CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Mitchell, F. (2000), thấy rằng mối quan hệ giữa lợi ích - chi phí và mức độ cạnh tranh của thị trường là 2 nhân tố ảnh hưởng đến KTQTCP. Nhân tố mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí cho thấy nhà quản trị luôn mong muốn đạt được các mục tiêu về kiểm soát, tiết kiệm chi phí để đạt được lợi nhuận tối đa, việc vận dụng KTQTCP nhằm xem xét tính hiệu quả trong việc sử dụng chi phí ở từng giai đoạn, từng bộ phận, đảm bảo lợi ích từ việc bỏ ra chi phí đến hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, việc cung cấp thông tin chi phí luôn được nhà quản lý DN quan tâm trong từng phần hành, các cấp quản lý, khi xem xét vận dụng luôn đặt mục tiêu chi phí bỏ ra phải đảm bao mang lại lợi ích cho DN, luôn đặt mục tiêu tiết kiệm, kiểm soát chặt chẽ để tối đa hoá lợi nhuận, đơn giản hoá bộ máy DN, loại bỏ các hoạt động không cần thiết, kém hiệu quả, các thông tin cung cấp cho nhà quản trị phải đơn giản, chính xác, và phải là thông tin hữu ích nhất.
Nhân tố mức độ cạnh tranh của thị trường: thị trường càng cạnh tranh thúc đẩy DN càng phải liên tục đổi mới để tồn tại và phát triển, mức độ cạnh tranh cho thấy sự quan tâm chú trọng của DN trong việc tìm hiểu về nhu cầu của khách hàng thay đổi như thế nào, kết hợp với nguồn lực của công ty để đạt được hiệu quả kinh doanh tối ưu nhất, việc thúc đẩy mức độ cạnh tranh thị trường là cuộc cách mạng trong quá trình cạnh tranh, đổi mới và sáng tạo với các kỹ thuật, công nghệ ngày càng hiện đại, nhận thức được mức độ ảnh hưởng của nhân tố này giúp cho DN tìm ra được các nguyên nhân cải thiện và nâng cao công tác quản lý sao cho phù hợp. (2001), nhận định 2 nhân tố mức độ cạnh tranh của thị trường, và nhân tố đặc thù của ngành nghề kinh doanh, ảnh hưởng sâu sắc đến công tác quản trị chi phí. Cùng quan điểm với Abdel-Kader and Luther, R. (2006), nhân tố mức cạnh tranh của thị trường có tác động đến KTQTCP, mức độ cạnh tranh thị trường là việc DN nghiên cứu, tìm hiểu các thông tin, kiến thức để hoàn thành các mục tiêu được đề ra, nhân tố này cũng ảnh hưởng đến các hoạt động tài chính, các chiến lược trong quản lý chi phí, sự cạnh tranh càng cao thúc đẩy DN 4 không ngừng đổi mới và hoàn thiện để có thể tồn tại và phát triển trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh.
Nhân tố đặc thù ngành nghề kinh doanh: mỗi ngành nghề đều có đặc điểm về cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh khác nhau, chính vì thế việc nhận thức và vận dụng cách quản trị chi phí, phương pháp quản lý hay cách phân bổ chi phí cũng sẽ khác nhau, các thông tin từ KTQTCP được xem xét trong mối quan hệ giữa kế toán và các cấp quản lý, nhân tố này ảnh hưởng đến sự phát triển của DN do mỗi ngành khác nhau sẽ ảnh hưởng đến việc phân loại và ghi nhận chi phí, trong quá trình kinh doanh mối quan hệ giữa kế toán và các bộ phận khác phải được xem xét cụ thể, tất cả các khâu đều có mối quan hệ tương trợ lẫn nhau tạo thành một thể thống nhất, mỗi DN đều có ngành nghề kinh doanh riêng, nguồn nguyên liệu đầu vào có giá trị quá cao, hoặc trải qua nhiều giai đoạn chế biến, đòi hỏi DN phải hiện đại hoá từ trong quá trình sản xuất đến khâu quản lý, áp dụng các khoa học kỹ thuật hiện đại, hoặc các ngành nghề không sản xuất nhưng liên quan đến tài chính, kinh doanh dịch vụ, chịu tác động mạnh từ các quy định, chính sách, đòi hỏi nhà quản lý DN phải được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, nhanh chóng để đạt được các mục tiêu của cơ quan nhà nước, nhân tố này ảnh hưởng đến việc nhận dạng, phân loại và hạch toán chi phí theo đúng ngành nghề hoạt động của DN. (2003), nhận thấy nhân tố ứng dụng công nghệ thông tin trong KTQTCP có ảnh hưởng lớn đến việc ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chi phí, giúp DN đạt được các mục tiêu được đề ra. Khoa học kỹ thuật hay công nghệ thông tin giúp cải thiện việc xử lý, cung cấp số liệu kịp thời và đầy đủ cho nhà quản trị, áp dụng công nghệ vào việc đồng bộ hoá bộ máy hoạt động của DN là việc rất cần thiết, từ sản xuất đến quản lý, giúp quá trình xử lý thông tin được nhanh chóng, các số liệu được báo cáo chính xác theo đúng thực trạng hoạt động, giúp hướng tới việc quản trị từ xa, giải quyết các khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả DN. (2003), nhận định các nhân tố như mức độ cạnh tranh của thị trường cho thấy sự cạnh tranh càng lớn giữa các DN thúc đẩy DN phải luôn 5 tìm cách đổi mới, hoàn thiện để tồn tại và phát triển, tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của DN từ khách hàng, đối thủ cạnh tranh, áp dụng thực tại cho DN mình để có thể đáp ứng tối đa yêu cầu của khách hàng.
