Luận án nghiên cứu nồng độ vitamin d và il 17 huyết thanh ở bệnh nhân trứng cá thông thường trước và sau điều trị bằng isotretinoin kết hợp vitamin d

Nghiên cứu nồng độ vitamin D và IL-17 huyết thanh ở bệnh nhân trứng cá thông thường trước và sau điều trị bằng isotretinoin kết hợp vitamin D.

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sang

Chuyên ngành

Nội Khoa/Da Liễu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Y Học

2023

177
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Tổng quan về bệnh TCTT

2.2. Cơ chế bệnh sinh của bệnh TCTT

2.2.1. Sừng hóa nang lông

2.2.2. Tăng tiết bã nhờn

2.2.3. Viêm

2.2.4. C. acnes

2.3. Đặc điểm lâm sàng của bệnh TCTT

2.4. Phân loại thể lâm sàng và mức độ nặng của bệnh trứng cá thông thường

2.5. Các yếu tố liên quan đến bệnh trứng cá thông thường

2.6. Điều trị bệnh TCTT

2.7. Giới thiệu về IL-17, vitamin D và vai trò của chúng trong bệnh TCTT

2.7.1. Giới thiệu về IL-17 và vai trò của IL-17 trong bệnh TCTT

2.7.2. Giới thiệu về vitamin D và vai trò của vitamin D trong bệnh TCTT

2.7.3. Vai trò điều trị của Isotretinoin và vitamin D trong bệnh TCTT

2.7.3.1. Vai trò điều trị của Isotretinoin
2.7.3.2. Vai trò điều trị của Vitamin D

2.7.4. Các nghiên cứu về Isotretinoin và vitamin D trong bệnh TCTT

2.7.4.1. Nghiên cứu về Isotretinoin
2.7.4.2. Nghiên cứu về vitamin D

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.2. Đối tượng nghiên cứu

3.3. Vật liệu nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Thiết kế nghiên cứu

3.4.2. Các bước tiến hành nghiên cứu

3.4.3. Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu

3.4.4. Các chỉ số nghiên cứu

3.4.5. Phương pháp đánh giá kết quả điều trị

3.4.6. Xử lý và phân tích số liệu

3.5. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.6. Đạo đức trong nghiên cứu

3.7. Hạn chế của đề tài

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng bệnh trứng cá thông thường (TCTT)

4.1.1. Một số yếu tố liên quan của bệnh TCTT

4.1.2. Đặc điểm lâm sàng của bệnh TCTT

4.1.3. Các yếu tố liên quan đến mức độ bệnh TCTT

4.2. Nồng độ vitamin D và IL-17 huyết thanh của bệnh nhân TCTT mức độ trung bình và nặng trước và sau điều trị bằng isotretinoin kết hợp vitamin D

4.2.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

4.2.2. Nồng độ vit D và IL-17 huyết thanh bệnh nhân TCTT mức độ trung bình và nặng trước điều trị so với người khoẻ mạnh và mối liên quan với lâm sàng

4.2.3. Kết quả định lượng nồng độ vit D và IL-17 huyết thanh bệnh nhân TCTT mức độ trung bình và nặng sau điều trị

4.3. Hiệu quả điều trị TCTT mức độ trung bình và nặng bằng Isotretinoin và Vitamin D đường uống

4.3.1. Đặc điểm đối tượng của nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng

