ĐẶT VẤN ĐỀ SVTH: Nguyễn Thị Lành Trang 1 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Dương Nhật Linh TS. Nguyễn Tấn Phát Theo danh sách công bố của Tổ chức Y tế Thế giới (2018), có 12 loài vi khuẩn và các họ vi khuẩn kháng thuốc gây ra mối đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe con người. Trong đó, Staphylococcus aureus - tụ cầu vàng, được xếp vào nhóm vi khuẩn kháng thuốc ở mức độ ưu tiên cao (WHO, 2018).
Vi khuẩn này thường gây ra các bệnh nhiễm trùng trên da như loét, mụn mủ hoặc nhọt. Nhiễm trùng có thể đi vào nơi phẫu thuật, trong máu hoặc gây ra viêm phổi,… Các bệnh nhiễm trùng hầu hết do S.aureus kháng methicillin (MRSA) gây ra. MRSA là một nguyên nhân chính gây nhiễm trùng da và mô mềm trong bệnh viện cũng như nhiễm trùng cộng đồng ở những người khỏe mạnh khác. MRSA đang là tác nhân đa kháng thuốc, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người trên toàn thế giới (WHO, 2018).
Hợp chất sinh học là các chất chuyển hóa thứ cấp từ vi khuẩn hoặc thực vật, có những hoạt tính kháng khuẩn, kháng ung thư, kháng virus, hoạt tính dược lý (Kalia và cs. Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về hợp chất có hoạt tính sinh học ngày càng được chú trọng, bởi lợi ích của nó đối với sức khỏe con người. Phần lớn các hợp chất này được tổng hợp bởi vi khuẩn nội sinh giúp thực vật có khả năng kháng lại các tác nhân gây bệnh, được sử dụng trong các ngành dược phẩm như thuốc kháng sinh, kháng ung thư, kháng virus, chống đái tháo đường và các hợp chất hoạt tính sinh học khác (Guo và cs. Một số ví dụ điển hình bao gồm thuốc kháng sinh mới Ecomycin được tạo ra từ vi khuẩn nội sinh Pseudomonas viridiflava và Pseudomycin từ vi khuẩn Pseudomonas syringae (Christina và cs.
Năm 2013, Sunkar và cộng sự đã phân lập và xác định được vi khuẩn nội sinh Brasica oleracea có khả năng sinh các enzyme amylase, protease, cellulase có tiềm năng trong sản xuất enzyme với quy mô lớn. Bacillus là một trong những đối tượng nghiên cứu rất rộng rãi vì chúng sinh ra các hợp chất thứ cấp có khả năng kháng khuẩn và kháng nấm mạnh. Công trình nghiên cứu của Jeyanthi và cộng sự (2016) đã tiến hành tinh sạch, đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của hợp chất có hoạt tính sinh học kháng MRSA được phân lập từ Bacillus amyloliquefaciens. Năm 2017, Chauha và cộng sự thực hiện nghiên cứu chất kháng SVTH: Nguyễn Thị Lành Trang 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.
Dương Nhật Linh TS. Nguyễn Tấn Phát khuẩn mới từ chủng Bacillus được phân lập từ đất có khả năng kháng lại một số vi khuẩn gây bệnh kháng thuốc như S. aureus kháng methicillin và vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm Listeria monocytogenes. Từ một số công trình nghiên cứu trên cho thấy chủng Bacillus có tiềm năng sản xuất các hợp chất có hoạt tính sinh học rất cao.
Các hợp chất này có nhiều các cấu trúc hóa học đặc biệt phức tạp, với hàng loạt các nhóm chức năng đặc trưng, đa dạng hơn so với nhóm kháng sinh và chất chuyển hóa thứ cấp từ vi sinh vật khác (Shukla, 2015). Ở Việt Nam, còn ít các công trình nghiên cứu về hoạt tính kháng vi khuẩn kháng thuốc từ vi sinh vật nội sinh. Thừa kế từ công trình nghiên cứu trước, chủng vi khuẩn Bacillus sp. RD26 được phân lập từ cây Diệp Hạ Châu Đắng (Phyllanthus amarus schum.
Et thonn) có khả năng kháng MRSA. Chính vì vậy, chúng tôi tiếp tục thực hiện đề tài với nội dung như sau: “Phân lập và tinh chế các hợp chất có hoạt tính sinh học từ cao chiết chủng Bacillus sp. RD26 nội sinh có khả năng kháng Staphylococcus aureus ATCC 43300 (MRSA).” Mục tiêu: Phân lập và tinh chế các hợp chất có hoạt tính sinh học từ cao chiết chủng Bacillus sp. RD26 nội sinh có khả năng kháng Staphylococcus aureus ATCC 43300 (MRSA).
