Chương I: Tổng quan về Hop đồng thông minh (Smart Contracts) Chương này trình bày tổng quan về nguồn gốc, khái niệm, đặc trưng, cơ chế hoạt động và ứng dụng của HĐTM. Ngoài ra, những đặc điểm quan trọng của công nghệ Blockchain cũng được chỉ rõ nhằm làm nổi bật bản chất của HĐTM ứng dung công nghệ Blockchain. Chương II: Thực tiễn ứng dụng và pháp luật điều chỉnh Hợp đồng thông minh ở một số quốc gia trên thé giới Trình bày về việc HĐTM đang được các doanh nghiệp và chính phủ các nước ứng dụng một cách thiết thực và đa dạng. Đồng thời phân tích các quy định pháp luật hiện hành của các quốc gia điều chỉnh HĐTM.
Cuối cùng là tổng kết một số kinh nghiệm, thành tựu của các nước. Chương III: Thực tiễn ứng dụng và pháp luật điều chỉnh Hợp đồng thông minh ở Việt Nam Trình bày về một số lĩnh vực ứng dụng HĐTM ở Việt Nam và phân tích những quy định hiện hành có khả năng điều chỉnh HĐTM. Chỉ ra một số vướng mắc pháp lý của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay khi ứng dụng HĐTM. Chương IV: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về Hợp đồng thông minh tại Việt Nam Chứng minh sự cần thiết phải có khung pháp lý dành cho HDTM tại Việt Nam; đề xuất giải pháp hoàn thiện.
9 PHAN NOI DUNG CHUONG I: TONG QUAN VE HOP DONG THONG MINH (SMART CONTRACTS) 1. Nền tang công nghệ dang sau Hợp đồng thông minh — Blockchain 1. Khai niệm Blockchain Công nghệ Blockchain xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2008, trong một bai luận với tựa đề “Bitcoin: A peer-to-peer Electronic Cash System” của tac giả với bút danh là Satoshi Nakamoto. Bài viết đã đưa ra kiến thức tông quan về sự hình thành chuỗi Bitcoin và khối các giao dịch kết nối trong chuỗi dù không trực tiếp sử dụng thuật ngữ “Blockchain” khi đề cập đến phương thức này.
Đến năm 2009, Bitcoin chính thức vượt ra khỏi khuôn khổ một ý tưởng sáng tạo trên văn bản học thuật khi Satoshi Nakamoto sáng tao ra mạng lưới Bitcoin cùng Blockchain đầu tiên”'. Trong năm năm sau khi tạo ra Bitcoin, lịch sử của Blockchain gan nhu đồng nghĩa với lịch sử của Bitcoin””. Năm 2015, Blockchain Ethereum ra đời, cho phép các ứng dung phi tập trung và HDTM hoạt động trên Blockchain. Sự kiện này đã nâng tầm công nghệ Blockchain lên và được gọi là Blockchain 2.
Vậy với một lịch sử hình thành và phat triển nhanh chóng như trên, thuật ngữ “Blockchain” hiện nay đang được định nghĩa theo những cách tiếp cận như thế nào? Theo định nghĩa được OECD” đưa ra thì Blockchain là một sô cái chung của các giao dịch giữa các bên trong mạng, không được kiểm soát bởi một cơ quan trung ương duy nhất. Có thể nghĩ về một số cái giống như một cuốn số ghi chép: Nó ghi lại và lưu trữ tất cả các giao dịch giữa những người dùng theo thứ tự thời gian. Thay vì một cơ quan kiểm soát sô cái này (như ngân hàng), một ban sao giống hệt của số cái được giữ bởi tat cả người dùng trên mạng, được gọi là các nút (nodes).** EU có cách tiếp cận khá giống với quan điểm trên của OECD khi đưa ra trong tài liệu được Ủy ban đặc biệt của Nghị viện châu Âu về các tội phạm tài chính, trồn thuế và tránh thuế soạn thảo năm 2018. Theo đó Blockchain là một loại hoặc tập hợp con cu thể của cái gọi la công nghệ số cái phân tan (DLT).” DLT là cách ghi và chia sẻ dữ liệu trên nhiều kho dit *!Mark Gates, Bản chất của Blockchain, Bitcoin, tiền điện tử, hop dong thông minh và tương lai của tiễn tệ, NXB.