4.3.2. Kết quả điều trị của nhóm nghiên cứu (Iso + VitD)

4.3.3. Kết quả điều trị của nhóm đối chứng (Iso đơn thuần)

4.3.4. So sánh kết quả điều trị của nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

A. DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

A.1. CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH

A.2. CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT

B. DANH MỤC CÁC BẢNG

C. DANH MỤC BIỂU ĐỒ

D. DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh trứng cá thông thường

Bệnh trứng cá thông thường (TCTT) là một trong những bệnh lý da liễu phổ biến nhất, ảnh hưởng đến khoảng 80% người trưởng thành. Bệnh thường khởi phát trong giai đoạn dậy thì và có thể kéo dài đến những năm 30 tuổi hoặc hơn. TCTT không chỉ gây ra những tổn thương về da mà còn ảnh hưởng đến tâm lý và giao tiếp xã hội của người bệnh. Nghiên cứu cho thấy có khoảng 30-50% thanh thiếu niên mắc bệnh có biểu hiện rối loạn tâm lý. Cơ chế bệnh sinh của TCTT bao gồm nhiều yếu tố, trong đó có sự tăng tiết bã nhờn, sừng hóa nang lông, viêm và sự hiện diện của vi khuẩn C. acnes. Đặc biệt, nồng độ vitamin DIL-17 huyết thanh được cho là có liên quan đến mức độ nặng của bệnh. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng C. acnes có thể kích thích biểu hiện của IL-17, và vitamin D có tác dụng ức chế sự sản sinh IL-17. Điều này mở ra hướng điều trị mới cho bệnh nhân TCTT thông qua việc bổ sung vitamin D.

II. Nồng độ vitamin D và IL 17 huyết thanh

Nghiên cứu về nồng độ vitamin DIL-17 huyết thanh ở bệnh nhân TCTT cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm bệnh nhân và nhóm người khỏe mạnh. Trước khi điều trị, nồng độ vitamin D ở bệnh nhân TCTT thường thấp hơn so với người khỏe mạnh, trong khi nồng độ IL-17 lại cao hơn. Sự gia tăng nồng độ IL-17 có thể liên quan đến tình trạng viêm trong bệnh TCTT. Sau khi điều trị bằng isotretinoin kết hợp với vitamin D, nồng độ vitamin D tăng lên và nồng độ IL-17 giảm xuống, cho thấy hiệu quả tích cực của phương pháp điều trị này. Điều này chứng tỏ rằng việc bổ sung vitamin D có thể giúp cải thiện tình trạng viêm và giảm mức độ nặng của bệnh TCTT.

III. Hiệu quả điều trị bằng isotretinoin và vitamin D

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc kết hợp isotretinoinvitamin D trong điều trị TCTT mang lại hiệu quả cao hơn so với điều trị bằng isotretinoin đơn thuần. Nhóm bệnh nhân được điều trị bằng phác đồ kết hợp cho thấy sự cải thiện rõ rệt về tình trạng da, giảm thiểu tổn thương và cải thiện tâm lý. Kết quả cho thấy rằng vitamin D không chỉ có tác dụng điều trị mà còn có thể hỗ trợ trong việc giảm tác dụng phụ của isotretinoin. Việc sử dụng vitamin D trong phác đồ điều trị có thể mở ra hướng đi mới trong việc điều trị bệnh TCTT, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

IV. Tác động của vitamin D và IL 17 trong điều trị

Nghiên cứu về tác động của vitamin DIL-17 cho thấy rằng vitamin D có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hệ miễn dịch và giảm viêm. IL-17 là một cytokine có liên quan đến quá trình viêm trong bệnh TCTT. Việc bổ sung vitamin D có thể làm giảm sự sản sinh IL-17, từ đó giảm thiểu tình trạng viêm và cải thiện triệu chứng của bệnh. Điều này cho thấy rằng việc điều chỉnh nồng độ vitamin D có thể là một chiến lược hiệu quả trong điều trị bệnh TCTT, đặc biệt là ở những bệnh nhân có nồng độ vitamin D thấp.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về bệnh TCTT Trứng cá thông thường là một bệnh lý của nang lông tuyến bã, do sự tăng bài tiết quá mức chất bã nhờn, đi kèm với tình trạng sừng hóa nang lông và sự viêm nhiễm ở nang lông tuyến bã. Có tới 80% người trưởng thành bị trứng cá. Trong đó có nhiều trường hợp cần điều trị, do diễn tiến bệnh quá lâu, do có nhiều biến chứng, hay có kèm theo các rối loạn khác [7].

Cơ chế bệnh sinh của bệnh TCTT Bệnh TCTT hình thành do sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó vai trò chính là tăng tiết chất bã, sừng hóa nang lông và tăng sinh vi khuẩn gây viêm.1 Sừng hóa nang lông Sừng hóa nang lông chính là nguồn gốc đưa đến tổn thương ban đầu của bệnh TCTT, đó là nhân trứng cá (comedone). Phần trên của nang lông có dạng hình phễu có hiện tượng tăng sinh và sự tăng kết dính của các tế bào sừng khiến cho lỗ chân lông bị tắc nghẽn [8]. Nút sừng nang lông gây tắc nghẽn này khiến cho chất sừng, chất bã, vi khuẩn bị ứ lại trong nang lông. Tất cả những chất trên kết thành khối, gây giãn nang lông và hình thành vi nhân mụn (microcomedones).

