Chương 1. Cơ sở lý luận về nhu cầu tìm việc làm của sinh viên Chương 2. Thực trạng về nhu cầu tìm việc làm tại thành phố Hà Nội của sinh viên ngành Quản trị nhân lực, Học viện Hành chính Quốc gia 13 Chương 3. Đề xuất giải pháp nâng cao nhu cầu tìm việc làm tại thành phố Hà Nội của sinh viên ngành Quản trị nhân lực, Học viện Hành chính Quốc gia 8.
Đóng góp vÁ mặt lý luÁn Đề tài nghiên cứu hệ thống hoá, bổ sung và làm sâu sắc cơ sở lý luận về nhu cầu tìm việc làm tại thành phố Hà Nội của sinh viên. Trình bày thực trạng, phân tích ảnh hưởng từ các nhân tố tích cực hay tiêu cực tới lựa chọn lại thành phố Hà Nội làm việc của sinh viên. Song đưa ra các dự báo về tình trạng việc làm, các yÁu tố ảnh hưởng đÁn nhu cầu việc làm tại thành phố Hà Nội. KÁt quả nghiên cứu thu được, chỉ ra được tác động các yÁu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tìm việc làm của sinh viên.
Từ đó đưa ra cho sinh viên những giải pháp phù hợp với tình hình thực tiễn. Đóng góp vÁ mặt thāc tißn Đề tài nghiên cứu khoa học khảo sát và đưa ra những số liệu thực tÁ về vấn đề Nhu cầu tìm kiÁm việc làm của sinh viên Khoa Quản trị nguồn nhân lực, Học viện Hành chính Quốc gia. Nhằm hỗ trợ xây dựng các chính sách, giải pháp nhằm phát triển và nâng cao nhu cầu hiệu quả tìm việc phù hợp với sinh viên Học viện. Trên cơ sở khái quát thực trạng, nhóm nghiên cứu đã đề ra được những giải pháp mang tính khả thi nhằm tăng cường nhận thức của sinh viên về vấn đề tìm việc làm; xây dựng các định hướng kÁt hợp với những chương trình được nhà trường giảng dạy giúp đảm bảo triển khai vào thực tiễn và nâng cao năng lực của sinh viên.
C¡ Sâ LÝ LUÀN VÀ NHU CÀU TÌM VIàC LÀM CĂA SINH VIÊN 1. Khái niám nhu cÁu Dòng chảy lịch sử đã chứng kiÁn sự phát triển của loài người từ nguyên thuỷ. Trong hành trình này nhu cầu đóng vai trò không thể phủ nhận. Từ những nhu cầu sinh lý cơ bản đÁn nhu cầu về an toàn và sống ý nghĩa.
Điều này làm nổi bật sự đa chiều và phong phú của khái niệm nhu cầu trong cuộc sống con người. Theo Henrry Musay, khi nghiên cứu về vấn đề nhu cầu khẳng định: "Nhu cầu là một tổ chức cơ động, hướng dẫn và thúc đẩy hành vi". Ông nhấn mạnh rằng nhu cầu không chỉ là các yÁu tố tĩnh lặp lại, mà còn là một hệ thống động đáng kể, liên tục điều chỉnh và thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh. Bằng cách xem xét nhu cầu như một tổ chức, Murray đưa ra quan điểm rằng nhu cầu không chỉ là một yÁu tố đơn lẻ mà là một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều yÁu tố khác nhau.
Nhu cầu không chỉ xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản như sinh tồn hay an toàn mà còn bao gồm các yÁu tố phức tạp như sự tự thể hiện, sự kÁt nối xã hội, và phát triển cá nhân. Thụ động của nhu cầu được nhấn mạnh bởi ý tưởng về việc nhu cầu không chỉ đơn thuần là một trạng thái tĩnh mà còn là một lực lượng động đáng kể. Nhu cầu không chỉ hướng dẫn hành vi mà còn thúc đẩy hành vi của con người. Nó là nguồn động lực mạnh m¿ đằng sau hành động của chúng ta, thúc đẩy chúng ta vượt qua những thách thức và đạt được mục tiêu cá nhân và xã hội.
Khẳng định của Murray về nhu cầu nhấn mạnh sự linh hoạt và thay đổi của chúng. Nhu cầu không phải là một thực thể tĩnh lặp lại mà là một hệ thống động, liên tục điều chỉnh và phản ứng với các yÁu tố nội tại và ngoại vi. Điều này làm cho nhu cầu trở thành một lĩnh vực nghiên cứu phức tạp và đa dạng, đồng thời làm nổi bật sự phong phú và đa chiều của trải nghiệm con người. Theo Ivan Petrovich Pavlov: "Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện tr¿ng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống=.
Câu 15 trích này của Ivan Pavlov nhấn mạnh rằng nhu cầu là một đặc tính của cơ thể sống, thể hiện sự thiÁu hụt của cá thể và phân biệt nó với môi trường sống. Điều này ám chỉ vai trò quan trọng của nhu cầu trong việc duy trì sự sống và tương tác với môi trường. Nhu cầu là cảm giác thiÁu hụt một cái gì đó mà con người có thể cảm nhận được. Là yÁu tố thúc đẩy con người hoạt động.
Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao. Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao s¿ có khả năng kiềm chÁ sự thoả mãn nhu cầu). Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận. Về mặt quản lý, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đÁn hiệu quả làm việc của cá nhân.
Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá nhân. Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiÁu hụt hay mất cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yÁu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiÁn hóa. Nhu cầu chi phối mạnh m¿ đÁn đời sống tâm lý nói chung, đÁn hành vi của con người nói riêng.
Nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội= (Theo wikipedia). Trong giáo trình kinh tÁ vĩ mô 1 (21-22KCVl) trường Đại học Kinh tÁ Quốc dân có nêu khái niệm nhu cầu việc làm như sau : <Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người: là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người cÁ về vật chất và tinh thần để tồn t¿i và phát triển=. Nhu cầu là một khái niệm cốt lõi trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt là kinh tÁ học và tâm lý học. Điểm nhấn trong định nghĩa này là nhu cầu không chỉ đơn thuần liên quan đÁn các yÁu tố vật chất, mà còn liên quan đÁn yÁu tố tinh thần.
Trong kinh tÁ học, nhu cầu thường là động lực thúc đẩy sự vận động của thị trường. Khi người tiêu dùng có nhu cầu, họ sẵn sàng mua sắm hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ để thỏa mãn những mong muốn của mình. Điều này dẫn đÁn sự hình thành của cung và cầu trong thị trường, và từ đó thúc đẩy hoạt động kinh tÁ. Khái niệm nhu cầu cũng có sự đa dạng và 16 phân cấp.
Một số nhu cầu là cơ bản, chẳng hạn như nhu cầu về thực phẩm, nước uống, và nơi ở, nhằm đảm bảo sự tồn tại. Các nhu cầu khác, như tình yêu, sự tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện, thuộc về khía cạnh tinh thần và góp phần vào sự phát triển cá nhân và xã hội. Theo tháp nhu cầu của Maslow, nhu cầu có thể được sắp xÁp từ các nhu cầu cơ bản cho đÁn những nhu cầu cao hơn như tự thể hiện và tìm kiÁm ý nghĩa cuộc sống. Tầm quan trọng của nhu cầu còn nằm ở chỗ nó có thể thay đổi theo thời gian và theo bối cảnh văn hóa xã hội.
Các yÁu tố như công nghệ, môi trường kinh tÁ, và xu hướng xã hội đều có thể ảnh hưởng đÁn cách con người hình thành nhu cầu và cách họ tìm cách thỏa mãn chúng. Do đó, nhu cầu không chỉ là một khái niệm tĩnh, mà luôn biÁn đổi và phát triển cùng với sự thay đổi của môi trường sống và tiÁn bộ xã hội. Tóm lại, nhu cầu là một hiện tượng tâm lý phức tạp, kÁt hợp cả yÁu tố vật chất và tinh thần, và đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sự tồn tại và phát triển của con người. Bằng cách hiểu rõ khái niệm này, chúng ta có thể có cái nhìn sâu sắc hơn về hành vi con người cũng như các cơ chÁ vận hành của thị trường và nền kinh tÁ.
Dựa theo khái niệm đầy đủ và hoàn chỉnh nhất trong giáo trình kinh tÁ vĩ mô 1, trường Đại học Kinh tÁ Quốc dân nhóm nghiên cứu chúng tôi đưa ra khái niệm nhu cầu của mình như sau: "Nhu cầu là tr¿ng thái tâm lý biểu thị những đòi hỏi, mong muốn và nguyện vọng của con người nhằm thỏa mãn cÁ yếu tố vật chất lẫn tinh thần. Đòi hỏi đề cập đến các nhu cầu thiết yếu như thức ăn, nước uống, và nơi ở; mong muốn là kỳ vọng về chất lượng cuộc sống cao hơn; nguyện vọng hướng đến các mục tiêu lý tưởng trong phát triển cá nhân. Nhu cầu là nền tÁng cho sự tồn t¿i và phát triển bền vững. Khái niám viác làm Đứng trên nhiều nghiên cứu khác nhau <việc làm= được định nghĩa theo rất nhiều cách, nhiều phương diện và nhiều quan niệm.
Tổ chức lao động quốc tÁ (ILO) đưa ra khái niệm : <Việc làm là những ho¿t động lao động được trÁ công bằng tiền và bằng hiện vật=. < Việc làm là ph¿m trù để chỉ tr¿ng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết ( vốn, tư liệu sÁn xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó=. Là 17 khái niệm được đưa ra trong giáo trình Kinh tÁ lao động của trường Đại học Kinh tÁ quốc dân Hà Nội [tr. Theo Đại từ điển Kinh tÁ thị trường: <Việc làm là hành vi của nhân viên, có năng lực lao động thông qua hình thức nhất định kết hợp với tư liệu sÁn xuất để được thù lao hoặc thu nhập kinh doanh=.
Trong từ điển tiÁng Việt việc làm được định nghĩa là : <Một danh từ có hành động cụ thể, là công việc được giao cho làm thường ngày và được trÁ công= [tr. Khái niệm này mang hàm nghĩa tương đối rộng, tuy nhiên có một thuật ngữ chưa mang tính phổ biÁn và còn mang tính chất công việc đó là <được giao=. Vì trên thực tÁ người làm việc hoàn toàn có thể tự tạo ra việc làm cho chính mình, thậm chí là cho cả người khác.