chương 1, tác giả sẽ trình bày những nội dung sau đầy: (1) Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài; (2) Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài Các nghiên cứu liên quan đến việc vận dụng KTQT trong các DN có thể tóm tắt ở một số mảng như sau: Thứ nhất, các nghiên cứu tổng thể liên quan về sự thay đổi và nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi trong việc vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp (DN) nói chung qua các giai đoạn phát triển của KTQT. Theo Hiệp hội kế toán quốc tế (IFAC) (1998) nghiên cứu về quá trình phát triển của KTQT chia làm 4 giai đoạn.
Giai đoạn 1 (trước 1950) với nội dung chính là xác định chi phí và kiểm soát tài chính của DN. Giai đoạn 2 (1950-1960) với nội dung chính là cung cấp thông tin và kiểm soát chi phí. Giai đoạn 3 (1970-1980) với nội dung giảm lãng phí và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả. Giai đoạn 4 (1980 đến nay) tạo ra giá trị doanh nghiệp bằng cách sử dụng các nguồn lực đạt hiệu quả.
Năm 2013 tác giả Gary Cokin tiếp tục nghiên cứu sự phát triể của KTQT sẽ rẻ sang xu hướng phân tích và dự báo. Trên cở sở các số liệu của quá khứ (do kế toán tài chính cung cấp), DN so sánh, đánh giá và dự báo trong tương lai về mục tiêu, chiếc lược kinh doanh. Và trong kỷ nguyên phân tích dự báo này, tác giả đã tổng hợp 7 (bảy) xu hướng chính của KTQT bao gồm: (1) Phân tích sản phẩm sang kênh phân phố sản phẩm; (2) Nâng cao vai trò của KTQT trong việc nâng cao hiệu suất DN; (3) Tăng cường nội dung kế toán dự báo; (4) Phân tích trong kinh doanh; (5) Sử dụng nhiều phương pháp KTQT; (6) Ứng dụng công nghệ thông tin; (7) Quản lý chi phí. Tại Châu Âu, có các công trình tiêu biểu về KTQT như sau: Công trình nghiên cứu về thức ăn và nước giải khát tại nước Anh năm 2006 của tác giả Abdel-Kader và Luther.
Tác giả cho rằng doanh nghiệp cần áp dụng các kỹ thuật KTQT tiên tiến để cung cấp thông tin một cách đầy đủ nhất để phân tích về DN và so sánh với các đối thủ cạnh tranh. Những nghiên cứu KTQT tại Châu Âu hầu hết đều nhấn mạnh nội dung: phân loại chi phí, kiểm soát, quản lý và cung cấp thông tin cho nhà quản trị DN. 7 Nhóm tác giả Bruggeman et al. (1996), O‘Dea (1998), Pierce và O‘Dea (1998) có cùng quan điểm khi DN sử dụng các công cụ truyền thống KTQT vẫn được tuy nhiên cần bổ sung các kỹ thuật KTQT hiện đại như kỹ thuật quản trị mới ABC, kế toán chi phí mục tiêu.
Tuy nhiên, nhóm tác giả cho rằng các kỹ thuật tiên tiến đóng vai trò bổ trợ chứ không phải thay thế toàn bộ các kỹ thuật truyền thống. Tiếp đến, tác giả Hyvonen (2007), tác giả nghiên cứu việc vận dụng KTQT vào DN với mục tiêu là đo lường các chỉ số tài chính và kiểm soát chi phí còn bổ sung thêm việc đo lường các chi tiêu phi tài chính như sự hài lòng khách hàng, thái độ của khách hàng,… Tại các nước Châu Á – Thái Bình Dương có các công trình nghiên cứu về KTQT như sau: Tại Nhật năm 1991 công trình về KTQT củ tác giả Scarbrough et al., tác giả khuyến khích vận dụng nhiều công cụ kỹ thuật hiện đại của KTQT như TQC, TPM, JIT, VE và ROS sẽ cung cấp cho nhà quản trị nhiều thông tin phục vụ cho quá trình phân tích, kiểm soát chi phí. Trần Ngọc Hùng (2016) cho rằng cần vận dụng các kỹ thuật hiện đại KTQT trong quá trình phân tích và cung cấp thông tin chi phí trong quá trình ra quyết định vì nó có ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Là một trong những người tiên phong, Simmonds (1981, 16) đã khái niệm SMA theo hướng KTQT phát triển và hỗ trợ cho quản trị chiến lược, có nghĩa SMA là “… việc cung cấp và phân tích dữ liệu KTQT về một DN và các đối thủ cạnh tranh của nó để sử dụng và kiểm soát chiến lược doanh nghiệp”.
Theo đó sự phát triển của SMA để đáp ứng cho nhu cầu quản trị nhằm đạtđến sự thành công và “…đạt được một lợi thế cạnh tranh bền vững”. Sau này ngày càng nhiều học giả tiếp tục phát triển nghiên cứu chuyên sâu của SMA trong ứng dụng và liên kết của kế toán và chiến lược trong thực tiễn Slagmulder (1997) đã tiến hành việc nghiên cứu lý thuyết nền tảng nhằm mục đích tìm hiểu cách hệ thống kiểm soát quản lý hỗ trợ việc ra quyết định đầu tư chiến lược và phù hợp với chiến lược của DN. Nhóm tác giả (Naranjo and Hartman, 2006) cho rằng: “những hệ thống KTQT được sử dụng để khắc phục những khó khăn này cũng như hỗ trợ sự thay đổi chiến lược”. Trong giai đoạn này, tác giả Simonds (1981) giới thiệu khái niệm về SMA, và đồng thời Shank và Govindarajan (1993) cũng phát triển ý tưởng về quản trị chi phí chiến lược.