Nguyên nhân của hiện tượng tăng sinh tế bào sừng và tăng kết dính hiện nay vẫn còn không hiểu rõ. Có nhiều giả thuyết cho rằng nguyên nhân là do sự kích thích của androgen, giảm acid linoleic, tăng hoạt động của interleukin 1 alpha (IL-1α) [9]. Quá trình sừng hóa cổ nang lông tuyến bã chịu tác dụng của một số yếu tố: hormone androgen, tăng hoạt động Interleukin-1α (IL-1α) thiếu hụt acid linoleic, tăng acid béo tự do ở tuyến bã, vi khuẩn,. Tăng tiết bã nhờn Sự sản xuất quá mức chất nhờn từ tuyến bã cũng là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng bệnh TCTT.

Hormone androgen ảnh hưởng lên quá trình bài tiết chất bã nhờn. Vào giai đoạn sớm của tuổi dậy thì, có sự gia tăng androgen của thượng thận và androgen sinh dục. Sự gia tăng này đạt đến đỉnh điểm vào lứa tuổi 16 – 20. Sau đó, mức độ này duy trì và giảm dần vào lứa tuổi 40 đối với nữ và 50 đối với nam.

Ngoài ra, tốc độ bài tiết chất bã nhờn ở nam giới cao hơn đáng kể so với nữ giới [10]. Viêm Sẩn viêm, mụn mủ và nang cục là những đặc điểm lâm sàng điển hình của mụn viêm. Theo tác giả Layton và cộng sự, bệnh TCTT là bệnh lý viêm mạn tính [11]. Hiện tượng viêm xuất hiện cả ở giai đoạn sớm và muộn của trứng cá.

Nhiều bằng chứng cho thấy hiện tượng viêm xuất hiện từ rất sớm trong quá trình sinh bệnh TCTT, hiện tượng viêm có trước khi xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng. Loại đáp ứng viêm quyết định hình thái tổn thương viêm trên lâm sàng: đáp ứng viêm có nhiều bạch cầu đa nhân trung tính trên lâm sàng chủ yếu là mụn mủ; đáp ứng viêm có nhiều lympho bào, tế bào khổng lồ, trên lâm sàng chủ yếu là cục, nang. acnes và thành phần chất bã đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình viêm của bệnh TCTT và một số yếu tố gây ra tăng sinh sừng như androgens, các yếu tố tăng trưởng, IL-1 α, cũng có thể trực tiếp gây ra viêm. Viêm trong trứng cá có 3 giai đoạn.

Trong giai đoạn đầu, giai đoạn khởi tạo, các yếu tố gây viêm khác nhau được kích hoạt, viêm không đặc hiệu chiếm ưu thế. Trong giai đoạn thứ hai, viêm đặc hiệu chiếm ưu thế, dẫn đến sự phát triển của ổ viêm trên lâm sàng. Giai đoạn cuối được đặc trưng bằng sự phục hồi mô sau những tổn thương do viêm [12], [13]. acnes Có một số vi sinh tham gia vào sinh bệnh học của bệnh trứng cá như Pityrosporum ovale, Pityrosporum orbiculare, tụ cầu, C.

Trong số các vi sinh này, C. acnes được coi là vi khuẩn quan trọng nhất trong sinh bệnh học bệnh trứng cá. acnes là một loại vi khuẩn gram dương kỵ khí, phát triển tốt nhất trong điều kiện pH bằng 5 – 5,6; nhiệt độ 30 – 37o C. Trên những cơ địa tăng tiết bã nhờn, có dày sừng nang lông tuyến bã là điều kiện cho vi khuẩn kỵ khí phát triển.