Nội dung: − Khảo sát khả năng kháng MRSA từ dịch ngoại bào hay nội bào. − Chiết các hợp chất từ vi khuẩn Bacillus sp. RD26 với các dung môi: n- hexane, chloroform, dichloromethane, ethyl axetate, methanol và nước. − Khảo sát hoạt tính kháng MRSA của cao chiết chủng Bacillus sp.
RD26 thu được bằng phương pháp khuếch tán đĩa Kirby – Bauer. − Xác định nồng độ ức chế tối thiểu của cao chiết chủng Bacillus sp. RD26 kháng MRSA bằng phương pháp pha loãng. − Khảo sát các phân đoạn cắn bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng (TLC).
SVTH: Nguyễn Thị Lành Trang 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Dương Nhật Linh TS. Nguyễn Tấn Phát − Thu nhận phân đoạn chứa các chất có hoạt tính kháng MRSA bằng phương pháp sắc ký cột. − Tinh sạch và xác định cấu trúc hợp chất có hoạt tính sinh học có khả năng kháng MRSA.
SVTH: Nguyễn Thị Lành Trang 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Dương Nhật Linh TS. Nguyễn Tấn Phát PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU SVTH: Nguyễn Thị Lành Trang 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Dương Nhật Linh TS.
Nguyễn Tấn Phát 2. TỔNG QUAN VỀ VI KHUẨN STAPHYLOCOCCUS AUREUS KHÁNG METHICILLIN S.aureus đề kháng với penicillin được phát hiện lần đầu tiên vào đầu thập niên 1940, chỉ một thời gian ngắn sau penicillin được đưa vào sử dụng. Nhưng trong nhiều năm sau đó thì những dòng vi khuẩn kháng penicillin này vẫn còn nhạy với các penicillin bền vững với penicillinase (oxacillin, methicillin, nafcillin), còn gọi là penicillin M. Đến giữa thập niên 1960, bắt đầu xuất hiện những dòng vi khuẩn S.aureus kháng penicillin M, được gọi là “methicillin resistant S.aureus đề kháng với penicillin thông qua cơ chế β-lactamase và hiện nay đã có một tỷ lệ rất cao S.aureus kháng với penicillin bằng cách tiết enzyme β-lactam; MRSA đề kháng penicillin M chủ yếu qua trung gian gen mecA mã hóa cho protein 2A gắn penicillin (PBP 2A hoặc PBP 2’).
Khi được tạo ra, PBP 2A nằm ở vách tế bào vi khuẩn và có ái lực thấp với kháng sinh β-lactam, nhờ vậy mà làm cho vi khuẩn kháng được không chỉ penicillin M mà còn với tất cả các kháng sinh β-lactam ( Phạm Hùng Vân, 2013). MRSA được viết tắt với tên gọi Methicillin resistant S. Kể từ những năm 1960, MRSA trở nên phổ biến trên toàn cầu và là nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm khuẩn ở bệnh viện và cộng đồng. Các chủng MRSA mang gen mã hóa protein làm cho vi khuẩn kháng với hầu hết các kháng sinh nhóm beta -lactam (như methicillin) ( Lee và cs.
Phân loại khoa học Giới: Eubacteria Ngành: Eubacteria Lớp : Bacilli Bộ : Bacillales SVTH: Nguyễn Thị Lành Trang 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Dương Nhật Linh TS. Nguyễn Tấn Phát Họ: Staphylococcaceae Chi: Staphylococcus Loài: Staphylococcus aureus S. aureus là một trong những mầm bệnh phổ biến nhất trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe và trong cộng đồng, và có thể gây nhiễm trùng xâm lấn, nhiễm trùng huyết và tử vong, trong khi S.
aureus kháng methicillin (MRSA) cấu thành một mối quan tâm nghiêm trọng về sức khỏe cộng đồng do khả năng xâm chiếm và lây nhiễm cho người và động vật (Kourtis và cs. MRSA được phân lập tại Châu Âu đầu tiên vào năm 1960, phát tán nhanh ở Mỹ và trở thành dịch ở nhiều bệnh viện tại Mỹ ở thập niên 1980 (tỷ lệ nhiễm MRSA 10 - 40%). Các bệnh nhiễm trùng hầu hết do S. aureus kháng methicillin (MRSA) gây ra: Đông Nam Á hơn 25%, Đông Địa Trung Hải hơn 50%, Châu Âu 60%, Châu Phi 80%, Tây Thái Bình Dương 80%, Châu Mỹ 90% (WHO,2018).
