LỜI MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Ngoài những giá trị cố hữu của lao động, trong mỗi ngƣời lao động đều tiềm ẩn những giá trị riêng, tính đặc trƣng cho con ngƣời họ, nhƣng không phải ngƣời chủ lao động nào cũng biết cách tạo điều kiện cho những giá trị riêng đó phát huy tối đa, nhằm nâng cao năng suất lao động từ bên trong mỗi cá nhân. Chính vì vậy mà ngành quản trị nhân lực mới ra đời, với mục đích nghiên cứu đƣa ra những quy luật và phân tích những nhân tố tác động tới tâm lý và mong muốn của ngƣời lao động trong tổ chức của mình. Từ những năm 50 của thế kỷ trƣớc, các nhà kinh tế đã nghiên cứu và trình bày các học thuyết về cơ sở tạo động lực cho ngƣời lao động, nhƣng đến tận bây giờ vấn đề ấy vẫn chƣa đƣợc quan tâm đúng mức, bởi nhà quản trị vẫn chƣa nhìn nhận thấy tầm quan trọng của nó đối với sự tồn tại và phát triển của một tổ chức.
Con ngƣời – nhân tố đƣợc coi là giá trị cốt lõi trong sự vận hành hiệu quả của mọi tổ chức, cũng với ý nghĩa đó mà câu hỏi đặt ra cho nhà quản trị là: làm thế nào để ngƣời lao động phát huy đƣợc tối đa những phẩm chất, năng lực của mình từ đó nâng cao năng suất lao động, làm tiền đề để tổ chức phát triển bền vững trong tƣơng lai. Đây là một phạm trù trừu tƣợng vì nó liên quan tới quan hệ kinh tế đồng thời cũng tác động đến các phạm trù tâm lý học với các đối tƣợng riêng lẻ khác nhau là khác nhau. Do đó để có thể thống nhất đƣợc các cá nhân trong tổ chức lại với nhau theo một mục tiêu chung của tổ chức thì phải có những phƣơng pháp và cách thức thật khéo léo, không chỉ về mặt kinh tế mà còn về môi trƣờng làm việc, phong cách của nhà quản trị tác động vào các nhu cầu đặt ra cho ngƣời lao động, cũng nhƣ đặt ra cho chính bản thân mình – là một ngƣời lao động. Vì thế, đơn vị nào biết tác động vào những nhân tố đó thì đã đạt đƣợc những thành công nhát định trong việc kích 2 thích ngƣời lao động làm việc, cống hiến cho tổ chức, đây là cũng mục đích cuối cùng và quan trọng nhất của tất cả các tổ chức kinh tế trên con đƣờng phát triển bền vững.
Chính sách tạo động lực đang ngày đƣợc quan tâm và chú trọng nhiều hơn, các đơn vị từ công lập đến dân lập, sản xuất hay thƣơng mại đều từng bƣớc xây dựng chính sách, môi trƣờng lao động xoay quanh việc lấy ngƣời lao động làm trung tâm, thống nhất mục tiêu của ngƣời lao động theo mục tiêu chung của tổ chức, xây dựng tổ chức ngày càng phát triển. Ngƣợc lại, ngƣời lao động sẽ đƣợc hƣởng những phần thƣởng xứng đáng về cả vật chất và tinh thần từ những đóng góp, cống hiến của mình vào sự phát triển của tổ chức. Nhƣ vậy, xét về bản chất chính sách tạo động lực cho nguồn nhân lực là tác động vào các nhân tố ảnh hƣởng tới động lực làm việc của ngƣời lao động trên cơ sở nhu cầu cá nhân tiến tới đem lại lợi ích cho tổ chức – là mối quan hệ mà cả ngƣời lao động và tổ chức cùng có lợi. Liên quan đến vấn đề “Động lực làm việc của ngƣời lao động và tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động” đã có nhiều tác giả tiếp cận ở các góc độ khác nhau.
Một vài công trình nghiên cứu liên quan đến động lực làm việc của ngƣời lao động tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động trong thời gian qua nhƣ: Luận án tiến sĩ “Giải pháp tạo động lực cho lao động quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước ở Hà Nội và ở Việt Nam đến năm 2020” của Vũ Thị Uyên (Trƣờng Đại học kinh tế quốc dân, 2008) đã tiến hành khảo sát về nhóm đối tƣợng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp nhà nƣớc, lao động quản lý đang làm việc trong các doanh nghiệp nhà nƣớc và lao động có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thuộc nhiều ngành kinh tế. Phạm vi khảo sát của luận án tập trung chủ yếu vào một số doanh nghiệp nhà nƣớc tại Hà Nội hoạt động trong một số ngành cơ bản nhƣ công nghiệp, xây dựng, giao thông, thƣơng 3 mại và dịch vụ trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2006. Luận án phân tích về nhu cầu, sự thỏa mãn, cách phát triển nhu cầu mới nhằm tăng động lực cho lao động quản lý trong các doanh nghiệp Nhà nƣớc ở Hà Nội. Luận án chỉ ra những ƣu, nhƣợc điểm của biện pháp tạo động lực đang đƣợc áp dụng trong các doanh nghiệp này, chỉ ra các nguyên nhân tồn tại ảnh hƣởng đến động lực làm việc của lao động quản lý.
Tuy nhiên, luận án không đi sâu về tìm hiểu các nhân tố có ảnh hƣởng trực tiếp tới nhu cầu và sự thỏa mãn của ngƣời lao động. Đồng thời luận án chú trọng đến sự bao quát trong nhóm các doanh nghiệp nhà nƣớc tại Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp nhà nƣớc tại Hà Nội nói riêng chứ không đƣa ra một doanh nghiệp cụ thể nào để phân tích. Luận văn thạc sỹ: “Hoàn thiện công tác tạo động lực ở Công ty TNHH cửa sổ nhựa Châu Âu (Euro Window)” của Đỗ Thị Thu (Trƣờng Đại Học KTQD, 2008). Trong luận văn, tác giả đã đƣa ra khá đầy đủ và chi tiết cơ sở lí luận về công tác tạo động lực lao động trong doanh nghiệp.