acnes giữ vai trò chính trong sự phát sinh bệnh trứng cá [10]. Ở tuổi thanh thiếu niên mắc bệnh TCTT thì có sự gia tăng số lượng vi khuẩn này so với những người không bệnh. Tuy nhiên không có sự liên quan giữa số lượng vi khuẩn hiện diện tại nang lông so với mức độ nặng của bệnh [14]. Trong một nghiên cứu gần đây, người ta đã chứng minh rằng C.

acnes là một chất gây cảm ứng mạnh qua trung gian Th17, và Vitamin D ức chế sự biểu hiện của Th17 do C. acnes gây ra, và do đó có thể được coi là một công cụ hiệu quả trong điều trị bệnh TCTT [6]. Trong bệnh lý TCTT, các yếu tố trong 4 cơ chế bệnh sinh trên còn có những tương tác với nhau. Do đó, việc điều trị bệnh TCTT cần điều trị đa cơ chế.

Hiểu được cơ chế và liệu pháp điều trị đa cơ chế sẽ giúp kết quả điều trị tốt hơn. 1: Cơ chế sinh bệnh của TCTT 1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh TCTT Vị trí thường gặp nhất của bệnh TCTT là ở mặt, sau đó ít hơn là ở ngực, lưng, vai. Ở thân người, tổn thương dường như có khuynh hướng tập trung ở đường giữa.

Bệnh đặc trưng bởi sự đa dạng tổn thương. Mặc dù có thể 1 dạng tổn thương chiếm ưu thế, tuy nhiên nếu nhìn gần có thể phát hiện ra nhiều loại tổn thương khác nhau [3].  Những tổn thương bao gồm tổn thương viêm và tổn thương không viêm.  Tổn thương không viêm gồm nhân trứng cá đóng (mụn đầu trắng) và nhân trứng cá mở (mụn đầu đen).

 Nhân trứng cá mở: tổn thương phẳng hay hơi nhô cao trên mặt da, vùng trung tâm có chỗ hơi gồ cao có màu đen, kích thước tổn thương trung bình 1–2mm. 7  Nhân trứng cá đóng: sẩn nhỏ màu trắng ngà hoặc màu da, kích thước khoảng 1 mm, có thể nhận thấy rõ hơn khi căng bề mặt da và không thấy rõ chỗ đổ ra bề mặt da.  Tổn thương viêm gồm những tổn thương sẩn, mụn mủ, cục, nang, đường hầm.  Sẩn: nhô cao trên mặt da, màu đỏ hồng, đường kính thường 1–5 mm.

Sẩn có thể tiến triển dần và hình thành mụn mủ trên bề mặt.  Mụn mủ: thường là sự tiến triển từ các tổn thương sẩn, thường có kèm hồng ban. Mụn mủ màu trắng đục, kích thước <5 mm.  Cục: là tổn thương đặc, cứng, chắc, thường đau, kích thước thường >5mm.

Tổn thương có thể hóa mủ, mềm dần, tạo áp xe, dễ để lại sẹo xấu sau khi lành.  Nang: tổn thương bán đặc, kích thước thường > 2cm, giới hạn khá rõ và dính với bề mặt da.  Đường hầm: hình thành do nhiều nang tiến triển hòa lẫn vào nhau. Đây là dạng tổn thương nặng của bệnh TCTT.

- Sẹo mụn: Sẹo mụn được xem như biến chứng của bệnh TCTT. Các dạng sẹo mụn thường gặp là:  Thay đổi sắc tố sau viêm: tình trạng tăng hay giảm sắc tố hoặc hồng ban còn tồn tại sau khi lành sang thương. Hầu hết các thay đổi sắc tố này đều tự biến mất sau nhiều tháng.  Sẹo lõm: tổn thương teo lõm, nằm ở bên dưới mặt da.

Sẹo lõm là biến chứng đáng ngại của bệnh TCTT. Tổn thương gây ảnh hưởng nghiêm trọng về mặt thẩm mỹ và có tác động xấu lên tâm lý bệnh nhân. Tùy hình dạng đáy sẹo, sẹo lõm được phân thành sẹo lõm lòng thuyền, sẹo đáy vuông và sẹo đáy nhọn. Cách phân chia giúp phân định độ nông, sâu của tổn thương và giúp quyết định loại điều trị cần áp dụng [16].