MRSA là nguyên nhân chính gây nhiễm trùng da và mô mềm trong bệnh viện cộng đồng ở những người khỏe mạnh khác. Tần suất tử vong hàng năm từ MRSA đang gia tăng nhanh chóng và vượt qua những người gây ra bởi virus suy giảm miễn dịch ở người / hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (HIV / AIDS) (Bancroft và cs., 2007), từ năm 1999 đến 2005, số ca nhập viện liên quan đến nhiễm trùng MRSA tăng 119%, hay 14% mỗi năm (Klein và cs.650 trường hợp nhiễm dòng máu và 500 trường hợp tử vong hàng năm ở Úc (Turnidge và cs.000 người chết mỗi năm tại Hoa Kỳ (Dantes và cs., 2011) và một chi phí vượt quá hàng năm cho hệ thống chăm sóc sức khỏe của châu Âu là 380 triệu euro (Köck và cs. Đứng trước tình hình S. aureus kháng với penicillin do gần 100% có khả năng tiết được enzyme penicillinase phá huỷ được penicillin, các nhà lâm sàng phải chỉ định penicillin M để điều trị các nhiễm khuẩn do S.
Tuy nhiên hiện nay các bác sĩ điều trị phải đối phó với thách thức là tác nhân S. aureus kháng được penicillin M (MRSA) với tỷ lệ ngày càng gia tăng. Tại Việt Nam, một nghiên cứu đa trung tâm thực hiện năm 2005 trên 235 chủng S. aureus phân lập được từ các trường hợp lâm sàng SVTH: Nguyễn Thị Lành Trang 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.
Dương Nhật Linh TS. Nguyễn Tấn Phát nhiễm khuẩn do S. aureus cho thấy tỷ lệ MRSA là 47%. Tổng kết tại Bệnh Viện Chợ Rẫy và Bạch mai cũng cho thấy tỷ lệ MRSA là 57% và 43%.
Tổng kết của GARP:VN cho thấy tỷ lệ MRSA ghi nhận từ 15 bệnh viện tại VN vào năm 2008 là từ 30% đến 64%. Bệnh viện Thống Nhất TP. HCM từ năm 2005 đến 2007 đã ghi nhận có đến 79% S. aureus phân lập từ nhiễm khuẩn đường tiết niệu kháng methicillin.
Chỉ định kháng sinh dành cho MRSA là vancomycin, tuy nhiên hiện nay chỉ định này đang phải đối diện với một thách thức mới, không phải là do xuất hiện đề kháng vancomycin mà là do MIC của vancomycin đối với S. aureus bị tăng vượt quá 1.5 μg/mL gây thất bại điều trị vancomycin trên lâm sàng. Thách thức này hiện nay đã được ghi nhận tại bệnh viện Bạch Mai và bệnh viện Chợ Rẫy với ghi nhận 46% các chủng MRSA là có MIC của vancomycin ≥2 μg/mL và 93% có MIC ≥1. Một nghiên cứu tương đối rộng ở 3 tỉnh ( Đà Nẵng, Cần Thơ và Tp.
Hồ Chí Minh) của Phạm Hồng Vân và Phạm Thái Bình cho thấy MRSA kháng lại hầu hết các loại kháng sinh thông dụng, kể cả kháng sinh thế hệ mới (gentamycin: 42%, erythromycin: 63%, azithromycin: 68%, ciprofloxacin: 39%, cefuroxime: 38%, amoxillin - acid clavuanic: 30%, chloramphenicol: 38%, methicillin: 47%). Tuy chỉ có hai loại kháng sinh là vancomycin và linezolid chưa thấy đề kháng ( Cao Thị Thu Quế, 2015). VI KHUẨN NỘI SINH BACILLUS SP. Phân loại Theo khóa phân loại của Bergey, Bacillus được phân loại như sau: Giới: Bacteria Ngành: Firmicutes Lớp: Bacilli Bộ: Bacillales Họ: Bacillaceae Chi: Bacillus SVTH: Nguyễn Thị Lành Trang 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.
Dương Nhật Linh TS. Nguyễn Tấn Phát 2.