Tuy nhiên, khi đi sâu về phân tích thực trạng tác giả mới chỉ đƣa ra các chính sách, chế độ đang thực hiện tại Công ty, chứ chƣa đi sâu vào phân tích thực trạng đó có tạo động lực cho nhân viên công ty đó hay không. Vì vậy, những đánh giá thực trạng về công tác tạo động lực tại công ty TNHH cửa sổ nhựa Châu Âu Euro Window chƣa cụ thể và sâu sắc. Do chƣa có sự phân tích và đánh giá một cách chi tiết và cụ thể về thực trạng tạo động lực tại Công ty Euro Window nên các giải pháp tác giả đƣa ra còn mang tính chất chung chung, khái quát và chƣa có sức thuyết phục. Và mỗi công ty cũng có những đặc điểm rất riêng ảnh hƣởng đến các biện pháp tạo động lực lao động.
Luận văn thạc sỹ: “Tạo động lực cho ngƣời lao động tại công ty cổ phần thiết bị nâng Việt Nam” của Đoàn Xuân Hậu (Trƣờng Đại học KTQD, 2010). Trong phần lý luận của luận văn, tác giả tập trung phân tích các học thuyết tạo động lực. Luận văn phân tích thực trạng tạo động lực lao động 4 thông qua các kích thích vật chất và phi vật chất. Kết quả nghiên cứu phân tích thực trạng tạo động lực lao động của công ty và kết quả phân tích từ kết quả khảo sát điều tra tách biệt ra thành hai phần riêng biệt.
Tác giả luận văn cũng chƣa khảo sát điều tra các loại nhu cầu của ngƣời lao động. Luận văn đƣa ra năm giải pháp nhƣng các giải pháp này chƣa thống nhất với phần cơ sở lí thuyết và thực trạng của công tác tạo động lực lao động. Luận văn chỉ nghiên cứu công tác tạo động lực cho ngƣời lao động trực tiếp tham gia sản xuất tại công ty cổ phần thiết bị nâng Việt Nam. Luận văn thạc sỹ: “Tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động ở công ty cổ phần cơ điện Uông Bí-TKV” của Lê Tuấn Anh (Trƣờng Đại Học KTQD, 2009).
Luận văn phân tích thực trạng tạo động lực cho ngƣời lao động thông qua các kích thích vật chất và phi vật chất, chƣa phân tích vào việc tạo động lực cho ngƣời lao độngqua công tác xác định nhiệm vụ và tiêu chuẩn thực hiện công việc. Tác giả luận văn phân tích sâu các biện pháp tạo động lực mà công ty đang thực hiện, và chƣa tìm hiểu phân tích kỹ những đánh giá của ngƣời lao động về công tác tạo động lực. Luận văn thạc sỹ: “Hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại công ty cổ phần FPT SOFTWARE” của Dƣơng Thị Ánh Nguyệt (Trƣờng Đại Học KTQD, 2011). Trong phần lý luận của luận văn, tác giả tập trung phân tích cơ sở các biện pháp tạo động lực.
Luận văn chƣa phân tích đƣợc các loại nhu cầu của ngƣời lao động, các giải pháp đƣa ra còn chung chung, phần các giải pháp chủ yếu đƣa ra các điểm hạn chế mà Công ty chƣa làm đƣợc. Trong luận văn sử dụng phƣơng pháp điều tra mẫu để phân tích các đánh giá của ngƣời lao động, tuy nhiên lao động trong công ty là những lao động gián tiếp, điều này do lĩnh vực ngành nghề của Công ty cổ phần FPT SOFTWARE. Luận văn đề cập đến tất cả ngƣời lao động tại Công ty cổ phần FPT SOFTWARE, tuy có điểm tƣơng đồng với luận văn của tác giả nhƣng 5 mỗi công ty cũng có những đặc điểm rất riêng ảnh hƣởng đến các biện pháp tạo động lực cho ngƣời lao động. Các nghiên cứu trên chủ yếu đã phác họa ra một số thực trạng, dựa trên những số liệu thống kê hay kết quả điều tra xã hội học và đƣa ra một số biện pháp về tạo động lực cho ngƣời lao động.
Tuy nhiên do đối tƣợng nghiên cứu là khác nhau và đặc điểm lao động tại mỗi công ty cũng không giống nhau, nên không hoàn toàn áp dụng đƣợc ở các doanh nghiệp khác nhau. Lĩnh vực Ngân hàng nói chung và tại Trung Tâm Thẻ - Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam nói riêng có nhiều đặc thù riêng so với các doanh nghiệp khác và do đó lao động làm việc tại đây cũng có những đặc điểm rất riêng cần đƣợc nghiên cứu. Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam (Vietinbank) là ngân hàng số một của hệ thống ngân hàng Việt Nam, cung cấp sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng hiện đại, tiện ích, tiêu chuẩn quốc tế. Vietinbank luôn coi nguồn nhân lực là nhân tố cốt lõi và là tài sản quý giá của ngân hàng.
Chính vì vậy, chính sách nhân sự tại đây đƣợc xây dựng với mục đích biến nguồn nhân lực trở thành một ƣu thế cạnh tranh hàng đầu của Vietinbank. Là một đơn vị sự nghiệp thuộc Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam, Trung Tâm Thẻ trong những năm vừa qua luôn là đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đƣợc giao, đi đầu trong hoạt động kinh doanh của Vietinbank.