Lao Động, tr74 + WTO, “Can Blockchain revolutionize international trade”?, tr4, https://www.org/english/res_e/booksp_e/blockchainrev18_e.pdf ® Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế ** OECD, Blockchain Primer, tr4, https://www.org/finance/OECD-Blockchain-Primer. Van De Looverbosch, “Crypto-effecten: tussen droom en daad”, TRV-RPS 2018, 193 10 liệu (còn được gọi là số cái), mỗi tệp có cùng một bản ghi dữ liệu và được duy trì và kiểm soát chung bởi một mang máy chủ phân tán, được gọi là các nút. Blockchain là một khái niệm hết sức phức tạp được tiếp cận và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Mặc dù bắt đầu xuất hiện từ năm 2008 nhưng phải đến 10 năm sau những tổ chức lớn trên thế giới như OECD đến Liên minh Châu Âu mới đưa ra được một khái niệm chính thức về blockchain.
Thậm chí vào năm 2018 ngay cả khi được công nhận và định nghĩa rõ ràng thì Blockchain vẫn là một trong số những chủ đề được tranh luận nhiều nhất tại Diễn đàn kinh tế thế giới Davos (Thuy Sỹ). Điều đó cho thấy tác động sâu rộng đến nền kinh tế thế giới cũng như mức độ phức tạp của khái niệm Blockchain. Mặc dù với cách cách tiếp cận khác nhau nhưng theo nhóm nghiên cứu, về cơ bản, Blockchain có thé hiểu là: “M6t cách thức lưu trữ dit liệu dưới dang phán tan liên kế! tạo thành chuối và mạng lưới và được duy tri sự kiểm soát trên một mạng phán tan.” Day là khái niệm mà nhóm nghiên cứu rút ra sau khi tham khảo những cách tiếp cận khác nhau về định nghĩa Blockchain và nhóm nghiên cứu cho là thé hiện được tập trung nhất nội dung cơ bản về Blockchain. Đặc điểm Blockchain 1.
Hệ thong dit liệu phan tan Đối với số cái truyền thống hay còn gọi là mô hình số cái tập trung (centralized ledger), mọi thông tin giao dịch sẽ được ghi lại và lưu trữ trong một cơ sở đữ liệu nhất định do một bên thứ ba độc lập nắm giữ và quản lý. Thông thường, những dữ liệu này sẽ được lưu tại một máy chủ trong một mạng lưới tập trung (centralized network) và những máy còn lại trong mạng đều phải phụ thuộc vào máy chủ.” Tuy nhiên rủi ro lớn nhất đặt ra trong trường hợp này đó là một khi máy chủ bị tan công bởi một cuộc tấn công mạng, toàn bộ dữ liệu có thé sẽ bị phá hủy và những máy phụ thuộc theo đó cũng sẽ bị ảnh hưởng. Dé giải quyết van đề trên, Blockchain ra đời thé hiện được sự ưu việt với cơ chế hoạt động hoàn toàn ngược lại. Các máy tính tham gia mạng Blockchain này hoạt động dưới mô hình mạng ngang hàng (Peer-to-peer) hay còn gọi là mô hình mạng phân tán (distributed network) với chức năng và quyền hạn của mỗi máy là bình đăng.” Như vậy sẽ không có sự xuất hiện của bên thứ ba với tư cách máy chủ mà lúc này chiếc số cái sẽ được phân tán, chia sẻ cho mọi máy tinh trong mạng lưới.
Mỗi °° World Bank Group (H. GRADSTEIN), Distributed Ledger Technology (DLT) and blockchain, 2017, FinTech note, no. org/curated/en/177911513714062215/pdf/122140-WP-PUBLIC- Distributed-Ledger-T echnology-and-Blockchain-Fintech-Notes.pdf, ” Hình 1 ”® Hình 2 11 người sé cùng kiểm soát va quan ly dong dữ liệu. Việc loại bỏ don vi trung gian, có thé là ngân hàng, công ty thẻ tín dụng hay nhà cung cấp dịch vụ thanh toán, sẽ đảm bảo an toàn và độ tin cậy cho giao dịch.