8  Sẹo lồi: do sự đáp ứng tạo mô sợi quá mức trong quá trình lành tổn thương da, thường xảy ra trên một số cơ địa đặc biệt. Phân loại thể lâm sàng và mức độ nặng của bệnh trứng cá thông thường Có nhiều phương pháp khác nhau phân mức độ nặng và thể lâm sàng của trứng cá thông thường Những phương pháp phổ biến nhất hiện đang được sử dụng là:  Bệnh TCTT có thể được phân chia thành 4 thể lâm sàng tương ứng với loại tổn thương chiếm ưu thế [3] - Trứng cá nhân - Trứng cá sẩn mụn mủ - Trứng cá nốt nang - Trứng cá cụm Cách phân loại này có ưu điểm là đơn giản, dễ áp dụng trên lâm sàng và giúp định hướng điều trị.  Năm 1956, Pillsbury, Shelly và Kligman đã công bố hệ thống phân loại độ nặng bệnh TCTT sớm nhất được biết đến [17]. Trong đó, bệnh TCTT được chia thành 4 mức độ nặng dựa trên loại tổn thương, số lượng tổn thương ưu thế và vị trí tổn thương trên lâm sàng.

 Năm 1979, Cook, Centner và Michaels đã phân loại độ nặng của bệnh TCTT trên thang điểm 0-8 dựa trên các tiêu chuẩn dạng tổn thương của hình ảnh chụp bệnh nhân [18].  Năm 1984, Burke và Cunliffe đã trình bày kỹ thuật của Leeds [19]. Thang điểm từ 0 (không có bệnh) đến 10 (nặng nhất) đã được sử dụng để chấm điểm.  Năm 1997, Doshi, Zaheer và Stiller đề nghị một hệ thống phân loại bệnh TCTT cho toàn cầu (GAGS) [20].

Đây là một trong những hệ thống được sử dụng phổ biến nhất trong thực hành lâm sàng. Phương pháp đánh giá 9 dựa trên 6 khu vực (5 khu trên mặt, 1 ở phần trên của lưng/ngực). Mỗi khu vực này gắn với một thừa số nhân từ 1 đến 3 (1 điểm cho mũi, cằm; 2 điểm cho vùng trán, má trái, má phải; 3 điểm cho vùng ngực và lưng trên). Mức độ tổn thương mỗi vùng được phân theo thang điểm: 1 nếu nhiều hơn 1 nhân trứng cá, 2 nếu nhiều hơn 1 sẩn, 3 nếu nhiều hơn 1 mụn mủ, 4 nếu nhiều hơn 1 cục.

Nếu vùng nào không mắc bệnh trứng cá thì số điểm là 0. Số điểm mức độ nặng mỗi vùng sẽ được cho theo loại tổn thương có số điểm cao nhất. Điểm này sẽ được nhân với chỉ số điểm của từng vùng. Tổng điểm của cả 6 vùng sẽ cho ta điểm GAGS: - Nhẹ 1 ≤ GS ≤ 18; - Trung bình 19 ≤ GS ≤ 30; - Nặng 31 ≤ GS ≤ 38; - Rất nặng GS > 38.

Ưu điểm của thang điểm này là mức độ chính xác cao, tương đối đơn giản, dễ áp dụng, ít tốn thời gian và đánh giá được tổn thương ở cả vùng lưng và ngực [20]. Chính vì vậy, chúng tôi quyết định lựa chọn thang điểm GAGS này để áp dụng cho nghiên cứu của mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết với tiêu đề "Nghiên cứu nồng độ vitamin D và IL-17 ở bệnh nhân trứng cá sau điều trị isotretinoin" cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa nồng độ vitamin D và IL-17 trong quá trình điều trị trứng cá bằng isotretinoin. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế tác động của vitamin D đối với tình trạng viêm da mà còn mở ra hướng đi mới trong việc tối ưu hóa điều trị cho bệnh nhân. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc theo dõi nồng độ vitamin D có thể là một yếu tố quan trọng trong việc cải thiện hiệu quả điều trị và giảm thiểu tác dụng phụ.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến sức khỏe và điều trị bệnh, hãy khám phá thêm về mật độ xương và tình trạng vitamin D ở trẻ em, hoặc tìm hiểu về genotype HPV ở phụ nữ. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe liên quan.