tr. Khái niệm gia đình lần đầu tiên được quy định tại khoản 10 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”.
Đây là khái niệm pháp lí đầy đủ nhất về gia đình, là sự tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, từ đó làm phát sinh nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và các quy tắc của đạo đức xã hội biểu hiện qua những phong tục tập quán, truyền thống đạo lí của gia đình. Bởi vậy, mỗi thành viên trong gia đình đều gắn bó, cố kết về quyển và bổn phận của mình với các thành viên khác, không thể tự mình thoát li khỏi môi trường gia đình, thoát li khỏi xã hội.Mác đã từng nói, sống trong xã hội con người không thể tách mình ra khỏi xã hội; tự do của mỗi người không thể tách khỏi tự do của người khác. Hiện nay, do sự phát triển của các mối giao lưu dân sự quốc tế nên tập hợp những người tạo nên gia đình trong xã hội Việt Nam không chỉ bó hẹp giữa các thành viên có cùng quốc tịch và cùng cư trú trên lãnh thổ một nước mà còn được mở rộng giữa các thành viên có quốc tịch khác nhau và có thể các thành viên đó cư trú ở các nước khác nhau. Trong gia đình này có thể là vợ, chồng khác quốc tịch hoặc có thể là vợ, chồng, con (và các thành viên khác) khác quốc tịch.
Họ có thể là những người cùng quốc tịch nhưng cư trú ở các nước khác nhau. Quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng ở đây cũng có thể phát sinh từ sự kiện pháp lí xảy ra ở nước ngoài. Sự khác nhau về quốc tịch, nơi cư trú giữa các thành viên trong gia đình hoặc căn cứ pháp lí làm nảy sinh quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng đó đã làm cho gia đình loại này khác với gia đình truyền thống trong xã hội Việt Nam - đó là gia đình có yếu tố nước ngoài. Trên cơ sở khái niệm pháp lí về gia đình, có thể hiểu: Gia đình có yếu tố nước ngoài là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng có yếu tố nước ngoài, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lí giữa họ với nhau theo quy định của pháp luật.
Gia đình có yếu tố nước ngoài cũng được hình thành trên cơ sở hôn nhân (sự kiện kết hôn giữa hai người khác quốc tịch) hoặc nuôi dưỡng (người nhận nuôi và con nuôi khác quốc tịch). Do có các sự kiện trên nên trong gia đình này các thành viên có các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản nhất định đối với nhau, cùng quan tâm giúp đỡ nhau về vật chất và tinh thần. Trong gia đình có yếu tố nước ngoài, những yếu tố tình cảm, huyết thống, sự nuôi dưỡng đan xen lẫn nhau trong mức độ truyền thống gia đình khác nhau và tạo nên mối liên hệ chặt chẽ khác nhau giữa các thành viên. Nhu cầu giữa các thành viên trong gia đình là được yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng, được bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cũng rất khác nhau, đôi khi tuỳ thuộc vào ý thức pháp luật của mỗi thành viên gia đình đó.
Hôn nhân là cơ sở của gia đình. Theo Điều 7 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì “Gia đình là tếbào của xã hội. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”. Vậy, gia đình có yếu tố nước ngoài có phải là tế bào của xã hội Việt Nam? Trong mỗi chế độ xã hội, gia đình có yếu tố nước ngoài đều thực hiện những chức năng cơ bản của gia đình và một trong các chức năng là tái sản xuất ra con người, là quá trình tiếp tục nòi giống.
Đó là quá trình cần. thiết của cuộc sống trong một xã hội nhất định. Quá trình này được thể hiện ở , chỗ “Hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những con người khác, sinh con, nảy nở. Đó là quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái - đó là gia dinh”[70, tr.
Nếu không có sản xuất và tái san xuất ra con người thì xã hội không thể phát triển được, thậm chí không thể tồn tại được. Như vậy, gia đình có yếu tố nước ngoài là một trong những thể chế cơ bản của xã hội. Nó ra đời, tồn tại và phát triển trước hết là nhờ Nhà nước thừa nhận đồng thời định ra những biện pháp, những nguyên tắc nhằm én định quan hệ xã hội này. Khoản 1 Điều 100 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã thể hiện quan điểm đó: “Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài.
Như vậy, cũng như gia đình khác, gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam được coi là tế bào của xã hội Việt Nam. Khái niệm "quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài” Theo lí luận chung về nhà nước và pháp luật thì nhu cầu sinh tồn va phát triển đã buộc con người phải liên kết với nhau thành những cộng đồng, giữa các thành viên của cộng đồng luôn nảy sinh những sự liên hệ về vật chất, về tinh thần và những mối liên hệ này luôn có giới hạn nên người ta gọi là những “quan hệ”. Những quan hệ xuất hiện trong quá trình hoạt động xã hội của con người, nghĩa là chúng xuất hiện trong quá trình sản xuất và phân phối của cải vật chất, trong 10 việc thoả mãn các nhu cầu văn hóa, tinh thần cũng như trong việc bảo vệ lợi ích của xã hội thì được gọi là “quan hệ xã hội”. Sự hình thành và phát triển của các quan hệ xã hội diễn ra dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau song quyết định nhất vẫn là do điều kiện sản xuất và sinh hoạt vật chất.
Quan hệ xã hội tồn tại khách quan không lệ thuộc vào ý chí của con người. Tính khách quan của chúng thể hiện ở chỗ, con người sống trong xã hội không thể tự đặt mình ngoài những mối liên hệ xã hội đang tồn tại.