Ưu điểm này trở thành “chiếc phao cứu sinh” cho những người đang mất niềm tin vào chính phủ, nhà cầm quyền nơi họ đang sinh sống, các doanh nghiệp, công ty trung gian và các tổ chức thứ ba khác. Hay ví dụ như việc công chứng, chứng thực. Blockchain chứa lượng thông tin lớn được kiểm duyệt, cho phép người dùng truy cập bat cứ lúc nào dé kiểm chứng, xác thực, giúp loại bỏ khoản chi phí không đáng có và tiết kiệm thời gian xác minh giao dịch khi cần thiết. Khi một thông tin giao dich muốn được lưu trữ, thay đổi trong mạng này, nó cần trải qua sự xác minh và đồng thuận của đa số những người tham gia.
Đây chính là cơ chế dong thudn phi tập trung (decentralized consensus). Với co chế đồng thuận nay, bat kỳ thành viên nào cũng có thể tiếp cận thông tin dễ dàng. Khi một máy hỏng hoặc mất mát dữ liệu thì những máy còn lại vẫn có một bản sao riêng. Hơn nữa, nhờ có số cái phân tán, mọi thông tin trong hệ thống Blockchain là hoàn toàn minh bạch và không thể bị phá vỡ.
Người dùng đều nắm được thông tin dé dang bang cách truy cập vào số cái, nơi giao dich được thông báo toàn bộ tới các máy chủ trong mạng lưới và rất khó thay đổi. Việc gian lận là bất khả thi trong trường hợp này. Tuy nhiên, minh bạch và bất biến đồng nghĩa với việc thông tin cá nhân và các hợp đồng được ký kết trên hệ thống sẽ được công khai (bao gồm các thông tin trong hợp đồng và bí mật kinh doanh). Người dùng lo sợ bị lộ thông tin cá nhân, gây bat lợi cho ban thân.
Đồng thời đây cũng là khuyết điểm cản trở những ông lớn trong ngành thời trang, 4m thuc,. tham gia vào công nghệ Blockchain, vì bị tiết lộ bí mật kinh doanh sẽ dé dàng đi đến phá sản. Cấu trúc của một khối (block) trong chuỗi (chain) Sau khi các thông tin của một giao dịch được cho là hợp lệ, chúng sẽ được mã hóa và lưu vào trong một khối (block). Cau trúc của khối này bao gồm”: () Mã băm (Hash): hiểu một cách đơn giản, mã băm sẽ giống như một mã số định danh cho từng khối và sẽ không thé trùng lặp; (ii) Dữ liệu giao dich (Data): là các thông tin liên quan đến các giao dich mà các bên thực hiện; (iii) Dau thời gian (Timestamp): thời gian khối dit liệu được tao ra; (iv) Mã băm của khối trước đó (Previous Block Hash).*” ®OECD, Blockchain Primer, the Secretary-General of the OECD 2018, www.org/finance/blockchain *° Hình 3 12 Khối đầu tiên trong chuỗi (chain) được gọi là Genesis Block (Khối nguyên thủy).
Những khối sau sẽ liên kết với khối trước băng mã băm của khối trước và mã mới của riêng mình. Nếu một khối trong chuỗi liên kết này bị can thiệp sửa đổi thì mã băm của nó cũng sẽ thay đổi theo. Tuy nhiên, khối liền sau nó vẫn giữ mã băm cũ của khối bị sửa đổi, như vậy chúng không còn tương thích nhau dé duy trì chuỗi liên kết. Lúc này dé sự thay đôi của mình được coi là hợp lệ, những kẻ hacker phải mã hóa lại toàn bộ những khối theo sau đó cho đến tận khối cuối cùng trong chuỗi, hơn thế nữa mỗi sự thay đổi lại cần được sự xác minh và đồng ý của đa số người tham gia.
Với cấu trúc này, Blockchain giúp chống lại sự thay đôi của dữ liệu”. Một số thuật toán pho biến trong Blockchain Proof of Work (PoW): Bằng chứng công việc Thuật toán này đòi hỏi người tham gia mạng lưới phải thực hiện công việc tính toán, giải mã để mã hóa những thông tin giao dịch vào chuỗi một cách hợp lệ. Công việc tính toán này sẽ trở nên phức tạp hơn khi lượng đữ liệu đầu vào cần mã hóa ngày càng tăng.