Nhân tố mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí đều ảnh hưởng đến công tác KTQTCP của DN, với quan điểm chi phí bỏ ra phải mang lại lợi nhuận nhất định cho DN, DN kiểm soát, tiết giảm chi phí để tối đa hoá lợi nhuận, việc tìm kiếm, phát hiện các chi phí không cần thiết để loại bỏ, nhà quản trị cần phải được cung cấp thông tin từ KTQTCP chính xác, kịp thời cho việc ra quyết định xử lý các chi phí không cần thiết để tối đa hoá lợi nhuận cho DN. (2004), nhận định có 3 nhân tố ảnh hưởng đến KTQTCP gồm: chiến lược kinh doanh, trình độ nhân viên kế toán trong DN, phương pháp thực hiện. Nhân tố chiến lược kinh doanh: quyết định của các nhà quản lý là yếu tố quan trọng trong việc thực hiện các chiến lược kinh doanh, việc thực hiện quản lý chi phí trong chiến lược kinh doanh là yếu tố quan trọng hàng đầu của nhà quản trị DN, các quyết định trong chiến lược kinh doanh của quản lý ảnh hưởng đến việc thực hiện chi phí, mong muốn cuối cùng của nhà quản trị luôn là tối đa hoá lợi nhuận, nên cần xem xét việc sử dụng chi phí vào các mục tiêu được đề ra. Nhân tố trình độ nhân viên kế toán trong DN là khả năng, trách nhiệm và đạo đức của nhân viên kế toán trong việc thực hiện các nghiệp vụ, dự đoán được khả năng và hiệu quả trong công việc, hay trình độ là các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, và tính cách, những khả năng này đều có tác động lớn đến công tác KTQTCP của DN, việc luôn nâng cao năng lực bản thân đều có ảnh hưởng đến việc kiểm soát chi phí.
Nhân tố phương pháp thực hiện: đồng quan điểm với Lawson, cần có sự kết hợp giữa các phương pháp, phụ thuộc vào việc thiết kế phương pháp của từng DN, sẽ giúp cho hệ thống kiểm soát chi phí đạt được hiệu quả tối ưu nhất. Abdel-Kader and Luther, R. (2006), chỉ ra rằng nhân tố nguồn lực khách hàng ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQTCP, nhu cầu khách hàng càng tăng, sức cạnh tranh trên thị trường càng lớn, đòi hỏi DN cần phải có những quyết định sáng suốt, tăng cường việc kiểm soát chi phí để đưa ra được mức giá bán phù hợp, thoả mãn nhu cầu của khách hàng, nhà quản lý phải vận dụng KTQTCP để 6 cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu khách hàng và các chiến lược của đối thủ cạnh tranh tác động mạnh đến quyết định của DN, các nhu cầu này càng đa dạng, phong phú thì nhà quản trị cần phải có những thông tin về KTQTCP càng nhanh, càng chính xác, để kịp thời đưa ra các quyết định trong quá trình quản lý điều hành DN. (2010), xác định có 2 nhân tố ảnh hưởng đến KTQTCP gồm: chiến lược kinh doanh, phương pháp thực hiện.
Nhân tố chiến lược kinh doanh: các nhà quản lý phải xem xét các chi phí liên quan đến mục tiêu cần thực hiện trong các chiến lược kinh doanh đã được đề ra, hành động và chiến lược luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau, chi phí được kiểm soát tốt giúp nhà quản lý điều hành hiệu quả đồng thời nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường. Nhân tố phương pháp thực hiện: có nhiều phương pháp kiểm soát chi phí khác nhau, mỗi DN có thể thực hiện các phương pháp khác nhau để thực hiện các tình huống cụ thể phù hợp với DN mình, tất cả đều tập trung vào việc quản lý, điều tiết và kiểm soát chi phí, phải kết hợp giữa các phương pháp, tuỳ vào từng điều kiện, mà DN chủ động thiết lập các phương pháp, sẽ giúp cho DN nâng hiệu quả hoạt động, tuỳ vào loại hình DN, để nâng cao hiệu quả quản lý cần kết hợp phương pháp với sự lựa chọn phương pháp sao cho phù hợp với tình hình thực tế của DN. Ulf Diefenbach, Andreas Wald, Ronald Gleich (2018), xác định có 4 nhân tố ảnh hưởng đến KTQTCP gồm: tổ chức bộ máy quản lý, nhu cầu thông tin, phương pháp thực hiện, văn hoá trong DN. Nhân tố tổ chức bộ máy quản lý: việc kiểm soát chi phí được phản ánh trong tổ chức bộ máy quản lý và các quy trình, quy định, cũng như các trách nhiệm cụ thể, hệ thống kiểm soát chi phí được thiết kế phân cấp hoặc tập trung, hoạt động DN phải được tiêu chuẩn và kiểm soát chặt chẽ, giúp nhà quản trị đánh giá, và xem xét cắt giảm, hoặc điều tiết chi phí ở quy trình nào cho phù hợp.
Nhân tố nhu cầu thông tin: việc cung cấp thông tin trong KTQTCP là điều kiện tiền đề để các nhà quản lý lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra kế hoạch bằng cách trong quá trình thực hiện căn cứ vào thông tin được cung cấp từ KTQTCP, nhà quản lý ra các quyết định điều chỉnh, hoặc xử lý nhằm 7 mục đích đạt được mục tiêu, chính vì thế chất lượng thông tin cung cấp quyết định đến chất lượng của các giải pháp được đưa ra.