Theo đó, quản trị chi phí chiến lược được khái niệm là “sự quản trị việc sử dụng các thông tin chi phí một cáchdứt khoát tại một hoặc nhiều hơn trong bốn giai đoạn của chu 8 kỳ quản trị chiến lược bao gồm: tạo lập chiến lược, truyền đạt chiến lược trong DN, phát triển và thực hiện các sách lược để ứng dụng chiến lược, phát triển và vận dụng các thủ tục kiểm soát nhằm giám sát mức độ thành công của các bước ứng dụng cũng như đạt được các mục tiêu của chiến lược”. Theo Shank và các cộng sự, quản trị chi phí chiến lược là sự tích hợp bởi ba nhân tố: (1) Các nhân tố bên ngoài tác động đến DN nhằm mục đích quản trị chi phí hiệu quả, (2) Vai trò của kế toán chi phí trong một DN; (3) Các tiêu thức phân bổ chi phí thuộc về hai mảng: cấu trúc và hoạt động của tổ chức. Alawattage và Wickramasingh (2007) cũng đã đưa ra nhận xét dựa trên nghiên cứu của mình rằng sự thay đổi trong KTQT như một phương pháp nghiên cứu để hiểu phương thức tác động của các nhân tố bên ngoài làm thay đổi quá trình định hướng trong nội bộ DN. Theo họ, tiến trình thay đổi thể hiện và phản ánh vấn đề là các công cụ kỹ thuật KTQT được nêu bật lên, vận dụng và thay đổi như thế nào trước những yêu cầu thay đổi của môi trường nơi DN hoạt động.
Theo Laitinen (2003), các nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của KTQT được dán nhãn là “các nhân tố đóng vai trò động cơ thúc đẩy”, và được các nhà nghiên cứu liệt kê cụ thể như các nhân tố khuyến khích sự thay đổi (ví dụ như sự cạnh tranh của thị trường, cấu trúc DN, công nghệ sản xuất sản phẩm); các chất xúc tác cho sự thay đổi (ví dụ như sự yếu kém về chỉ số tài chính, sự sụt giảm về thị phần, sự thay đổi của tổ chức.); các nhân tố làm cho quá trình thay đổi dễ dàng (ví dụ như nguồn nhân lực kế toán, mức độ về tự trị, yêu cầu về kế toán …). Sự tương tác giữa các nhân tố nói trên khuyến khích sự thay đổi không chỉ lĩnh vực KTQT mà còn các lĩnh vực khác có liên quan như cấu trúc và chiến lược của DN. Laitinen (2003) đã sắp xếp các nhân tố này vào sáu nhóm khác nhau bao gồm: nhu cầu thông tin, thay đổi về công nghệ và môi trường, sự sẵn sàng thay đổi, nguồn lực để thay đổi, mục tiêu của sự thay đổi và các yêu cầu từ bên ngoài. Ngoài ra tác giả cũng sử dụng bốn loại hạng mục khác nhau của các nhân tố để giải thích sự thay đổi của KTQT bao gồm: các nhân tố của DN, các nhân tố tài chính, các nhân tố thúc đẩy và các kỹ thuật quản trị (Laitinen, 2003).
Sự thay đổi ở môi trường kinh doanh và công nghệ được sử dụng như là các nhân tố khuyến khích trong việc giải thích sự thay đổi của KTQT và sự thay đổi của các nhân tố khác của DN như cấu trúc và chiến lược. Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra sự kết hợp chặt chẽ giữa các nhân tố tác động qua về lẫn nhau theo dây chuyền và nguyên nhân - kết quả khi xem xét sự thay đổi của KTQT. Ví dụ như ba nhân tố được xem xét ở đây là các nhân tố thúc đẩy, nhân tố của 9 DN và nhân tố tài chính: sự thay đổi trong môi trường và công nghệ được xem như là các nhân tố thúc đẩy để giải thích sự thay đổi của KTQT và các nhân tố khác của DN như cấu trúc và chiến lược. Và bên cạnh đó, các nhân tố cấu trúc và chiến lược của DN lại có mối liên hệ với KTQT trong cùng bối cảnh thay đổi.
Còn đối với các nhân tố tài chính thì đóng vai trò là sản phẩm đầu ra đối với sự thay đổi của KTQT và cấu trúc DN. Bằng nghiên cứu của mình Grandlund (2001) đã chỉ ra rằng các chỉ số tài chính yếu kém có thể đặt áp lực kinh tế lên DN để buộc DN có những sự thay đổi về việc vận dụng các kỹ thuật KTQT nhằm tạo ra một hiệu quả làm việc cao hơn. Và cũng đồng quan điểm đó, Baines và Langfield-Smith (2003) chỉ ra rằng nếu sự thay đổi của KTQT dựa trên những thông tin kế toán đáng tin cậy sẽ tạo ra sự cải thiện về thành tích của DN. Và điều đó cũng có nghĩa là các thành tích về tài chính cũng là các chỉ báo sớm hay kết quả đầu ra của sự thay đổi về KTQT.
Trong một nghiên cứu tổng hợp các nghiên cứu thực tiễn tiến hành tại Úc, Anh và Mỹ, Lobo et al. (2004) đã xác định vai trò của các nhân tố (nhân tố thuộc về môi trường bên ngoài và nhân tố thuộc về DN) tác động đến sự thay đổi của KTQT như sau: - Nhân tố thuộc về môi trường bên ngoài: sự toàn cầu hóa của các thị trường, sự tiến bộ của thông tin và các công cụ kỹ thuật sản xuất, sự gia tăng cạnh tranh. - Nhân tố thuộc về DN: năng lực, mối quan hệ với các khách hàng và các nhà cung ứng, sự giảm biên chế, sự gia công, sự phẳng hóa về cấu trúc DN và sự hợp tác đồng đội trong DN.